Bản chính về công thần ở Bộ Lễ triều ta.
Bộ thứ ba, thuộc loại Thủy, chi Cấn.
Nước Việt xưa, trời nam mở vận, thánh tổ ra gánh vác cơ đồ, trải qua 18 đời xây dựng nghiệp thánh để minh vương. Non xanh ngàn dặm tạo nền móng cung điện kinh đô, mở mang muôn vật, giúp đỡ người dân, thống lãnh 15 bộ, thế như cánh chim che chở, nối theo ngôi báu, gánh vác cơ đồ, các bậc đế vương trị vì đất nước hơn 3 ngàn năm vững như bàn thạch. Núi Nghĩa Lĩnh hiển ứng linh thông, các bậc phụ quốc công thần, công lao trung nghĩa, phụng sự nhà vua, nhân dân, tuy mất nhưng sự tích vẫn còn, tên tuổi mãi cùng với [16] núi sông, trường tồn như vầng nhật nguyệt.
Người đời sau có bài thơ rằng:
Lịch Nam thiên vận sáng khai trung,
Thập bát tương truyền độc kiến hùng,
Để đức nguy nguy đồng hậu đại,
Ức niên nhật nguyệt phối tương đồng.(Trải các đời khai sáng nước Nam,
Mười tám đời vua toàn bậc anh hùng,
Đức vua sừng sững, mênh mông rộng lớn,
Như vầng nhật nguyệt, ức ngàn năm vẫn trường tồn).
Lại nói, vào thời Hùng Vương, con cháu truyền đến các thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Lương, cộng 359 năm, sông núi nước Nam thuộc Nội quận, cho đến khi nước Nam mở cõi, trải bốn đời vua Đinh, Lê, Lý, Trần đều là bậc vua sáng trị vì.
Lại nói bấy giờ nước Nam ta trải đến đời vua Trần Anh Tông, chính trị khoan hòa, kinh tế giàu có, mọi người đều khen là một triều đại thịnh vượng nhất.
Lại nói trước thời vua Trần Nhân Tông, lúc đó đời truyền rằng ở trang Húc Sơn huyện Bàng Châu phủ Nam Sách lộ Hải Dương có một [2a] gia đình quan bộ chúa họ Lý tên húy là Nghĩa. Vợ họ Hoàng, vốn dòng dõi con nhà thì thư lễ nhạc. Trải ba bốn đời đều làm quan. Lúc đó quan bộ chúa thấy thiên hạ thái bình, trong triều vô sự bèn một cánh buồm dong du chơi trong thiên hạ, ngắm nhìn phong cảnh núi sông khắp nơi. Thăm sông hỏi bến, vui vẻ tản bộ nơi núi cao, gẩy đàn múa ca, dạo bước trong tiếng nhạc phượng oanh ca, thỏa niềm vui thú với cảnh bồng lai thanh sắc. Tìm nơi cảnh tiên, gió trăng ngũ hồ chèo thuyền câu cá, ngắm nhìn muôn cảnh mù sương, theo xe dạo bước nơi non xanh núi thẳm, trở về nửa áo càn khôn. Thánh trời Nam, thần đất Bắc, xuất nhập nơi phong cảnh trời Nam.
Một hôm quan bộ chúa đi đến địa phận trang ta, thấy ở bãi cát Bạch Nhạn, có một con cái hồ nhỏ. Thế đất tại đó vòng quanh gấp khúc như rồng đi hồ bước. Bốn phía đều nhìn thấy bầy ngựa đang ở đấy. Quan bộ chúa nhận thấy nơi này là ngôi đất quý, bèn dựng hành cung, được 1 năm thì hoàn thành. Quan bộ chúa cùng thái bà chuyển đến cung đó ở.
Bấy giờ vào mùa hè, trời nóng bức, thái bà (tức phu nhân của bộ quan) bèn ra hồ nước ở bãi cát Bạch Nhạn phía trước cung để tắm. Đang tắm, chợt thấy nước hồ xao động, có một con rắn trắng nổi trên mặt nước bơi đến quấn lấy thân thái bà. Thái bà nhìn thấy sợ quá vội trở về cung. Bộ quan thấy trên người bà rủ xuống dòng nước lấp lánh mà không trôi đi. Bộ quan vô cùng kinh ngạc, bèn lập đàn trong cung để tế.
Đang lúc hành lễ, tự nhiên trời đất tối sầm, mưa to gió lớn ập tới, nước trong hồ dâng đầy, rắn rết, thuồng luồng nổi đầy khắp nơi rồi lao cả lên đàn. Bộ quan liền làm lễ bái tạ, giao xà mới biến mất.
Từ đó loan phượng tình nồng, đôi lứa hợp xuân, giấc mộng vui vầy nơi gác nguyệt, tiếng chuông nhã hứng khắp phòng khuê. Được ba bốn ngày thái bà chợt thấy trong lòng cảm động liền có thai. Sau khi mang thai thái bà ăn uống chẳng còn như thường, luôn trai giới sạch sẽ. Qua 12 tháng, đến kỳ sinh ra một cô con gái, đó là giờ Tý ngày 21 tháng 3 năm Giáp Thìn.
Cô con gái mặt mũi xinh đẹp, dáng vẻ yểu điệu, môi đỏ má hồng, mắt phượng mặt rồng, dáng như chim sa cá lặn, vẻ đẹp khiến trăng mờ hoa thẹn. Thật là bậc nữ lưu trong các nữ thánh thần, vua Nghiêu Thuấn ở nơi trần gian, chẳng có ai được như thế.
Nuôi nấng đến khi trưởng thành, cha mẹ liền đặt tên cho cô là Ngọc Nương. Váy áo đều dùng màu trắng, chẳng giống người thường. Đến năm cô 18 tuổi, công dung ngôn hạnh, lại có đức hiền hòa, phong thái yểu điệu, lại là người phúc dày, khoan dung, hiếu đễ, tính hay thích [3b] nước. Quan bộ chúa thấy thế nói với thái bà rằng:
– Con gái ta là tinh khí của Long Vương Thủy đế, không phải là người trần thế.
Bèn dựng một cung ở bên trái, gọi là Hát cung, cho con gái ra ở ngoài cung đó. Một hôm Ngọc Nương nhân tiết thu bèn du chơi ngắm trăng, thưởng ngoạn phong cảnh. Chợt đi đến mỏm đầu rồng ở đất phía tây kinh thành Thăng Long, Ngọc Nương đứng ở mỏm đất đó, bỗng thấy trời đất tối sầm, mây đen che kín, chợt gió lớn nổi lên, mưa to trút xuống, nước sông dâng đầy. Bỗng cô nhìn thấy có con rắn trắng dài hơn 10 trượng rẽ nước đưa Ngọc Nương trở về thủy quốc mà mất (cô hóa ngày 17 tháng 8).
Nơi Ngọc Nương hóa ở ngay tại mỏm đầu rồng. Nơi này nước thường dâng cao, mọi người vãng lai qua lại buôn bán thấy đất linh thiêng như thế bèn đến cầu đảo [4a] đều được linh ứng. Bèn lập một ngôi miếu nhỏ ở đất đó thờ phụng.
Đến triều Lý, có quan thái giảm chia lại dân trại, thấy ngôi miếu nhỏ ở đất đầu rồng thường hiển ứng. Lúc đó thôn ta (tức thôn Đống Nước), người dân từ già đến trẻ ai cũng nằm mơ thấy có một sĩ nữ, mặc áo trắng, tới truyền cho dân rằng:
– Thiếp vốn là con gái Long Vương dưới Thủy phủ. Thiên đình lệnh cho thiếp trấn giữ đất đai dân nơi đây. Sao không quét dọn miếu đường?
Nói đến đây, bỗng nhiên hét lên một tiếng lớn, rồi bay lên không trung đi mất. Người dân cho rằng sẽ có họa lớn bèn làm lễ tạ ở trước miếu. Từ đó người dân ai cũng được yên ổn, không còn lo tai họa, được hưởng phúc thái bình. Thần cũng được hương hỏa thờ cúng mãi mãi.
Lại nói, bấy giờ trải đến triều vua Trần Anh Tông (1293 – 1314). Giặc Nguyên bỗng tới xâm lược, vua thân chỉnh xa giá [4b] đi chinh phạt, dẹp giặc Nguyên. Khi đi qua ngôi miếu, tự nhiên xa giá nhà vua dừng lại không muốn bước tiếp. Vua lấy làm lạ bèn dừng lại ở đó một đêm. Đêm đó vua bỗng nằm mơ thấy một sĩ nữ mặc trang phục màu trắng, đứng trước vua thưa rằng:
– Thiếp là con gái Long Vương dưới Thủy phủ. Thiên đình cho thiếp trấn giữ đất đai người dân nơi đây. Nay nghe nói hoàng để đi dẹp giặc Nguyên, thiếp xin đi theo âm phù giúp cho nước.
Tâu xong liền biến thành con rắn trắng biến mất.
Vua tỉnh giấc, biết là nữ thần báo mộng, bèn truyền cho người dân làm lễ bái tạ trước miếu, rồi cho quân tiến theo đường thủy, thẳng tiến đến đồn sở quân Nguyên ở sông Bạch Đằng, đánh một trận lớn. Trong lúc giao chiến, bỗng thấy rắn, thuồng luồng, cá, ba ba nổi lên khắp sông. Quân Nguyên thấy thế tự nhiên lui quân, bỏ chạy về nước. Ngày hôm đó dẹp tan giặc. Vua liền gấp đem binh [5a] về triều, mở tiệc khao thưởng quân sĩ, mệnh cho sứ thần đem sắc chỉ, ban cho dân thôn 100 quan tiền để làm tiền hương hỏa. Lại truyền cho dân thôn tu sửa ngôi miếu để phụng thờ và miễn cho các việc như binh, lương trong ba năm. Theo lệ bao phong mỹ tự, cho thần được hưởng huyết thực đến muôn đời, cùng với nước mãi thành hằng lệ. Đức thần thịnh thay.
Phong cho thần là Ngọc bạch hồ trung Thủy Tinh công chúa.
Cho phép lấy thôn Đống Nước cũ, trại Ngọc Hà, huyện Quảng Đức, phủ Phụng Thiên làm đất hộ nhi. Ngôi đền được hương hỏa thờ phụng mãi mãi.
Ngày lành mùa xuân năm Hồng Phúc thứ nhất (1572).
Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ, thần Nguyễn Bính phụng soạn.
Ngày lành mùa đông năm Vĩnh Hựu thứ 3 triều Lê (1737).
Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh, thần Nguyễn Hiền tuân theo bản chính triều trước phụng mệnh sao chép.
Nguồn: “Thần tích của trại Ngọc Hà”, ký hiệu AE.a2/26, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.