Tiểu sử
Cư sĩ Lê Văn Định, Pháp danh Chơn An, tự Nguyên Tịnh, hiệu Vĩnh Xuyên, sinh ngày 23 tháng 6 năm Quý Tỵ (04-8-1893) tại làng La Qua, hữu ngạn sông Vĩnh Điện, tỉnh Quảng Nam.
Cư sĩ là con thứ ba của Ngài Tiền quân Đại thần Lê Văn Bá (làng Hương Cần, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên) và cụ bà nguyên phối Trần Thị Kiều (làng La Qua, tỉnh Quảng Nam). Vì hai người anh của Cư sĩ mất sớm, ngay lúc sơ sinh, nên Cư sĩ trở thành vị thừa kế của Đại thần Lê Văn Bá.
Năm lên 10, Cư sĩ được thân phụ đưa đến chùa Triều Tôn, tỉnh Phú Yên xin quy y Tam Bảo ngày 15 tháng 10 năm Quý Mão (03-12-1903) do Hòa thượng Tuệ Hương truyền giới .
Lúc thiếu thời, Cư sĩ có vài năm theo học chương trình Pháp – Việt, nhưng sau đó lại theo học chữ Hán. Cư sĩ lập gia đình năm Tân Hợi (1911). Vị nguyên phối của Cư sĩ là bà Tôn Nữ Thị Xuân, Pháp danh Tâm Thứ, sinh năm Quý Tỵ (1893), là con gái thứ tư của Đông các Đại học sĩ Tôn Thất Trạm và bà Tạ Thị Quỳnh.
Cư sĩ đậu Tú tài Hán học khoa Ất Mão (1915). Sau khi tốt nghiệp Chánh ban trường Hậu Bổ, được bổ nhiệm giữ nhiều chức vụ hành chánh trong chính phủ Nam triều. Năm 1944, được thăng thọ Tuần vũ tỉnh Quảng Ngãi.
Suốt thời gian dài 25 năm làm quan ở các tỉnh miền Trung, Cư sĩ là người thanh liêm, cương trực, không nhận hối lộ của dân, không tham nhũng, không lạm công quỹ, chỉ mong cầu được nếp sống thanh bạch, ấm no, chẳng bao giờ nghĩ đến làm trái đạo để vinh thân, phì gia.
Vào các năm cuối thập niên 30 và đầu thập niên 40, có nhiều sự việc xảy ra làm thay đổi quan niệm sống của Cư sĩ. Nhờ “tàm”, “quý” trợ duyên và nhờ lòng “chí hiếu” đối với nghiêm phụ làm “Tăng thượng duyên”, Cư sĩ đã kịp tìm bước quay đầu trở lại hướng về Tam Bảo.
Từ đây, ở trong gia đình, Cư sĩ thật sự mang lại an vui, đầm ấm, hạnh phúc; ở trong Giáo hội Cư sĩ trở thành một vị “hộ pháp” trung kiên.
Cũng từ đó, Cư sĩ bắt đầu tham khảo kinh sách. Nhờ tinh thông Hán học nên đọc kinh sách Phật rất mau hiểu. Là người học Phật, với sự đam mê cố hữu của mình, Cư sĩ đã biến sự đam mê thế gian thành niềm tin vững chắc nơi Tam Bảo; dõng mãnh, tinh tấn trên bước đường học đạo. Cư sĩ đã thỉnh Hòa thượng Đôn Hậu từ Huế vào Quảng Nam (1941), mời lưu lại trên hai tháng để giảng Pháp, vào những năm 1942-1943, ngay sau khi nhận chức Bố chánh tỉnh Bình Định. Cư sĩ lại cũng có duyên lành gặp Hòa thượng Mật Nguyện đang hoằng Pháp ở trong tỉnh nên Cư sĩ đã nghe Hòa thượng giảng Kinh, Luận và cùng được đàm luận về diệu lý nhiệm mầu trong biển cả Phật pháp. Cũng do Hòa thượng Mật Nguyện mà Cư sĩ được nhiều dịp diện kiến Quốc sư Phước Huệ. Mặc dù công việc đa đoan, nhưng Cư sĩ cũng đã thu xếp thời gian về chùa Thập Tháp để thọ Pháp.
Để tỏ lòng tôn kính đấng Đại giác, Cư sĩ đã bỏ nhiều công phu trang trí nơi thờ phụng. Cư sĩ đúc một pho tượng Phật Thích Ca bằng đồng, cao 7 tấc tây, an vị trên một tòa sen bằng gỗ huỳnh tâm, chạm trổ rất tinh vi. Nơi gian nhà thờ Phật có chuông to, mõ lớn; có đủ lư nhang, chân đèn; tràng phan, bảo cái… chẳng khác gì một ngôi chùa nhỏ.
Năm 1945, sau đảo chánh Nhật, Cư sĩ về hưu trí, sống ở quê làng Hương Cần. Thời bấy giờ, kinh tế ngưng trệ, gia đình quá thanh bạch nếu không nói là quá túng thiếu, nên bất đắc dĩ Cư sĩ phải cùng với con cháu quay sang làm ruộng, làm đất khô để nuôi sống gia đình. Cuối năm 1947, Cư sĩ cùng với gia đình dời nhà lên Huế.
Một năm sau (1948), Cư sĩ được Giáo hội mời làm Chánh Hội trưởng Tổng Trị sự Hội Việt Nam Phật học ở Trung phần. Ngay sau khi nhận trách nhiệm tại Hội Việt Nam Phật học, Cư sĩ liền mời Cư sĩ Cao Hữu Đính cộng tác trong chức vụ Tổng Thư ký của Hội.
Với lòng biết ơn sâu dày đối với đức Từ phụ Như Lai, Cư sĩ đã dành nhiều thời giờ để xúc tiến Việt hóa và thống nhất hóa của giới Cư sĩ; soạn thảo nhiều bài sám, bài phát nguyện, bài tụng… kỷ niệm các ngày lễ lớn trong năm như: Phật Đản, Phật Xuất gia, Phật Thành đạo, Phật nhập Niết-bàn, Vu-Lan…; quen thuộc nhất đối với giới Phật tử là bài tụng Phát nguyện và Quy y.
Đầu năm 1950, Cư sĩ được Giáo hội mời đứng làm chủ nhiệm để tục bản tờ báo “Viên Âm”, cùng với Hòa thượng Trí Quang làm chủ bút và Cư sĩ Tôn Thất Tùng làm quản lý.
Năm 1951, Cư sĩ thôi làm Hội trưởng Tổng Trị sự Hội Việt Nam Phật học Trung phần, năm đó lại được bầu làm Phó Hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam.
Cuối mùa hè năm 1955, Cư sĩ vào Sài gòn tham dự Đại hội kỳ II của Tổng Hội Phật giáo Việt Nam tại chùa Phước Hòa. Đại hội đã tái bầu Hòa thượng Tịnh Khiết làm Hội chủ, Hòa thượng Huệ Quang và Cư sĩ Chơn An làm Phó hội chủ, Cư sĩ Mai Thọ Truyền làm Tổng thư ký.
Năm 1958, Cư sĩ ra Nha Trang thọ Bồ-tát giới tại Đại giới đàn Hải Đức do Đại lão Hòa thượng Giác Nhiên làm Đàn đầu. Cư sĩ Chơn An lúc bấy giờ được 66 tuổi, đã dâng lên Ban Chứng minh Đại giới đàn một bài Phát nguyện đầy ý thức cảnh giác và phản tỉnh:
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai,
Trót lầm mê đắm đuối hình hài,
Đếm đốt đã sáu tuần thêm sáu tuổi.
Triều quận trong ngồi rong ruổi,
Nợ áo xiêm luồn cúi lấy làm vinh,
Bởi căn trần bưng bít tâm linh,
Không thấy đạo Bồ-đề cao cả.
Vạn pháp duyên sinh đô thị giả,
Tốn lai danh lợi hữu hồn vô,
Bể trần ái sóng dợn lô nhô,
Cảnh phù thế cái vui lồng cái khổ.
Thân tập nhiễm không sớm lo tự độ,
Đời kiếp nào cho hiển lộ Pháp thân?
Trước đài sen Vô thượng Năng nhân,
Sụp mình lạy nguyện làm đệ tử:
Giới Bồ-tát con thề trọn giữ,
Đời đời noi Đại sự độ sanh,
Mong cho thế giới an lành.
Cũng vào cuối năm 1958, Cư sĩ Chơn An xin từ chức Phó hội chủ Tổng hội Phật giáo Việt Nam. Cư sĩ Chánh trí Mai Thọ Truyền thay thế ở chức vụ này.
Cuối năm 1962, Cư sĩ Chơn An dọn nhà vào Sài gòn. Từ đây, hằng ngày chỉ vui với con cháu, lo vun tưới vài cây cảnh ở mảnh vườn trước nhà. Cư sĩ cũng hay họp mặt với các bạn đạo đàm luận về giáo lý, xướng họa thơ văn.
Vào khoảng năm 1978, Cư sĩ bị bệnh và sức khỏe cũng sút kém cho đến lúc lâm chung tối ngày 05 tháng 11 năm 1980 lúc 17 giờ 25 (28-09 Canh Thân) giữa tiếng niệm Phật của con cháu1.
Nhớ Phật tử Chơn An – Lê Văn Định
Sách có dạy: “Nhơn năng hoằng đạo phi đạo hoằng nhơn” (Con người mới có thể hoằng đạo chớ đạo không thể hoằng người). Đó là lời nhắn nhủ của chư Tổ đối với hàng Tăng Ni Phật tử chúng ta, những người có tâm niệm cầu giải thốt, thao thức với việc lợi tha tự giác. Muốn lợi tha tự giác thì chính bản thân mình làm thế nào xứng đáng là một người xuất gia cũng như một người Phật tử tại gia biết tôn trọng Pháp và biết hoằng dương Pháp. Đặc biệt là biết đặt sự hoằng dương chính pháp lên trên tất cả mọi việc, khi ấy cái chí nguyện tu hành độ sanh mới có ý nghĩa viên mãn.
Cụ Chơn An – Lê Văn Định là bậc cư sĩ lớn đã có công lao nhiều đối với Phật pháp. Cụ vốn là một ông Tuần Vũ quan lớn của triều đình, thế nhưng vẫn giữ phong cách một nhà Nho chân chính, quân tử, thanh liêm, không bị danh lợi làm ô uế. Cụ sớm hiểu đạo và biết đạo mà phát tâm theo đạo một cách vững vàng. Cùng chung với Chư Tăng lãnh đạo Phật giáo phát huy Hội Phật học miền Trung trong giai đoạn cuối năm 1940-1952. Đó là thời gian chiến tranh chống Pháp rất gian nan khắc nghiệt, khó khăn và rất cực khổ. Cụ đảm đương chức vụ Hội trưởng Hội Phật học Trung phần, trong lúc đó tôi là Hội trưởng Tỉnh hội Thừa Thiên, cùng với Hòa thượng Trí Quang, Hòa thượng Thiện Minh với Cụ coi như là anh em, huynh đệ sát cánh bên nhau cùng chung lo Phật sự, nên bấy giờ có người nói tới hoặc nhắc tới cụ Chơn An – Lê Văn Định thì ai ai cũng biết cả.
Người ta quan niệm Cụ cũng gần gần như cụ Tâm Minh Lê Đình Thám. Trong giới đàn tổ chức tại Nha Trang năm 1958 Cụ đã thọ Bồ-tát tại gia, ở tại đó với một lời phát nguyện như thế này:
Sự trục nhãn tiền quá,
Lão tùng đầu thượng lai,
Trót lầm mê đắm đuối hình hài,
Đếm đốt đã sáu tuần thêm sáu tuổi.
Triều quận trong ngồi rong ruổi,
Nợ áo xiêm luồn cúi lấy làm vinh,
Bởi căn trần bưng bít tâm linh,
Không thấy đạo Bồ-đề cao cả.
Vạn pháp duyên sinh đô thị giả,
Tốn lai danh lợi hữu hồn vô,
Bể trần ái sóng dợn lô nhô,
Cảnh phù thế cái vui lồng cái khổ.
Thân tập nhiễm không sớm lo tự độ,
Đời kiếp nào cho hiển lộ Pháp thân?
Trước đài sen Vô thượng Năng nhân,
Sụp mình lạy nguyện làm đệ tử:
Giới Bồ-tát con thề trọn giữ,
Đời đời noi Đại sự độ sanh,
Mong cho thế giới an lành.
Qua lời phát nguyện của Cụ, ta biết tâm nguyện của Cụ như thế nào. Cụ đã phát tâm theo tinh thần đại thừa, tự lợi lợi tha, coi thân mạng, coi danh lợi như rơm như rác, chỉ biết phụng sự đạo pháp để lợi lạc quần sanh. Do đó đã ảnh hưởng đến trong gia đình và bao nhiêu người khác, mà ngày hôm nay, như lời tác bạch của con gái Cụ là Phật tử Tâm Quảng, chính cũng nhờ cái đức, cái tâm, cái sự hiểu biết chính đáng của Cụ đã gieo rắc và đã thành tựu viên mãn.
Giờ phút này, trước một tâm chí thành của các Phật tử, Chư Tăng xin nhớ lại công ơn của Cụ Chơn An – Lê Văn Định, Chư Tăng cũng xin hết lòng cầu nguyện cho song thân, tiền nhân của Phật tử được siêu thăng Lạc quốc, cũng y như là tiền nhân của các Phật tử, của các vị hảo tâm giúp đỡ cho việc hoằng dương Phật pháp được mọi điều lợi lạc, được siêu thăng Lạc quốc.
Nam-mô Tiếp dẫn Đạo sư A-di-đà Phật.
(Mồng 07 tháng 07 năm Giáp Tuất)
(Cụ Chơn An Lê Văn Định nguyên Hội trưởng Tổng hội Phật giáo Trung phần từ năm 1945-1950)
Phát biểu của Hòa thượng Thích Thiện Siêu
Chú thích:
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản