Ngọc Thủy Tinh Công Chúa

Ngọc Thủy Tinh Công Chúa

Thông tin cơ bản

Kính phụng Hoàng đế bệ hạ.

Sắc chỉ:

Nay kính ban sắc phong thần thành hoàng Ngọc Thủy Tinh công chúa, hai chữ “Lân đài, Tĩnh quốc”, nổi tiếng linh ứng, giúp nước che chở cho dân [hiệu là] Đôn ngưng Diệu cảm Đại vương tôn thần. Cho phép trại Thịnh Quang huyện Quảng Đức, quận Phụng Thiên mang về lưu giữ để thờ phụng. Nay trẫm gánh vác việc lớn, thần hãy giúp đỡ che chở cho dân ta. Kính thay.

Bộ hạ hai ban:

Bộ Nương Quỳnh chứng giám.

Bộ Nương Quế chứng giám.

Đệ nhị Tiên cung công chúa hiệu là Ngọc Thủy Tinh được Thiên đế sắc ban hóa sinh đầu [16] giáng xuống trần thế giúp nước vào ngày 21 tháng 2 năm Quý Hợi, được đặt tên ở chùa Hương Tích, sau mới chu du thiên hạ, ngắm cảnh khắp nơi, sau đó lấy Sơn gia (nhà Núi) làm Tiên gia (nhà Tiên), đề thơ ở chái nhà phía tả rồi đi. Thơ rằng:

Tùng lâm tịch mịch phất nhân gia,
Hốt thính hữu nhân xuất thử ca,
Nhân khúc nhiều vân nhân bất kiến,
Mãn tiền sơn sắc bích ta nga.

(Rừng xanh tịch mịch tuyệt không nhà,
Bỗng vọng đâu đây tiếng hát ca, 
Ca khúc rỡn mây, người chẳng thấy,
Trước đầy non sắc, biếc núi xa).

Từ đó về sau Ngọc Thủy Tinh phiêu diêu khắp nơi. Gặp đúng lúc Lê Thái công là người hay làm việc thiện, ngày đêm thắp hương thờ phụng thiên đế, tuy việc nhiều nhưng việc thờ cúng chưa từng thiếu khuyết. Lại một mực chu toàn, một lòng thề nguyện. Bỗng thần Thủy Tinh như xuất hiện, [ông bà liền có con]. Đến khi lớn lên, da trắng như tuyết, tóc bóng như cao, lấp lánh có thể soi. [2a] Mày cong như mặt trăng mới ló, mắt sáng tựa sóng nước mùa thu. Xưa nói có thể sánh với hoa, hoa cũng biết nói, nói sánh với ngọc, ngọc cũng sinh hương (cho nên mới thêm chữ Ngọc vào hiệu). Đủ để hình dung cái đẹp [đến mức nào]. Cô thường ở yên trong phòng học chữ, xem sách chẳng đợi người sai. Cô lại giỏi đánh đàn thổi sáo, tinh thông âm luật, kỳ diệu như Tương Phi, chiếm tài cao của Lộng Nguyệt. Lúc nhàn rỗi thường vào thành Thăng Long ngắm nhìn phong cảnh, ngẫu hứng làm bài thơ như sau:

Oánh nhiên phương thốn tục trần vô,
Bao quát càn khôn nhập họa đồ,
Tễ nguyệt quang phong tùy tửu lạc,
Nguyệt trung hà nhật bất Tây Hồ.

(Trong vắt, bụi trần chẳng mảy may,
Bao cả càn khôn bức họa này,
Trăng tạnh gió ngừng, say chén rượu,
Ngày nào trong tháng chẳng hồ Tây).

Lại nói lúc bấy giờ vua Thánh Tông du chơi thành Thăng Long, thấy thơ đề ở đó liền hỏi nhà thơ là người ở đâu rồi làm bài thơ đề lại rằng [26]:

Danh lợi bôn ba nhất phiến trần,
Tây Hồ thốn bộ hốt nhàn thân,
Bồng Lai Phương Trượng giai hư ảo,
Thủy tín tiên phàm tổng thị nhân.

(Trần ai vất vả danh cùng lợi,
Dạo bước Tây Hồ chợt thảnh thơi,
Bồng Lai, Phương Trượng đều hư ảo,
Tiên, tục nào ai chẳng là người).

Vua Thánh Tông cùng Ngọc Thủy Tinh công chúa gặp gỡ rồi làm thơ đề tình tứ. Vào ngày 12 tháng Giêng năm Giáp Tuất hai người kết duyên Châu Trần, mới được 5 năm, yêu thương chăm sóc, chuyên tâm làm phúc, giúp nước giúp dân, nhưng đã mãn hạn nơi trần thế vào ngày 15 tháng 9 năm Mậu Dần, bà hóa, bay lên trời.

Thượng đế lưu đề bài thơ Đường luật:

Thủy Tinh công chúa phù liệt nữ, Đằng vân giả vũ chiếu linh thông, Trạc dương tả hữu hoằng tham tán, Linh ung huân cao kỷ nẫm tòng (Thủy Tinh công chúa ngời liệt nữ, Cưỡi mây cưỡi gió, rọi linh thông, Bề tôi tài giỏi cùng trợ giúp, Rờ rỡ linh thiêng, mãi giúp công).

Thơ đề xong Thượng đế cưỡi mây bay đi. Vua có ý thương xót tưởng nhớ, nhưng chẳng biết làm cách nào bèn hội triều quan văn võ, viết sắc phong cho thần, cho 32 đền phụng thờ để thần ngầm giúp phúc nước, giúp đỡ che chở cho dân. Vua còn cho quốc sư mang sắc phong cho thần, ban tiền xây miếu. Khi qua trại Thịnh Quang, Thôi Tề, huyện Quảng Đức, quận Phụng Thiên, quốc sư lệnh cho các cụ phụ lão ra lãnh sắc văn, đón nhận 30 quan tiền, mang về xây miếu. Ngôi miếu tọa Quý Đinh (đông bắc), hướng Tân Ất (hướng đông tây). Hướng đó tất phát nhiều con trai, nhiều người giầu có, văn nhân tuấn tú. Lại giao cho trại Thịnh Quang phụng thờ thần hiển ứng linh thiêng, hàng năm hương hỏa, ngàn đời không thay đổi.

Ngày 12 tháng Giêng hàng năm, lễ cỗ chay, hoa quả, bánh trái ba lần.

Ngày 20 tháng 2 hàng năm làm lễ “nghênh tiên”; ngày 21 làm lễ tiên giáng. Lễ dùng cỗ chay, bánh dày, hoa quả bánh trái.

Ngày 15 tháng 9 hàng năm, lễ dùng các thịt lợn, thịt gà ngon nhất; cỗ chay, tổ chức ca xướng.

Ngày 22, tháng 12, thay tiền vàng, lễ tùy theo.

Phụng sao vào ngày 16 tháng 2 năm Đồng Khánh thứ 2 (1887). Sao tại xã Nghĩa Cương, phủ Lâm Thao, tỉnh Phú Thọ.

Chú thích:

  1. Châu Trần: Tích xưa kể chuyện họ Châu và họ Trần đời đời kết hôn cùng nhau. Ở đây ý nói việc hai nhà kết hôn, đôi trai gái hạnh phúc).
  2. Thượng đế: Có lẽ chỉ Ngọc hoàng Thượng đế.

Nguồn: “Lê triều Lễ Bộ Thượng thư tri điển bách thần phụng sao ngọc bảo cổ truyền”, trích trong Thần tích thôn Thịnh Quang, ký hiệu AE.a2/31, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (8)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)