Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật (1255 – 1330)

Chiêu Văn Đại Vương Trần Nhật Duật (1255 – 1330)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật (1255 – 1330) là con trai thứ sáu của vua Trần Thái Tông, sinh vào tháng Tư năm Ất Mão (1255). Về huyết thống, Trần Nhật Duật là em cùng cha khác mẹ của Trần Thánh Tông và Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải; đồng thời là anh em cùng mẹ với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng. Theo thần tích đền thôn Miễu, xã Mạt Lăng, huyện Tây Chân (nay thuộc thị trấn Cổ Lễ, huyện Trực Ninh, tỉnh Nam Định), có lưu truyền một câu chuyện dân gian liên quan đến thân thế của ông.

Vào năm Kỷ Hợi (1239), trong một chuyến tuần du qua phủ Thiên Trường, vua Trần Thái Tông ghé nghỉ tại làng Miễu. Khi dân làng đến dâng lễ vật, vua hỏi chuyện nông tang để tỏ lòng thân dân. Bất ngờ, người được cử ra đối đáp không phải là các bô lão mà là một thiếu nữ tên Vũ Thị Vượng, còn gọi là Vượng Nương. Cô nổi tiếng khắp vùng vì vừa xinh đẹp, vừa khéo léo, lại hiểu biết sâu rộng về nghề nông. Sự thông tuệ và ứng đối mẫn tiệp của nàng khiến nhà vua cảm mến. Sau buổi gặp ấy, Trần Thái Tông cho rước Vũ Thị Vượng vào cung, phong làm Cung phi thứ năm, hiệu là Vũ phi.

Tương truyền rằng Vũ phi sinh Trần Nhật Duật sau một điềm mộng lạ. Trong lễ cầu tự kéo dài 21 ngày, một đêm bà mộng thấy một ngôi sao lớn từ trời rơi xuống giường mình, rồi sau đó mang thai. Đến giờ Ngọ ngày mồng 10 tháng Tư năm Ất Mão (1255), bà hạ sinh một hoàng tử dung mạo khôi ngô, khác thường. Đứa trẻ được đặt tên là Nhật Duật, mang ý nghĩa “ánh sáng chiếu rọi khắp nơi”. Khi mới sinh, trên tay ông có bốn chữ Chiêu Văn đồng tử 昭文童子. Từ điềm ấy, vua Trần Thái Tông ban hiệu Chiêu Văn vương 昭文王.

Về huyết thống, Trần Nhật Duật là em cùng cha khác mẹ của Trần Thánh Tông và Chiêu Minh Đại vương Trần Quang Khải; đồng thời là anh em cùng mẹ với Chiêu Quốc vương Trần Ích Tắc và Chiêu Đạo vương Trần Quang Xưởng.

Khả năng ngoại giao

Trần Nhật Duật nổi tiếng uyên bác, am hiểu sâu rộng kinh điển Đạo gia, tôn sùng Đạo giáo, lại tinh thông nhiều ngoại ngữ: tiếng Tống, Chiêm Thành, thậm chí hiểu cả phong tục, tập quán của các dân tộc láng giềng. Ông thường lui tới giao du với người Tống, người Chiêm sinh sống ở Đại Việt, nhiều lần cưỡi voi đến thôn Bà Già nơi tù binh Chiêm từng định cư ở lại vài ngày để trò chuyện. Ông cũng thường đến chùa Tường Phủ đàm đạo cùng tăng sĩ người Tống. Nhờ sự hiểu biết và cởi mở ấy, người ngoại quốc đến Thăng Long đều tìm đến thăm ông, xem nhà ông như chốn hội tụ tri thức. Ngay cả khi làm tể tướng dưới triều Trần Anh Tông, ông vẫn giữ lối sống giản dị, thường đến thăm bạn bè người Tống, say sưa đàm đạo suốt giờ dài. Ngoài học vấn, ông còn tinh thông âm nhạc, sáng tạo nhiều giai điệu và tiết tấu múa hát độc đáo.

Từ khi ngoài hai mươi tuổi, ông đã được giao trọng trách xử lý các vấn đề liên quan đến các dân tộc biên cương. Khi tiếp sứ Nguyên, Nhật Duật trò chuyện tự nhiên, không cần phiên dịch, khiến họ tưởng ông là người Hán gốc Chân Định sang làm quan Đại Việt.

Sau khi Thái Tông qua đời (tháng 10 năm 1277), triều Trần tiếp tục chuyển giao cho Trần Nhân Tông (năm 1279). Dưới triều vua mới, có lần sứ thần nước Sách Mã Tích (Tumasik – Singapore ngày nay) sang cống mà không ai biết tiếng họ. Trần Nhật Duật đứng ra phiên dịch, khiến vua Nhân Tông kinh ngạc và khen rằng: “Chiêu Văn vương hẳn là kiếp sau của người phiên lạc, nên thông thạo ngôn ngữ các nước.”

Đặc biệt, năm 1280, khi vùng Đà Giang (nay thuộc Mộc Châu, Sơn La và Đà Bắc, Hòa Bình) do Trịnh Giác Mật nổi loạn, triều đình đang cấp bách chuẩn bị chống giặc Nguyên, vua Nhân Tông sai Trần Nhật Duật đi dẹp. Dù bị cảnh báo có mưu sát, ông một mình một ngựa cùng vài tiểu đồng tiến thẳng vào trại Giác Mật, bình thản nói chuyện, dùng đúng phong tục và ngôn ngữ bản địa. Ông uống rượu bằng mũi, ăn bốc tay không như người địa phương, khiến Giác Mật cảm phục mà quy phục.

Nhờ “không mất một mũi tên mà bình định được Đà Giang”, ông giúp triều Trần giữ yên biên giới Tây Bắc, tập trung toàn lực chống Mông – Nguyên. Sau đó, ông còn chăm lo gia quyến của Giác Mật chu đáo, xin vua phong tước và cho họ trở lại quê quán.

Hai lần kháng chiến chống quân Nguyên 1285 và 1287-1288

Năm 1284, vua Nguyên Hốt Tất Liệt sai Thoát Hoan mang ba đạo quân xâm lược Đại Việt. Lúc ấy, Chiêu Văn vương Trần Nhật Duật trấn thủ Tuyên Quang. Khi quân Nguyên tiến chiếm Thu Vật (Yên Bái), ông chủ động rút quân chiến lược về Bạch Hạc, tránh phục kích, bảo toàn lực lượng. Sau đó, ông được điều vào Nghệ An chống Toa Đô, tuy thua trận nhưng vẫn giữ được thế chủ động.

Đến khi triều Trần phản công, Nhật Duật cùng Hưng Đạo vương bàn kế đánh ở Hàm Tử. Ông dùng binh mưu lạ: tuyển người Tống cũ, cho mặc quân phục Tống để đánh lừa giặc. Quân Nguyên tưởng Đại Việt được viện trợ, hoảng sợ tháo chạy. Trận thắng Hàm Tử vang dội, góp phần quyết định cho thắng lợi năm 1285.

Trong cuộc kháng chiến lần ba (1287–1288), Nhật Duật chỉ huy bốn vạn quân ở Mộc Ngột (Việt Trì), giao chiến liên tiếp 18 trận với quân Ái Lỗ từ Vân Nam sang. Dù tổn thất, ông vẫn rút lui an toàn, giữ nguyên lực lượng, đúng theo chủ trương “vừa đánh vừa lui, nhử địch vào bẫy” của Trần Hưng Đạo.

Trần Nhật Duật không chỉ là một tướng giỏi mà còn là một trí giả sâu sắc, biết lúc tiến, lúc lui, lấy mưu lược và trí tuệ làm vũ khí. Ông góp phần quan trọng vào hai chiến thắng lớn, ghi tên mình như một trong những anh hùng kiệt xuất của triều Trần.

Công cuộc trị bình

Năm 1293, sau khi Trần Nhân Tông truyền ngôi cho thái tử Thuyên (Trần Anh Tông), Trần Nhật Duật tiếp tục được trọng dụng. Đến năm 1297, ông được vua sai đi dẹp loạn ở sách A Lộc.

Năm 1302, Nhật Duật được phong Thái úy Quốc công, cùng các đại thần Trần Đức Việp và Trần Quốc Chẩn coi việc triều chính. Vua Anh Tông rất tin cậy ông, thường hỏi ý kiến trong mọi việc lớn nhỏ. Chính ông là người đặt tên cho hai mũ võ của nhà vua, cũng như các cơ sở học tập trong cung Thái tử, thể hiện học vấn sâu rộng và tư duy văn hóa tinh tế.

Khi hoàng tử Trần Mạnh (sau là Trần Minh Tông) ra đời năm 1300, Nhật Duật được giao nuôi dưỡng. Ông chăm sóc hoàng tử chu đáo, đặt tên là Thánh Sinh, thể hiện tình thân mật và lòng tận tụy.

Trong cuộc nam chinh năm 1311–1312, khi vua Anh Tông cầm quân đánh Chiêm Thành, Trần Nhật Duật ở lại giám quốc cùng thái tử. Sau chiến thắng, vua không ban thưởng riêng cho tướng trận, vì cho rằng công lao của Trần Nhật Duật và những người trông coi việc nước cũng rất lớn.

Khin Trần Minh Tông lên ngôi (1314), ông được phong Tá thánh Thái sư, rồi đến triều Hiến Tông (1329), thăng lên Chiêu Văn Đại vương. Là người trải bốn triều vua, nhiều lần trấn giữ các vùng trọng yếu, Trần Nhật Duật luôn nổi tiếng ngay thẳng, liêm chính, khoan dung và độ lượng.

Sử chép rằng trong nhà ông không hề có roi vọt, nếu có xử phạt gia nô đều giải thích rõ tội. Ông luôn điềm tĩnh, không để lộ mừng giận. Dù sống phong lưu, thích ca hát, yến tiệc, song ai cũng kính trọng vì ông làm việc công minh, được ví với Quách Tử Nghi – bậc đại thần xa hoa mà không ai chê trách.

Năm 1330, dưới triều Trần Hiến Tông, Chiêu Văn Đại vương Trần Nhật Duật qua đời, thọ 75 tuổi. Cuộc đời ông gắn liền với giai đoạn huy hoàng nhất của triều Trần, là biểu tượng của trí tuệ, nhân nghĩa và lòng trung chính, góp phần củng cố nền thịnh trị Đại Việt sau ba lần kháng chiến chống Nguyên – Mông.

Gia đình

Cha: Trần Thái Tông.

Mẹ: Vũ phi, húy Vượng (theo thần phả)

Vợ: Trinh Túc phu nhân và một số vợ lẽ, nàng hầu, đều là người Thanh Hóa. Các con ông đều là do các thê thiếp người Thanh Hóa sinh ra. Sau này, triều đình có lệ lấy con cháu Chiêu Văn Đại vương làm tri phủ Thanh Hóa, giống như việc con cháu Tĩnh Quốc Đại vương Trần Quốc Khang được nối nhau là tri châu Diễn châu.

Thờ tự

Hiện nay, đền thờ Trần Nhật Duật được dựng tại nhiều địa phương trên cả nước, tiêu biểu như đền Trần Nhật Duật ở xã Yên Thắng, huyện Ý Yên, tỉnh Nam Định; đền Trần Nhật Duật ở xã Tân Sở, tỉnh Quảng Trị; và đền Trần Nhật Duật tại xã Quảng Hợp, huyện Quảng Xương, tỉnh Thanh Hóa. Những ngôi đền này không chỉ là nơi thờ phụng, mà còn là biểu tượng của lòng tôn kính, sự biết ơn và niềm tự hào dân tộc dành cho một bậc hiền tài kiệt xuất trong lịch sử.

Tài liệu tham khảo

  1. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  2. Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  4. Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  5. Phùng Văn Khai, 2010, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật: Danh tướng mềm mỏng, Báo Công an nhân dân, truy cập tại: https://cand.com.vn/Nhan-vat/Chieu-Van-Vuong-Tran-Nhat-Duat-Danh-tuong-mem-mong-i313009/ ngày 6/11/2025

Ngôn ngữ khác 

Tiếng anh

Prince Tran Nhat Duat (1255 – 1330)

Biography

Chieu Van Vuong Tran Nhat Duat (1255–1330) was the sixth son of King Tran Thai Tong, born in the fourth lunar month of the Year of the Wood Rabbit (1255). By lineage, Tran Nhat Duat was the paternal half-brother of Tran Thanh Tong and Chieu Minh Dai Vuong Tran Quang Khai, and the maternal brother of Chieu Quoc Vuong Tran Ich Tac and Chieu Dao Vuong Tran Quang Xuong.

According to the sacred records of the shrine in Mieu village, Mat Lang commune, Tay Chan district (now Co Le town, Truc Ninh, Nam Dinh province), a folk tale about his origins is still preserved.

In the year Ky Hoi (1239), during an inspection tour in Thien Truong prefecture, King Tran Thai Tong stopped to rest at Mieu village. When the villagers presented offerings, the king asked about farming to show his closeness to the people. Unexpectedly, the person chosen to respond was not an elder but a young woman named Vu Thi Vuong, also called Vuong Nuong. She was famed in the region for her beauty, grace, and deep knowledge of agriculture. Her intelligence and eloquence greatly impressed the king. After this encounter, Tran Thai Tong brought her into the palace and granted her the title of Fifth Palace Concubine, under the name Vu Phi.

Legend holds that Vu Phi conceived Tran Nhat Duat after an auspicious dream. During a 21-day ritual for conception, she dreamed one night that a great star fell from the sky onto her bed. Soon after, she became pregnant. At noon on the tenth day of the fourth lunar month of the Year of the Wood Rabbit (1255), she gave birth to a handsome prince of extraordinary appearance. The child was named Nhat Duat, meaning “light that shines everywhere.” Upon his birth, four characters—Chieu Van Dong Tu (昭文童子)—appeared on his arm. From this omen, King Tran Thai Tong granted him the title Chieu Van Vuong.

Diplomatic Abilities

Tran Nhat Duat was renowned for his erudition, deep understanding of Daoist classics, and respect for Taoism. He was fluent in multiple languages—Song Chinese, Cham, and even languages of neighboring ethnic groups. He frequently associated with Song Chinese and Cham people living in Dai Viet, often riding an elephant to Ba Gia village, where Cham prisoners of war had settled, staying for days to converse with them. He also visited Tuong Phu Pagoda to discuss philosophy with monks from the Song dynasty. Because of his scholarly reputation, foreign visitors to Thang Long routinely sought him out, viewing his residence as a center of learning.

Even while serving as grand chancellor under Tran Anh Tong, he maintained a simple lifestyle, regularly visiting his Song friends and engaging in long conversations. Beyond his scholarship, he was also highly skilled in music, creating many unique melodies and dance rhythms.

In his early twenties, he was entrusted with issues relating to frontier ethnic groups. When receiving envoys from the Yuan dynasty, he spoke with them naturally without interpreters, causing them to believe he was a Han Chinese from Zhen Ding serving in Dai Viet.

After King Thai Tong passed away (October 1277), the throne transferred to Tran Nhan Tong (1279). During this reign, envoys from Sach Ma Tich (Tumasik—modern Singapore) arrived, but no one knew their language. Tran Nhat Duat served as interpreter, prompting King Nhan Tong to remark:

“Chieu Van Vuong must be the reincarnation of a polyglot, so fluent is he in the languages of foreign lands.”

In 1280, as Trinh Giac Mat rebelled in the Da Giang region (modern Moc Chau, Son La, and Da Bac, Hoa Binh), the Tran court was preparing for war against the Yuan. King Nhan Tong sent Tran Nhat Duat to pacify the rebellion. Despite warnings of an assassination plot, he rode alone with only a few attendants into Giac Mat’s camp. Speaking calmly in the local language and observing native customs—drinking wine through the nose and eating with bare hands—he won Giac Mat’s admiration and secured his submission.

By “pacifying Da Giang without firing a single arrow,” he secured the northwest border, allowing the Tran court to concentrate fully on resisting the Mongol–Yuan invasions. He later cared for Giac Mat’s family and petitioned the king to grant them titles and allow their return home.

The Two Yuan Wars (1285 and 1287–1288)

In 1284, Kublai Khan ordered Prince Thoat Hoan to invade Dai Viet. At the time, Tran Nhat Duat was guarding Tuyen Quang. When the Yuan forces captured Thu Vat (Yen Bai), he strategically withdrew to Bach Hac, avoiding ambush and preserving his troops. He was then sent to Nghe An to oppose Toa Do; although he lost the battle, he maintained strategic initiative.

During the Tran counteroffensive, he and Hung Dao Vuong planned the battle of Ham Tu. He employed a clever ruse: recruiting former Song soldiers and dressing them in Song uniforms to deceive the enemy. Believing Dai Viet had received Song reinforcements, the Yuan troops panicked and fled. The victory at Ham Tu was resounding and contributed decisively to the triumph of 1285.

During the third resistance war (1287–1288), Tran Nhat Duat commanded 40,000 troops at Moc Ngot (Viet Tri), fighting eighteen engagements against Ai Lo’s forces advancing from Yunnan. Despite casualties, he withdrew safely, preserving his army according to Tran Hung Dao’s strategy of “fighting while retreating to lure the enemy into traps.”

Tran Nhat Duat was both a commander and an intellectual—bold when needed, cautious when necessary—using strategy and wisdom as his weapons. He played a vital role in the two great victories, earning a place among the outstanding heroes of the Tran dynasty.

Administration and Governance

In 1293, after Tran Nhan Tong abdicated in favor of Crown Prince Thuyen (Tran Anh Tong), Tran Nhat Duat continued to be entrusted with major responsibilities. In 1297, he was sent to suppress the rebellion in A Loc.

In 1302, he was appointed Thai Uy Quoc Cong, governing state affairs alongside Tran Duc Diep and Tran Quoc Chan. King Anh Tong trusted him deeply, frequently seeking his counsel. He named two types of military helmets for the king and designed educational institutions for the Crown Prince, demonstrating his refined cultural insight.

When Prince Tran Manh (later Tran Minh Tong) was born in 1300, Tran Nhat Duat was entrusted with his upbringing. He cared for the prince devotedly and named him Thanh Sinh.

During the southern campaign against Champa (1311–1312), while King Anh Tong led the army, Tran Nhat Duat remained as regent with the crown prince. After the victory, the king did not reward battlefield generals separately, believing that the contributions of Tran Nhat Duat and those managing state affairs were equally significant.

Under Tran Minh Tong (1314), he was appointed Ta Thanh Thai Su, and under Tran Hien Tong (1329), he was elevated to Chieu Van Dai Vuong. Serving across four reigns and governing many strategic regions, he was known for integrity, fairness, magnanimity, and kindness.

Historical records state that he never kept whips in his household; any punishment of servants was accompanied by clear explanation. He remained calm, revealing neither joy nor anger. Though fond of music and feasts, he was respected for his upright conduct—often compared to Guo Ziyi, the Tang dynasty statesman famed for his luxury yet impeccable reputation.

In 1330, under Tran Hien Tong, Chieu Van Dai Vuong Tran Nhat Duat passed away at age 75. His life was inseparable from the golden age of the Tran dynasty—symbolizing wisdom, benevolence, and loyalty—contributing to the flourishing of Dai Viet after three Mongol–Yuan invasions.

Family

  • Father: Tran Thai Tong

  • Mother: Vu Phi, personal name Vuong

  • Wife: Trinh Tuc phu nhan, along with several secondary wives and attendants, all from Thanh Hoa.

    All his children were born to women from Thanh Hoa. Later, the court established a tradition of appointing his descendants as administrators of Thanh Hoa, similar to how descendants of Tinh Quoc Dai Vuong Tran Quoc Khang succeeded as governors of Dien Chau.

Veneration

Today, shrines dedicated to Tran Nhat Duat exist throughout Vietnam, notably in:

  • Yen Thang commune, Y Yen district, Nam Dinh

  • Tan So commune, Quang Tri province

  • Quang Hop commune, Quang Xuong district, Thanh Hoa

These shrines serve not only as places of worship but also as symbols of reverence, gratitude, and national pride toward a distinguished and virtuous figure in Vietnamese history.

References

  1. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  2. Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  4. Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  5. Phùng Văn Khai, 2010, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật: Danh tướng mềm mỏng, Báo Công an nhân dân, truy cập tại: https://cand.com.vn/Nhan-vat/Chieu-Van-Vuong-Tran-Nhat-Duat-Danh-tuong-mem-mong-i313009/ ngày 6/11/2025

Tiếng Pháp

Chieu Van Vuong Tran Nhat Duat

Biographie

Chieu Van Vuong Tran Nhat Duat (1255–1330), sixième fils du roi Tran Thai Tong, naquit au quatrième mois de l’année At Mao (1255). Par filiation, Tran Nhat Duat était demi-frère de Tran Thanh Tong et de Chieu Minh Dai Vuong Tran Quang Khai ; il était en même temps frère utérin de Chieu Quoc Vuong Tran Ich Tac et de Chieu Dao Vuong Tran Quang Xuong.

Selon la than tich du temple du hameau Mieu, commune Mat Lang, district Tay Chan (actuellement dans le bourg Co Le, district Truc Ninh, province de Nam Dinh), une légende populaire s’y rattache quant à son origine.

En 1239 (année Ky Hoi), lors d’une tournée d’inspection à Thien Truong, le roi Tran Thai Tong fit halte au village Mieu. Quand les habitants vinrent présenter leurs offrandes, il interrogea sur l’agriculture pour montrer sa sollicitude envers le peuple. De manière inattendue, la personne choisie pour répondre n’était pas un notable âgé, mais une jeune femme nommée Vu Thi Vuong, ou Vuong Nuong, réputée dans la région pour sa beauté, son habileté et ses profondes connaissances agricoles. Son intelligence et son aisance oratoire séduisirent le roi.

Après cette rencontre, Tran Thai Tong la fit entrer au palais, la nomma cinquième concubine et lui donna le titre de Vu Phi.

Une tradition raconte que Vu Phi conçut Tran Nhat Duat après un songe extraordinaire : durant une cérémonie de prière pour obtenir un héritier qui dura vingt et un jours, elle rêva une nuit qu’une grande étoile tombait du ciel sur son lit, puis devint enceinte. À l’heure de Ngo du dixième jour du quatrième mois de l’année At Mao (1255), elle donna naissance à un prince d’une beauté remarquable. On lui donna le nom Nhat Duat, signifiant « lumière éclairant de toutes parts ». À sa naissance, on vit sur sa main les quatre caractères Chieu Van dong tu 昭文童子. De ce présage, le roi lui conféra le titre Chieu Van Vuong.

Aptitudes diplomatiques

Tran Nhat Duat était célèbre pour son érudition remarquable. Profondément versé dans les Classiques taoïstes, adepte du Dao, il maîtrisait plusieurs langues : la langue Song, le Cham, et comprenait les coutumes de nombreux peuples voisins. Il fréquentait souvent les communautés Song et Cham installées à Dai Viet, se rendant à dos d’éléphant au hameau Ba Gia — où résidaient d’anciens captifs cham — pour converser avec eux plusieurs jours.

Il visita également souvent la pagode Tuong Phu pour discuter avec les moines Song. Grâce à sa compréhension ouverte et bienveillante, les étrangers venant à Thang Long rendaient tous visite à sa demeure, devenue un véritable centre d’échanges intellectuels.

Même lorsqu’il devint te tuong (Premier ministre) sous Tran Anh Tong, il conserva un mode de vie simple et continuait de rencontrer régulièrement ses amis Song. Outre son érudition, il excellait en musique et créa divers rythmes et danses originaux.

Dès l’âge de vingt ans, il reçut la charge de gérer les affaires des peuples frontaliers. Lorsqu’il reçut les envoyés des Yuan, il conversa naturellement sans interprète, au point qu’ils le prirent pour un Han originaire de Zhendong venu servir à Dai Viet.

Après la mort de Thai Tong (1277), le pouvoir passa à Tran Nhan Tong (1279). Sous le nouveau règne, une ambassade de Sach Ma Tich (Temasek — Singapour actuel) vint présenter des tributs, mais personne ne comprenait leur langue. Tran Nhat Duat interpréta lui-même, ce qui étonna le roi, qui déclara :

« Chieu Van Vuong doit être la réincarnation d’un interprète, tant il maîtrise les langues étrangères. »

En 1280, lorsqu’une révolte éclata à Da Giang (actuels Moc Chau, Son La, et Da Bac, Hoa Binh) menée par Trinh Giac Mat, le roi Nhan Tong l’envoya rétablir l’ordre. Malgré les avertissements d’assassinat, il s’y rendit seul, parlant la langue locale, respectant les coutumes, buvant par le nez et mangeant avec les mains à la manière des autochtones. Giac Mat, impressionné, se soumit.

Cette pacification « sans tirer une seule flèche » permit à la dynastie Tran de stabiliser la frontière nord-ouest pour se consacrer entièrement à la résistance contre les Mongols-Yuan. Par la suite, il prit soin de la famille de Giac Mat et demanda au roi de leur accorder titre et retour au pays natal.

Deux résistances contre les Mongols-Yuan (1285 ; 1287–1288)

En 1284, Kubilai Khan envoya Thoat Hoan à la tête de trois armées envahir Dai Viet. À cette époque, Tran Nhat Duat était en poste à Tuyen Quang. Quand les Yuan prirent Thu Vat (Yen Bai), il effectua une retraite stratégique vers Bach Hac pour éviter une embuscade et préserver ses forces.

Envoyé ensuite à Nghe An contre Toa Do, il fut battu mais conserva l’initiative.

Lors de la contre-offensive, il participa à la bataille de Ham Tu avec Hung Dao Vuong. Il imagina une ruse : recruter d’anciens soldats Song, leur faire porter des uniformes Song pour tromper l’ennemi. Les Yuan crurent à l’arrivée de renforts étrangers, paniquèrent et prirent la fuite. La victoire de Ham Tu fut décisive pour la campagne de 1285.

Lors de la troisième invasion (1287–1288), il commanda quarante mille hommes à Moc Ngot (Viet Tri) et livra dix-huit combats successifs contre les troupes d’Ai Lo venant du Yunnan. Malgré les pertes, il retira son armée intacte selon la stratégie de Tran Hung Dao : « combattre tout en se repliant, attirer l’ennemi dans le piège ».

Gouvernance en temps de paix

En 1293, après l’abdication de Tran Nhan Tong au profit de son fils Tran Anh Tong (prince Thuyen), Tran Nhat Duat continua d’être fortement respecté.

En 1297, il fut envoyé réprimer la révolte du sach A Loc.

En 1302, il fut promu Thai uy Quoc cong, gouvernant aux côtés des dignitaires Tran Duc Viep et Tran Quoc Chan. Le roi Anh Tong avait en lui une confiance absolue et le consultait pour toutes les affaires. Il fut notamment l’auteur des noms des deux casques militaires du roi et de certaines institutions éducatives du palais du prince héritier, témoignant de sa culture raffinée.

À la naissance du prince Tran Manh (futur Tran Minh Tong) en 1300, il fut chargé de l’élever et lui donna le nom Thanh Sinh.

Lors de la campagne du sud (1311–1312) contre Champa, alors que le roi Anh Tong commandait personnellement l’armée, Tran Nhat Duat exerça la régence avec le prince héritier. Après la victoire, le roi ne récompensa pas seulement les généraux, estimant que les mérites de Tran Nhat Duat et de ceux qui avaient assuré la gestion du royaume étaient tout aussi importants.

Sous le règne de Tran Minh Tong (1314), il fut nommé Ta Thanh Thai su, puis sous Hien Tong (1329) promu Chieu Van Dai Vuong. Ayant servi quatre règnes et exercé le contrôle de régions clés, il resta célèbre pour son intégrité, sa droiture et sa bienveillance.

Les chroniques rapportent qu’il n’y avait ni fouet ni châtiment brutal dans sa maison ; les domestiques n’étaient punis qu’après explication claire des fautes. Calme et mesuré, il ne laissait jamais paraître colère ou joie. Malgré son goût pour les banquets et la musique, il inspirait un profond respect, semblable à Guo Zi Yi, grand général réputé pour son opulence sans jamais être blâmé.

En 1330, sous Tran Hien Tong, Chieu Van Dai Vuong Tran Nhat Duat mourut à l’âge de 75 ans. Sa vie accompagna l’âge d’or de la dynastie Tran, symbole d’intelligence, de droiture et de loyauté, contribuant à la consolidation d’un Dai Viet prospère après trois guerres contre les Mongols-Yuan.

Famille

  • Père : Tran Thai Tong

  • Mère : Vu Phi (nom personnel : Vuong)

  • Épouse principale : Trinh Tuc phu nhan

  • D’autres épouses et concubines, toutes originaires de Thanh Hoa ; ses enfants naquirent tous de ces femmes. Plus tard, les descendants de Chieu Van Dai Vuong eurent la charge héréditaire de tri phu Thanh Hoa, de la même manière que la lignée de Tinh Quoc Dai Vuong Tran Quoc Khang dirigeait la préfecture de Dien Chau.

Culte

De nos jours, plusieurs temples lui sont consacrés :

  • le temple Tran Nhat Duat à la commune Yen Thang, district Y Yen, province de Nam Dinh ;

  • le temple Tran Nhat Duat à la commune Tan So, province de Quang Tri ;

  • et le temple Tran Nhat Duat à la commune Quang Hop, district Quang Xuong, province de Thanh Hoa.

Ces sanctuaires sont non seulement des lieux de culte, mais aussi des symboles de respect, de gratitude et de fierté nationale envers l’un des plus grands sages et stratèges de l’histoire vietnamienne.

Références

  1. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  2. Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  4. Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  5. Phùng Văn Khai, 2010, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật: Danh tướng mềm mỏng, Báo Công an nhân dân, truy cập tại: https://cand.com.vn/Nhan-vat/Chieu-Van-Vuong-Tran-Nhat-Duat-Danh-tuong-mem-mong-i313009/ ngày 6/11/2025

Tiếng Trung 

昭文王陳日煜 (Tran Nhat Duat)(1255–1330)

傳記**

昭文王陳日煜 (Tran Nhat Duat)(1255–1330)為陳太宗 (Tran Thai Tong) 第六子,生於乙卯年(1255)四月。就血統而論,陳日煜 (Tran Nhat Duat) 與陳聖宗 (Tran Thanh Tong) 及昭明大王陳光啟 (Tran Quang Khai) 係同父異母,又與昭國王陳益稷 (Tran Ich Tac) 及昭道王陳光上 (Tran Quang Xuong) 係同母兄弟。據今南定省直寧縣古禮鎮(原西真縣末陵社廟村)之神誌,尚流傳一段關於其身世的民間故事。

1239年(己亥),陳太宗 (Tran Thai Tong) 巡遊天長府,途經廟村。村人獻禮時,皇帝詢問農耕民事,所派對答者非耆老,而是一位名曰武氏旺 (Vu Thi Vuong),又稱旺娘 (Vuong Nuong) 的少女。她美貌知禮、巧慧勤勞,尤精於農事。其機敏聰慧令皇帝驚艷。其後陳太宗 (Tran Thai Tong) 召武氏旺 (Vu Thi Vuong) 入宮,封為第五宮妃,號武妃 (Vu phi)。

相傳武妃 (Vu phi) 懷陳日煜 (Tran Nhat Duat) 時,曾得異夢。求子二十一日之祭禮中,一夜夢見大星墜於其床,遂有孕。乙卯年四月初十午時(1255),生下一名相貌出眾之皇子,名曰日煜,寓意「光明普照」。初生時,其手掌顯現「昭文童子」四字。陳太宗 (Tran Thai Tong) 因此賜號昭文王(昭文王)。

就血統而言,陳日煜 (Tran Nhat Duat) 既是陳聖宗 (Tran Thanh Tong)、昭明大王陳光啟 (Tran Quang Khai) 之同父異母弟,亦與昭國王陳益稷 (Tran Ich Tac)、昭道王陳光上 (Tran Quang Xuong) 同母。

外交才能

陳日煜 (Tran Nhat Duat) 以博學聞名,熟讀道家經典,崇尚道教,並精通多種外語:宋語、占城語,甚至了解諸鄰族的習俗。他常與居於大越之宋人、占人交往,亦常騎象前往婆耶村(Bà Già,舊占俘居地)小住交談;又至祥撫寺與宋僧論道。因其胸襟開闊、見識深廣,凡外國使者至昇龍,皆必訪之,視其邸第如學林薈萃之處。即便在陳英宗 (Tran Anh Tong) 朝為宰相時,仍保持簡樸之風,常與宋友促膝而談。除學識之外,他亦精於音樂,創作多種舞樂曲調。

二十歲後,即被委任處理邊族事務。曾接見元使而無需翻譯,使元使誤以為他是從真定(河北)入仕的漢人。

1277年十月陳太宗 (Tran Thai Tong) 崩後,1279年陳仁宗 (Tran Nhan Tong) 即位。一度有三佛齊多馬昔國(Tumasik,新加坡)使臣來貢,宮中無人識其語,唯陳日煜 (Tran Nhat Duat) 能翻譯,令仁宗稱奇曰:「昭文王必是番僚之後身,故諳百語。」

1280年,沱江地區(今山羅、和平之木州、沱北一帶)之鄭覺密 (Trinh Giac Mat) 叛亂,朝廷急備御元,仁宗遣陳日煜 (Tran Nhat Duat) 平亂。他僅帶少僕入覺密營,按當地風俗言談:以鼻飲酒、以手抓食,使覺密感服而歸順。

因「不失一箭平沱江」,使西北安定,令朝廷得專力抗元。戰後,他更照料覺密家屬,請朝廷授爵並遣其返鄉。

兩度抗元(1285、1287–1288)

1284年,忽必烈 (Hoat Tat Liet) 命脫歡 (Thoat Hoan) 率三軍南侵。時昭文王鎮守宣光。元軍陷收越之收物(今安沛),陳日煜 (Tran Nhat Duat) 乃撤往白鶴,以避伏擊。後奉命入乂安抗唾都(Toa Do),雖失利,仍保存實力。

反攻之時,他與興道王陳國峻 (Tran Hung Dao) 謀定於含紫之戰。他選募宋人,著宋軍服迷惑元軍,敵以為宋朝援軍至,驚懼敗退。含紫大捷,為1285年勝利之關鍵之一。

第三次抗元(1287–1288),陳日煜 (Tran Nhat Duat) 率四萬軍於木兀(越池)十八戰連鬥雲南來之愛魯(Ai Lo)。雖受損,仍全軍退保,符合興道王「以退誘敵」之策。

他不僅為良將,更為智者,進退有度,以智略制敵。其功勳深著於兩次大勝,為陳朝英傑之一。

治世事業

1293年,陳仁宗 (Tran Nhan Tong) 禪位於太子僖(陳英宗 Tran Anh Tong),陳日煜 (Tran Nhat Duat) 續受重用。1297年,奉命平冊阿祿叛亂。

1302年,封太尉國公,與陳德業 (Tran Duc Viep)、陳國瑱 (Tran Quoc Chan) 共理朝政。英宗 (Tran Anh Tong) 對其深賴,大小政務皆諮之。宮中二武冠及太子書院諸名,皆出自其手,顯其深厚學識。

1300年皇子陳猛 (Tran Manh,後為陳明宗 Tran Minh Tong) 誕生,由陳日煜 (Tran Nhat Duat) 撫育,命名為「聖生」。

1311–1312年南征占城時,英宗 (Tran Anh Tong) 親征,陳日煜 (Tran Nhat Duat) 與太子監國。凱旋後,王未獨賞將校,認為監國諸臣亦功不可沒。

明宗 (Tran Minh Tong) 即位(1314),陳日煜 (Tran Nhat Duat) 授「佐聖太師」,至憲宗 (Tran Hien Tong) 朝(1329)進封昭文大王。歷四朝,屢守要職。史稱其家無杖罰,如責家奴必先明罪。性情篤定,不形喜怒。雖好華宴,然清正,似唐之郭子儀,雖華貴無人譏。

1330年,昭文大王陳日煜 (Tran Nhat Duat) 卒,享年七十五。其生平貫穿陳朝盛世,以智慧、仁義與忠正著稱,為三次抗元後鞏固大越治世之重臣。

家族

父:陳太宗 (Tran Thai Tong)

母:武妃 (Vu phi),名旺 (Vuong)

妻:貞肅夫人及諸妾侍,多為清化人。其子亦皆清化婦所生。後朝以昭文大王後裔為清化知府,如同靖國大王陳國杭 (Tran Quoc Khang) 之後裔世襲演州知州。

祭祀

今全國多處建有昭文王陳日煜 (Tran Nhat Duat) 之祠,如南定省義安縣安勝社、廣治省新所社、清化省廣昌縣廣合社等。諸祠不僅為祭祀之所,亦象徵後世對此賢臣之敬仰與民族自豪。

参考

  1. Uỷ ban Khoa học Xã hội Việt Nam – Viện Văn học, 1997, Thơ văn Lý – Trần tập 1, NXB Khoa học xã hội, Hà Nội.
  2. Viện khoa học xã hội Việt Nam, 1998, Đại Việt Sử Kí Toàn Thư, Nxb Khoa học xã hội, Hà Nội.
  3. Viện Khoa học Xã hội Việt Nam, 2002, Khâm định Việt sử thông giám cương mục tập 1, Nxb Giáo dục, Hà Nội.
  4. Ngô Thì Sĩ, 2018, Đại Việt sử ký tiền biên, Nxb Hồng Đức, Hà Nội.
  5. Phùng Văn Khai, 2010, Chiêu Văn Vương Trần Nhật Duật: Danh tướng mềm mỏng, Báo Công an nhân dân, truy cập tại: https://cand.com.vn/Nhan-vat/Chieu-Van-Vuong-Tran-Nhat-Duat-Danh-tuong-mem-mong-i313009/ ngày 6/11/2025
Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (3)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)