Đại Vương Thành Hoàng Chu Lý

Đại Vương Thành Hoàng Chu Lý

Thông tin cơ bản

Quốc triều Lễ bộ chính bản.

Nước Việt xưa, trời Nam gây dựng, núi sông ngang vắt sao Dực sao Chẩn, nước Bắc xưa phong hướng thẳng địa phận sao Đầu sao Ngưu. Khi triều Hùng mở vận, thánh tổ gánh vác cơ đồ, đời đời cha truyền con nối, đều lấy hiệu là Hùng Vương. Ngọc bạch xa thư, núi sông thống nhất, đó là tổ tiên của người Bách Việt.

Lại nói, vào thời nước Nam ta có 4 họ Đinh, Lê, Lý, Trần đều là bậc vua anh minh nối đời trị nước. Nước Nam ta trải đến thời Đinh Tiên Hoàng khởi nghĩa ở động Hoa Lư, vua tôi cùng trị nước, nền đức trị thanh bình, công lao dựng nước, yên định lòng người vượt trên cả các vua đời trước. Người đời đều ngợi ca là bậc vua sáng.

Lại nói, trước thời bấy giờ, đời truyền ở trang Bái Hương huyện Yên Định, phủ Thiệu Thiên, châu Ái, có một lệnh gia họ Uyên1, húy là Phổ, là người tài giỏi, khí chất siêu quần, anh hùng hào kiệt, danh tiếng khắp một vùng, lại là người tinh thông địa lý, giỏi chữ nghĩa, có thể hiểu rõ mọi chuyện, người trong thiên hạ đều yêu mến cảm phục.

Một hôm, ông ngao du thiên hạ, xem xét núi sông, hỏi bến sông Trí, dạo bộ nơi non Nhân, khi đi đến chòm Ngọ Tháp khu Trung, trang Dịch Vọng, huyện Từ Liêm, phủ Quốc Oai, trấn Sơn Tây, ông thấy địa thế quanh co, dân tục thuần phác, ông bèn ghé vào ở lại, lập một cung sở ở trên đất đó. Qua 2 năm, ông thấy khu Tiền trang ta có ông họ Nguyễn, tên là Phục, có một cô con gái tên là Ban Nương, tuổi vừa 19, xinh đẹp nết na, ông bèn mở yến tiệc, mời Phục công tới dự, nhân đó hỏi Ban Nương làm vợ. Lúc đó Phục công nghe nói, [67a] trong lòng thuận theo gả cho ông. Bấy giờ Phổ công mới chọn ngày, mang sính lễ tới rước về cung sở ở chòm Ngọ Tháp.

Bấy giờ ông cùng Ban Nương chung sống, được một, hai năm, loan phượng tình nồng, uyên ương hòa hợp. Một hôm, nhân tiết trời hè nóng bức, Ban Nương bèn ra sông Tô Lịch để tắm. Đương lúc đó bỗng thấy có giao long quấn lấy thân thái bà, thái bà khiếp sợ chạy về báo với Phổ công. Phổ công lấy làm lạ bèn lập đàn tế để trừ việc quái đản. Đến ngày thứ 3, thái bà bỗng thấy trong bụng đau đớn, trong lòng chuyển động mà có thai. Lúc đó ông mới đoán tất là do Long Vương giao phối bèn dựng riêng một cung ở đất khu Tiền trang ta rồi dời đến ở nơi đó. Đến khi bà mang thai đủ ngày đủ tháng liền sinh hạ [676] được một quả trứng, nở ra một cậu con trai. Khi bà sinh con, trên không trung mây ngũ sắc kéo đến, được một lúc thì biến mất (sinh vào giờ Ngọ ngày mồng 9 tháng 3 năm Giáp Dần-NC).

Cậu con trai tướng mạo đường hoàng, mặt rồng trán vuông, tiếng như chuông lớn, mặt như sắt đen. Phổ công thấy thế cho là tinh khí của Thùy đế, bèn làm lễ đặt tên là Lý2. Đến năm 15 tuổi, thân thể bỗng cao lớn, sức có thể địch được vạn người, hoặc gọi gió, hoặc hô mây, thân thể lúc biến thành rắn, lúc biến thành rồng, xuất thần nhập thánh, biến hóa vô cùng. Mọi người thấy thế ai cũng kinh sợ, bèn làm biểu dâng lên triều đình. Vua nghe tin bèn mệnh đình thần tới nơi, quả đúng như thế. Đình thần bèn trở về tâu với vua. Vua bèn phong cho làm Thủy thần trấn cả vùng đầu sông cửa biển. Lại ban cho 100 cân vàng, cho phép [68a] nhân dân hai khu mang về tu sửa cung sở. Được 1 năm, một hôm, bỗng thấy nước sông dâng cao, sóng lớn cuồn cuộn, rồng rắn, thuồng luồng, ba ba nổi lên khắp mặt sông, hướng vào cung đình nhảy múa. Ông bèn mở đường nước tới tận thủy quốc vân hương (ông hóa vào ngày 15, tháng 8). Được một lúc, sóng nước dần lui, người dân đến nhìn, chỉ thấy áo mũ của ông ở nơi đó, ai cũng kinh sợ, lập tức làm biểu tấu lên vua. Vua bèn mệnh cho triều đình mang sắc chỉ tới nơi ông hóa khu Tiền trang ta làm nơi phụng thờ, bao phong mỹ tự là Thượng đẳng phúc thần, vạn cổ huyết thực, cùng đất nước tốt lành, mãi làm lệ hằng, đức thần thêm thịnh.

Ngày sinh của thần là ngày mồng 9 tháng 3.

Ngày hóa của thần là ngày 15 tháng 8.

Ngày lành tháng mạnh xuân (tháng Giêng) năm Hồng Phúc đầu (1572).

Lễ bộ Hàn lâm viện Đông các Đại học sĩ thần Nguyễn Bính phụng soạn.

Ngày lành tháng trọng thu (tháng 8) năm Vĩnh Hựu thứ 5 (1739).

Quản giám Bách thần Tri điện Hùng lãnh thiếu khanh thần là Nguyễn Hiền phụng sao theo bản chính.

Phụng sao chép lại vào ngày mồng 8 tháng 8 năm Tự Đức thứ 25 (1872) (Trước đây do thất lạc đến nay lại tìm thấy).

Thừa nhận thực thần tích của bản xã.

Lý trưởng Lê Đức Mậu.

Chú thích:

  1. Thần tích xã Dịch Vọng Tiền ghi là Châu.
  2. Chữ này là chữ Nôm gồm bộ “khẩu” với chữ “lý”.

Nguồn: Thành Hoàng Chu Lý Đại vương ngọc phả cổ lục, trích trong Thần tích xã Dịch Vọng Trung, ký hiệu AE.a2/60, lưu trữ tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, Hà Nội.

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện chốn thiêng (13)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)