Quốc triều Bộ Lễ chính bản.
Vị công thần thứ hai nhập vào nhân thần, thuộc chi Thủy Chấn.
Xưa kia, trời Nam mở vận, thánh tổ gây dựng cơ đồ, trong hơn hai nghìn năm Hùng Vương dựng nước, hiệu là tổ Bách Việt vậy.
Con cháu của Hùng Vương truyền đến thời Đông Hán, Ngô, Tấn, Tống, Tề Lương tổng cộng là 349 năm, sông núi nước Nam nội thuộc, trở thành một quận Trung Quốc. Đến khi nước Nam có các triều Đinh, Lê, Lý, Trần, bốn họ đều là vua sáng, nối nhau trị nước.
Lại nói, nước Việt ta lúc đó trải đến triều vua Lý Nam Đế (544 -548) (húy là Bí-NC), đứng đầu người dân. [16] Than ôi, uy đức của vua sâu rộng, anh hùng cái thế, đức nhân như trời, đức trí như thần, người đời đều khen là vua hiền.
Lại nói, lúc đó, người đời tương truyền ở trang Đồng Lục, phủ Khoái Châu1 thuộc đạo Sơn Nam có một danh gia họ Nguyễn, tên là Chương, vợ họ Bùi, tên là Xuyến. Ông Chương chuyên nghề y thuật, còn thái bà2 thì chuyên làm nghề nông trồng dâu trồng lúa, làm kế sinh nhai hàng ngày. Đương lúc đó mùa hạ nóng bức, thái bà bèn ra nhánh sông ở bản trang, tắm gội ở chỗ bến sông đó, (tục gọi là sông Hồng-NC). Thái bà bỗng thấy bên bờ sông có ba quả trứng rắn, một quả trứng màu xanh, hai quả trứng màu vàng. Thái bà cho là vật báu, bèn mang về nhà. Chương công cũng cho là quý và lạ, đặt ở đầu giường. Được ba ngày thì ba quả trứng vỡ ra, nước tràn vào người thái bà. Chương công cho đó là [2a] việc lạ.
Bấy giờ, vợ chồng uyên ương chung gối, loan phượng tình nồng, âm nhạc vui nhộn, chiêng trống, cầm sắt vang lừng. Được ba tháng thì thái bà bỗng thấy cảm trong lòng mà có thai. Đến khi mãn nguyệt, sinh ra một bọc nở ra hai người con trai, một người con gái. (Tức sinh vào giờ Tý, ngày 28 tháng 6 năm Mậu Dần-NC). Con trai thì diện mạo sáng sủa, hình dung to lớn, con gái thì môi đỏ như son, mặt hoa da phấn, mắt phượng mày ngài. Ba người con đều khác với người thường.
Từ ngày thái bà sinh con, được ba bốn tháng thì bỗng nhiên thái bà có bệnh mà mất (mất ngày 13 tháng 9-NC). Lúc đó, người nhà rước đi an táng ở đất của bản trang, tục gọi là xứ Đồng Cao. Việc chôn cất đã xong, Chương công cho rằng các con mới sinh, vẫn còn yếu ớt, bèn tìm vú nuôi về nuôi dưỡng. Một hôm mới thấy có hai người phụ nữ đến nói rằng:
– Nghe nói phú ông tìm vú nuôi để nuôi dưỡng các con.
Lúc đó, Chương công trong lòng vui sướng, bèn hỏi tên họ quê quán. Hai người phụ nữ đáp rằng:
– Chúng thiếp là người châu Xuyên Bảo huyện Từ Liêm. Một người là Phạm Thị Thanh, một người là Trần Thị Tính. Thấy ông tìm người nuôi con nên tới đây.
Lúc đó, Chương công đã nghe rõ nguồn cơn, bèn cho hai người ở lại, để nuôi con. Từ lúc hai người phụ nữ đến nuôi ba người con, ngày ngày thấy lớn rất lạ thường. Ngày qua tháng lại, đến khi các con đã 12 tuổi, Chương công bèn cho con trai đi học, hai vú nuôi về quê quán. Đến khi ba con vừa 16 tuổi, học hành cực kỳ thông minh, văn chương thấu suốt, mỗi khi ngồi nhàn bàn bạc đàm đạo thì những bạn bè bằng vai đều kinh ngạc mà tôn sùng. Nhân đó, ông Chương3 đặt tên người con thứ nhất là Bảo, người con thứ hai là Mỹ, [3a] người con gái thứ ba là Phương. Sau khi đã đặt tên xong, năm đó, tự nhiên biến loạn không lường, họa vô đơn chí, ông bị bệnh rồi qua đời (đó là vào ngày 21 tháng 11-NC). Lúc đó, các con làm lễ ninh tang, chôn cất ở đất của bản trang (tục gọi là xứ Đồng Son-NC). Chôn cất xong, hai ông nghĩ đến gia đình nghèo khó, không biết làm cách nào, thường than khóc rằng:
Cha ta có thể cứu chữa cho nghìn người mà không thể cứu được đứa con tội nghiệp. Ngạn ngữ xưa có câu: Con của lương y ắt chết vì bệnh tật. Mà nay ta thì khốn khó vì bệnh nghèo.
Than xong, hai ông ngồi ở cửa sổ phía đông, đun trà, ngoạn cảnh, bỗng thấy mặt trời đỏ rực mới lên, bèn làm một bài thơ rằng:
Hồng nhật sơ khai thảo diệc xuân
Huống hồ ngô bối khởi ưu bần,
Hạnh phùng long hổ phong vân hội,
Khẳng tác chỉ hồ dĩ tác nhân.(Mặt trời đỏ rực mới nhô lên, cây có cũng được thêm sức xuân,
Cớ sao chúng ta phải ưu phiền vì cảnh nghèo khó?
May mắn gặp được vận hội phong vân rồng hỗ,
Có thể làm được công nghiệp để làm người chăng?)
Ngâm xong, bấy giờ lại gặp tai họa hạn hán, lũ lụt, ở địa phương, thóc lúa bị mất nhiều, hai ông than với nhau rằng:
Nhà đã nghèo khó như thế, lại gặp thiên tai, biết lấy gì mà sống đây? Chẳng bằng đi tìm nơi khác, dưới bầu trời này, có nơi nào là không có gió xuân?
Hai ông bèn gói ghém gia tài, gửi gắm phần mộ, lên thuyền đi khắp nơi phong cảnh sông núi. Hai ông cùng dắt Phương nương đi. Bỗng nghĩ đến quê hương của vú nuôi, bèn tự đi đến đó (tức trang Xuyên Bảo, huyện Từ Liêm-NC). Trải qua mấy ngày, ba anh em đến được chỗ đó, vào trong trang hỏi thăm nhà vú nuôi, thì biết vú nuôi đã mất không gặp được.
Lúc đó, trong trang có một danh gia là Lê Công Trí thấy mấy anh em diện mạo khôi ngô, là người phúc hậu, bèn gặng hỏi nguồn cơn, rồi cho ở lại. Phương nương cùng ở với ba anh, nuôi dưỡng lẫn nhau. Hai ông cùng nhau đi học, Phương nương bèn ra bãi cát của bản trang [4a] trồng dâu nhổ có thuê để lấy cái ăn hàng ngày. Được khoảng 1 năm, một hôm bà hóa mất (vẫn còn tích riêng-NC). Lúc đó, hai ông văn tài võ nghệ đều tỉnh thông thuần thục. Người anh cả ở lại nhà ở bản trang, người thứ hai đến trang Nghi []4, huyện Quảng Đức mở trường dạy học.
Nhiều năm trôi qua, năm ấy, bỗng thấy có giặc Chiêm Thành mang quân đến xâm chiếm nước ta. Biên thư báo gấp, nhà vua rất lo lắng, bèn triệu gấp đình thần cùng đến hội bàn, đình thần nhất loạt đều bó tay, không có kế sách nào khả thi. Vua bèn gấp gáp truyền hịch tìm trong thiên hạ ai là người có tài bình được giặc Chiêm Thành thì đến triều đình ứng tuyển. Khi đó, hai ông nghe thấy, cùng nói với nhau rằng:
– Cha mẹ sinh ra anh em ta vất vả, chẳng có chút danh thơm nào báo đáp. Nay nhân hoàng đế có hịch cầu tài, anh em ta đến triều đình ứng thí.
Nói xong, hai anh em đến triều xin vào bái yết vua. Vua bèn [46] hỏi tên họ, kiểm tra tài nghệ. Lúc đó, hai ông thi hành tài nghệ, đối đáp trôi chảy. Vua thấy có đại tài, bèn gia ban cho hai ông là Trung phẩm tướng quân. Vua bèn bảo hai ông rằng:
Nay đất nước bị giặc mới đến xâm chiếm, ta mệnh cho hai ngươi thay ta ra sức đi dẹp giặc.
Hai ông phụng mệnh thân chỉnh, xin nhà vua ban cho ba vạn tinh binh, tượng mã siêu quần, tiến về nhà ở bản trang. Ông anh chọn 30 người trong trang làm gia thần thủ túc. Ông em chọn 80 người trong trang làm nội đao thần tướng, chia làm hai đạo thuyền và voi ngựa song hành, chớp giật hai bên, thủy bộ cùng tiến. Tiếng binh đi vang lừng như sấm dậy muôn dặm, oai hùng vô cùng, thế như là từ trên trời trấn động xuống, tiến thẳng đến chỗ quân Chiêm Thành ở đất Bàng Châu, đại phá [5a] một trận, quân giặc chạy về nước.
Ngày hôm đó, đã bình xong giặc, hai ông tiến binh về đến trang Bình Lương, huyện Bạch Hạc, phủ Tam Đới, đạo Sơn Nam thì mặt trời đã xế bóng, trời sắp sửa tối. Hai ông bèn đóng đồn binh nghỉ lại. Đến lúc nửa đêm hôm đó, trời đã định trước, bỗng thấy trời đất tăm tối, mưa gió nổi lên, sấm chớp chói lọi, một mảnh mây vàng giáng thẳng xuống đồn sở của hai ông, hình giống dải lụa vàng. Hai ông tự nhiên cùng hóa (đó là ngày 12 tháng 10-NC). Một lúc sau, trời đất lại tạnh ráo, sáng sủa. Người dân đến xem thì bỗng thấy côn trùng đùn thành một cái mộ cao. Về sau nhân dân nhân đó đặt tên là đống Lăng Vua.
Lúc đó, dân chúng bèn làm tờ biểu dâng lên vua. Vua nghe thấy chuyện, rất là xót thương công thần có công lớn với quốc gia, trung nghĩa thờ vua, bèn sai [5b] đình thần mang sắc chỉ đến quê quán là bản trang (tức trang Xuyên Bảo-NC), truyền cho nhân dân bản trang sửa lập đền miếu phụng thờ, gia ban tiền công cho nhân dân là 200 quan để là tiền công hàng năm quốc tế. Đồng thời miễn việc bình lương 3 năm cho nhân dân trang này. Mãn lệ, thưởng phong mỹ tự là Thượng đẳng Phúc thần, huyết thực muôn đời, cùng hưởng với nước, mãi mãi dài lâu. Thịnh thay.
Phong Đương cảnh Thành hoàng Bảo Trung Thượng đẳng Phúc thần Đại vương.
Phong Đương cảnh Thành hoàng Minh Khiết Thượng đẳng Phúc thần Đại vương.
Chuẩn cho trang Xuyên Bảo, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, đạo Sơn Tây làm đất hộ nhi (tức nơi hương hỏa chính, phụng tự không cùng).
Ngày sinh, ngày hóa cùng mỹ tự liệt kê dưới đây:
(Triều vua trước gọi là trang Xuyên Bảo, trải đến triều Trần đổi làm trang Tam Bảo, chia làm bốn châu Nội châu, Ngoại châu, Vạn châu, Xuyên châu.)
– Ngày sinh là ngày 28 tháng 6. Lễ dùng cỗ chay, bánh chay mỗi loại ba mâm, các lễ tế cúng, hát ba ngày.
Ngày hóa là ngày 12 tháng 10. Lễ dùng cỗ chay, bánh chay, mỗi loại ba mâm, các lễ lại tu sửa thêm gà xôi, rượu đặt ở ban ngoài làm lễ tế.
Các tiết xuân thu, ngày quốc tế lễ dùng ba con vật sống, các lễ cúng tế, ca hát một ngày.
-Miếu dựng đứng ở ngôi Bắc, hướng về ngôi Nam, phía trước có sao Phong án ngữ, là ngôi đất linh thiêng nhất.
– Nơi lăng mộ thần hóa ở trên một khối đất, phía trước có sao Tam Thai, tả long hữu hổ (trái là rồng, phải là hổ) chầu về, [66] tục gọi là đống Lăng Vua, đất tài địa hướng chính Quý Đinh (hướng bắc lệch đông bắc).
– Phong mỹ tự hai chữ Bảo Mỹ cùng tên húy của thánh mẫu, thánh phụ xin xem ở trong sự tích, các chữ đồng âm đều cấm.
Chú thích:
- Khoái Châu: Nay thuộc tỉnh Hưng Yên.
- Thái bà: Cách gọi tôn xưng của vợ ông Chương.
- Chữ Chương 彰 ở đây văn bản chép nhầm là Trương 張.
- Chỗ này để trống một chữ. Có lẽ là trang Nghi Tàm (nay thuộc quận Tây Hồ).
Nguồn: “Việt Thường thị Lý triều công thần khai quốc đại hữu huân lao khả gia thần tước linh ứng khả phong nhị vị Đại vương ngọc phả cổ lục”, trích trong Thần tích xã Ngọc Xuyên, ký hiệu AEa2/38, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.