Thân thế
Dục Đức sinh ngày 23 tháng 2 năm 1852 tại Huế, ông là con thứ hai của Thoại Thái vương Nguyễn Phúc Hồng Y (con trai thứ tư của vua Thiệu Trị), và bà Trần Thị Nga. Ban đầu ông có tên là Ưng Ái. Năm 1869 khi Ưng Ái 17 tuổi, ông được vua Tự Đức chọn làm con nuôi. Lúc này ông được đổi tên là Ưng Chân và đưa ra ở tại Dục Đức đường, ông được giao cho Hoàng quý phi Vũ Thị Duyên chăm nom và dạy dỗ. Năm 1883, ông được phong tước Thụy Quốc công.
Lên ngôi
Ngày 15 tháng 7 năm 1883, vua Tự Đức lâm trọng bệnh và lập di chiếu truyền ngôi cho Ưng Chân. Ông bổ nhiệm Trần Tiễn Thành làm Phụ chánh Đại thần, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết làm Đồng Phụ chánh Đại thần. Trong di chiếu, vua Tự Đức cũng nêu những nhận xét về Ưng Chân, cho rằng tuy đã trưởng thành nhưng mắt có tật, hành vi chưa sáng suốt, tính tình hiếu dâm, chưa chắc đảm đương được việc lớn. Các quan Phụ chính dâng sớ xin bỏ đoạn này nhưng vua Tự Đức từ chối, cho rằng đây là lời răn để Ưng Chân tự kiểm điểm và tu dưỡng bản thân.
Vào giờ Thìn ngày 19 tháng 7 năm 1883, Tự Đức qua đời tại điện Càn Thành. Ưng Chân khóc lạy tờ di chiếu và vào điện Hoàng Phước chịu tang. Trước đó, Tự Đức không mấy yêu quý Ưng Chân mà thương yêu Ưng Đăng (con nuôi thứ ba) nhiều hơn. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết vì vậy cũng to thái độ lạnh nhạt với Ưng Chân. Khi Ưng Chân đưa người thân cận làm hộ vệ, tự ý sử dụng đồ tang lễ và trang phục sai quy cách, hai viên Phụ chính càng thêm bất mãn.
Nguyễn Văn Tường mật bàn với Tôn Thất Thuyết về việc Ưng Chân có thể không đủ khả năng làm vua, trong khi Tôn Thất Thuyết vốn nắm quân đội cũng có mưu đồ phế lập. Ưng Chân nhận thấy đoạn di chiếu nhắc nhở mình, không muốn đọc công khai, và đề nghị ba viên Phụ chính bỏ đoạn đó. Trần Tiễn Thành đồng ý, hai viên còn lại giả vờ đồng ý, Ưng Chân tự tay xóa bỏ đoạn di chiếu. Khi đọc di chiếu, Trần Tiễn Thành đọc lướt, Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bày tỏ thái độ phản đối và yêu cầu đọc lại toàn bộ. Họ bắt giữ 10 người hộ vệ của Ưng Chân và cho Tham tri Nguyễn Trọng Hợp đọc lại di chiếu.
Sau đó, các hoàng thân và quan lại họp tại Tả vu, nêu tội Ưng Chân và đề nghị lập vua khác. Chỉ có quan Ngự sử Phan Đình Phùng phản đối nhưng bị bắt giam. Trần Tiễn Thành và các hoàng thân sợ hãi, ký tờ hạch tội và xin ý kiến Thái hoàng Thái hậu Từ Dụ. Di chiếu buộc Ưng Chân phải chịu bốn tội lớn: tự ý sửa di chiếu của vua cha, mặc áo màu trong đại tang, đưa giáo sĩ vào Hoàng thành và thông dâm với cung nữ.
Sau khi được Thái hậu đồng ý, hai quan Phụ chính phế truất Dục Đức vào ngày 23 tháng 7 năm 1883, giáng làm Thụy quốc công và giam giữ tại Dục Đức đường, sau đó chuyển vào Ngục thất trong Kinh thành Huế.
Kết cục
Nguyễn Văn Tường có ý định lập Ưng Đăng lên ngôi vua, nhưng Tôn Thất Thuyết đã chủ trương đưa em của vua Tự Đức là Lãng quốc công Hồng Dật lên ngôi, đặt niên hiệu là Hiệp Hòa. Nguyễn Văn Tường và Tôn Thất Thuyết bàn bạc về việc loại trừ Tự quân (Dục Đức). Họ đã chuyển Dục Đức về nhà ngục phủ Thừa Thiên, bố trí canh gác nghiêm ngặt, đồng thời đưa các con của ông về quản thúc tại quê mẹ: công tử thứ 7 và thứ 9 theo mẹ là bà Phan Thị Điều (công tử thứ 7 sau này là vua Thành Thái) về xã Phú Lương; công tử thứ 10 theo mẹ là bà Nguyễn Thị về xã Phú Xuân; công tử thứ 11 vẫn đang trong bụng mẹ. Các con của Dục Đức, những người có chữ sơn山 trong tên, đều bị buộc đổi sang chữ Thạch 石. Đồng thời, hai người này đã mật báo với quan cai ngục không cho Dục Đức ăn uống.
Vào giờ Thìn (7–9h) ngày 6 tháng 10 năm 1883, Dục Đức qua đời do bị bỏ đói, hưởng dương 32 tuổi. Theo người cai ngục, ông đã tuyệt thực mà chết. Thi hài của ông được chôn cất tạm thời tại cánh đồng xứ Tứ Tây, xã An Cựu, huyện Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên, về sau gọi là An Lăng. Do chỉ làm vua vài ngày và chưa kịp đặt niên hiệu, tên gọi Dục Đức ban đầu chỉ xuất phát từ nơi ở của ông Dục Đức đường.
Khi ông qua đời, thi hài ông được bọc trong chiếu rách và mang đi. Trên đường đến đầu làng An Cựu, xác ông rơi xuống khe nước nông. Người dân cho rằng đây là nơi Dục Đức tự chọn để yên nghỉ, nên chỉ tiến hành chôn cất sơ sài. Lâu ngày, mộ vua gần như bị bỏ hoang. Có lần một người ăn mày chết đói và gục ngay trên mộ vua; người dân không biết đó là mộ vua nên đã chôn người ăn mày ngay trên phần đất đó. Khi vua Thành Thái lên ngôi, ông lần theo dấu vết và lời kể để tìm mộ cha. Tuy nhiên khi đào lên, phát hiện có hai bộ hài cốt nên quyết định lấp đất lại và xây dựng nơi đó thành An Lăng.
Năm 1886 dưới triều vua Đồng Khánh, Dục Đức được truy phong là Thụy Nguyên quận vương, thụy là Trang Cung. Năm 1889 Đồng Khánh băng hà, con của Dục Đức là Bửu Lân lên ngôi (tức vua Thành Thái) lập miếu Hoàng khảo (Tân miếu) trong kinh thành để thờ Dục Đức. Đến năm 1892, vua Thành Thái truy tôn cha mình là Cung Huệ Hoàng đế. Lăng của Dục Đức là An Lăng, tọa lạc tại làng An Cựu, xã Thủy Bằng, thị xã Hương Thủy, tỉnh Thừa Thiên. Năm 1897, Tân miếu được đổi tên thành miếu Cung Tông; năm 1899 xây điện thờ tại An Lăng, gọi là điện Long Ân. Năm 1901 vua Thành Thái truy tặng thụy hiệu cho cha là Khoan Nhân Duệ Triết Tĩnh Minh Huệ Hoàng đế, miếu hiệu vẫn là Cung Tông.
Gia đình
Thê thiếp
Có tổng 8 bà vợ (chính thức + phụ thiếp) được ghi nhận.
Trong đó, tên tuổi được biết rõ nhất là:
Phan Thị Điều (sinh 8 tháng 9 năm 1855 – mất 27 tháng 12 năm 1906). Bà là con gái của Phù Quốc công Phan Đình Bình, quê Quảng Điền (Thừa Thiên). Khi Dục Đức bị phế, bà và hai con sống ở quê ngoại. Sau khi con trai lên ngôi (sau này), bà được đón lại cung và được truy phong Từ Minh Huệ Hoàng hậu.
Vũ Văn Thị Đông được nhắc tới trong “Khải Định chính yếu” nhưng thân thế chưa rõ ràng.
Hoàng tử
Nguyễn Phúc Bửu Cương
Nguyễn Phúc Bửu Thị
Nguyễn Phúc Bửu Mỹ
Nguyễn Phúc Bửu Nga
Nguyễn Phúc Bửu Nghi
Nguyễn Phúc Bửu Côn
Nguyễn Phúc Bửu Lân – trở thành vua Thành Thái (14/3/1879 – 20/3/1954), mẹ là Phan Thị Điều (Từ Minh Huệ Hoàng hậu)
Nguyễn Phúc Bửu Chuẩn
Nguyễn Phúc Bửu Tán – tước Tuyên Hóa vương (1882 – 8/5/1941), mẹ là Phan Thị Điều
Nguyễn Phúc Bửu Kiêm (hoặc Khiêm/Liêm) – tước Hoài Ân vương (1884 – 5/8/1940), mẹ không rõ
Nguyễn Phúc Bửu Lũy (hoặc Lỗi) – tước Mỹ Hóa công / mất sớm (1885 – 1902), mẹ không rõ
Hoàng nữ
Nguyễn Phúc Tốn Tùy – Mỹ Lương Công chúa (1872 – 1964), mẹ không rõ
Nguyễn Phúc Nhàn Gia – Phúc Lâm Công chúa, mẹ không rõ
Nguyễn Phúc Như Tâm
Nguyễn Phúc Như Tâm (có thể hai người cùng tên hoặc ghi chép lặp)
Nguyễn Phúc Thị Nghị
Nguyễn Phúc Mẫn Sự
Nguyễn Phúc Thông Lý
Nguyễn Phúc Châu Hoàn – Tân Phong Công chúa (1883 – ?), mẹ là Tống Phúc Thị Ròn
Tài liệu tham khảo
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, Nxb Giáo dục
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh
Duc Duc (1852–1883)
Background
Duc Duc was born on 23 February 1852 in Hue. He was the second son of Prince Thoai Thai, Nguyen Phuc Hong Y (the fourth son of Emperor Thieu Tri), and Lady Tran Thi Nga. At first, his name was Ung Ai. In 1869, when Ung Ai was 17 years old, he was adopted by Emperor Tu Duc. At this time, his name was changed to Ung Chan and he was moved to reside at Duc Duc Hall, where he was cared for and instructed by Imperial Noble Consort Vu Thi Duyen. In 1883, he was granted the title Thuy Quoc Cong (Duke of Thuy).
Accession to the Throne
On 15 July 1883, Emperor Tu Duc fell critically ill and issued a testament appointing Ung Chan as his successor. He appointed Tran Tien Thanh as Senior Regent (Phu chanh Dai than) and Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet as Co-Regents (Dong Phu chanh Dai than). In the testament, Emperor Tu Duc also recorded his remarks on Ung Chan, saying that although grown, he suffered from an eye defect, his conduct lacked sound judgment, and his temperament was overly lustful, making him uncertain for great responsibilities. The regents petitioned to remove this passage, but Tu Duc refused, stating that it was a warning for Ung Chan to self-reflect and cultivate his character.
At the hour of Thin (7–9 a.m.) on 19 July 1883, Tu Duc passed away at Can Thanh Palace. Ung Chan wept before the testament and went to Hoang Phuoc Hall to observe mourning rites. Earlier, Tu Duc had not been fond of Ung Chan but loved Ung Dang (his third adopted son) more. Because of this, Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet also displayed a cold attitude toward Ung Chan. When Ung Chan appointed his close attendants as bodyguards and used funeral items and ceremonial garments improperly, the two regents grew increasingly dissatisfied.
Nguyen Van Tuong secretly discussed with Ton That Thuyet the possibility that Ung Chan was unfit to rule, while Thuyet, who controlled the military, also harbored intentions of deposing him. Not wanting the admonitory passage in the testament to be publicly read, Ung Chan requested the three regents to remove it. Tran Tien Thanh agreed; the other two pretended to agree. Ung Chan then erased the passage himself. During the reading of the testament, Tran Tien Thanh skipped the section, prompting Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet to object and demand a full reading. They arrested ten of Ung Chan’s bodyguards and ordered Vice-Minister Nguyen Trong Hop to read the entire text.
Afterward, the princes and officials gathered at the Left Secretariat (Ta vu), accused Ung Chan of crimes, and proposed enthroning another ruler. Only Censor Phan Dinh Phung protested, but he was arrested. Fearing repercussions, Tran Tien Thanh and the princes signed the indictment and sought the approval of Grand Empress Dowager Tu Du. The testament charged Ung Chan with four major offenses: altering the late emperor’s testament, wearing colored garments during the national mourning period, bringing a Christian missionary into the Imperial City, and committing adultery with palace women.
With the Empress Dowager’s approval, the two regents deposed Duc Duc on 23 July 1883, demoted him back to Thuy Quoc Cong, and confined him first at Duc Duc Hall and later in the imperial prison within the Hue Citadel.
Downfall and Death
Nguyen Van Tuong intended to enthrone Ung Dang, while Ton That Thuyet promoted the elevation of Emperor Tu Duc’s younger brother, Prince Lang Quoc Cong Hong Dat, who ascended as Emperor Hiep Hoa. Nguyen Van Tuong and Ton That Thuyet conspired to eliminate the deposed emperor (Duc Duc). They transferred him to the Thua Thien prefectural prison, placed him under strict surveillance, and sent his children back to be kept under house arrest in their maternal villages: the 7th and 9th princes were sent with their mother, Phan Thi Dieu (the 7th prince later became Emperor Thanh Thai), to Phu Luong village; the 10th prince was sent with his mother, Nguyen Thi, to Phu Xuan; the 11th prince was still in the womb. The children of Duc Duc, all bearing the character son (山) in their names, were forced to change it to thach (石). At the same time, the two regents secretly instructed the prison officials to deny Duc Duc any food or drink.
At the hour of Thin (7–9 a.m.) on 6 October 1883, Duc Duc died of starvation at the age of 32. According to the prison officials, he died from prolonged fasting. His body was temporarily buried in the fields of Tu Tay, An Cuu village, Huong Thuy district, Thua Thien province—later known as An Lang. Because he had ruled for only a few days and never established a reign title, the name “Duc Duc” originally referred only to his residence, Duc Duc Hall.
When he died, his body was wrapped in a torn mat and carried away. On the way to the entrance of An Cuu village, the corpse fell into a shallow stream. Villagers believed that this was where Duc Duc wished to rest eternally, so he was buried simply. Over time, the tomb became neglected. Once, a beggar died of hunger near the site, and unaware that it was an imperial tomb, villagers buried the beggar directly above it. When Emperor Thanh Thai ascended the throne, he followed clues and local testimonies in an attempt to locate his father’s remains. However, when the tomb was excavated, two sets of remains were found. He ordered the tomb to be covered again and had the entire site rebuilt as An Lang.
In 1886 under Emperor Dong Khanh, Duc Duc was posthumously granted the title Thuy Nguyen Quan Vuong, with the posthumous name Trang Cung. After Dong Khanh’s death in 1889, Duc Duc’s son, Buu Lan, ascended the throne as Emperor Thanh Thai and established the “Hoang Khao Temple” (Tan Mieu) inside the Imperial City to worship Duc Duc. In 1892, Emperor Thanh Thai honored his father as Cung Hue Hoang De. Duc Duc’s tomb, An Lang, is located at An Cuu village, Thuy Bang commune, Huong Thuy town, Thua Thien province. In 1897, Tan Mieu was renamed Cung Tong Temple; in 1899, the Long An Shrine was built at An Lang. In 1901, Emperor Thanh Thai granted his father the posthumous title Khoan Nhan Due Triet Tinh Minh Hue Hoang De, while the temple name remained Cung Tong.
Family
Wives and Consorts
Duc Duc had eight wives and concubines in total.
Among them, the best-known are:
-
Phan Thi Dieu (born 8 September 1855 – died 27 December 1906), daughter of Phu Quoc Cong Phan Dinh Binh from Quang Dien (Thua Thien). When Duc Duc was deposed, she and her two sons lived in her maternal village. After her son ascended the throne, she was brought back to the palace and posthumously honored as Tu Minh Hue Hoang Hau.
-
Vu Van Thi Dong, mentioned in “Khai Dinh chinh yeu,” although her background remains unclear.
Princes
-
Nguyen Phuc Buu Cuong
-
Nguyen Phuc Buu Thi
-
Nguyen Phuc Buu My
-
Nguyen Phuc Buu Nga
-
Nguyen Phuc Buu Nghi
-
Nguyen Phuc Buu Con
-
Nguyen Phuc Buu Lan – later Emperor Thanh Thai (14 March 1879 – 20 March 1954), son of Phan Thi Dieu (Tu Minh Hue Hoang Hau)
-
Nguyen Phuc Buu Chuan
-
Nguyen Phuc Buu Tan – Tuyen Hoa Vuong (1882 – 8 May 1941), son of Phan Thi Dieu
-
Nguyen Phuc Buu Kiem (or Khiem/Liem) – Hoai An Vuong (1884 – 5 August 1940), mother unknown
-
Nguyen Phuc Buu Luy (or Loi) – My Hoa Cong / died young (1885 – 1902), mother unknown
Princesses
-
Nguyen Phuc Ton Tuy – My Luong Princess (1872 – 1964), mother unknown
-
Nguyen Phuc Nhan Gia – Phuc Lam Princess, mother unknown
-
Nguyen Phuc Nhu Tam
-
Nguyen Phuc Nhu Tam (possibly two individuals with the same name or a repeated record)
-
Nguyen Phuc Thi Nghi
-
Nguyen Phuc Man Su
-
Nguyen Phuc Thong Ly
-
Nguyen Phuc Chau Hoan – Tan Phong Princess (1883 – ?), daughter of Tong Phuc Thi Ron
References
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, Nxb Giáo dục
Tiếng Pháp
Duc Duc (1852–1883)
Origines
Duc Duc naquit le 23 février 1852 à Hué. Il était le deuxième fils du prince Thoai Thai, Nguyen Phuc Hong Y (quatrième fils de l’empereur Thieu Tri), et de Dame Tran Thi Nga. À l’origine, il portait le nom de Ung Ai. En 1869, à l’âge de 17 ans, Ung Ai fut adopté par l’empereur Tu Duc. À cette occasion, il fut renommé Ung Chan et installé à la résidence Duc Duc Duong, où il fut confié aux soins et à l’éducation de l’Impériale Noble Consort Vu Thi Duyen. En 1883, il reçut le titre de Thuy Quoc Cong (duc de Thuy).
Avènement
Le 15 juillet 1883, l’empereur Tu Duc, gravement malade, rédigea un testament désignant Ung Chan comme successeur. Il nomma Tran Tien Thanh Grand Régent (Phu chanh Dai than), et Nguyen Van Tuong ainsi que Ton That Thuyet Co-Régents (Dong Phu chanh Dai than). Dans ce testament, Tu Duc mentionna également plusieurs observations concernant Ung Chan, estimant que, bien qu’adulte, il souffrait d’un défaut oculaire, manquait de discernement, avait un tempérament trop porté vers la luxure, et ne serait peut-être pas capable d’assumer de grandes responsabilités. Les régents sollicitèrent la suppression de ce passage, mais Tu Duc refusa, affirmant qu’il s’agissait d’un avertissement pour qu’Ung Chan se corrige et améliore sa conduite.
À l’heure du Thin (7 h – 9 h) le 19 juillet 1883, l’empereur Tu Duc mourut au palais Can Thanh. Ung Chan pleura devant le testament puis se rendit au palais Hoang Phuoc pour observer le deuil. Auparavant, Tu Duc n’avait guère affectionné Ung Chan, lui préférant Ung Dang (son troisième fils adoptif). À cause de cela, Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet adoptèrent également une attitude distante envers Ung Chan. Lorsque ce dernier nomma ses proches comme gardes du corps et utilisa des objets funéraires et des vêtements incompatibles avec le protocole, les deux régents devinrent encore plus mécontents.
Nguyen Van Tuong complota secrètement avec Ton That Thuyet, estimant qu’Ung Chan n’était peut-être pas apte à régner. Thuyet, qui contrôlait l’armée, nourrissait lui-même le dessein d’un renversement. Ne souhaitant pas que le passage admoniteur du testament soit lu en public, Ung Chan demanda aux trois régents de l’omettre. Tran Tien Thanh accepta ; les deux autres feignirent d’acquiescer. Ung Chan effaça alors le passage de ses propres mains. Lors de la lecture du testament, Tran Tien Thanh sauta l’extrait, provoquant l’opposition immédiate de Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet, qui exigèrent une lecture intégrale. Ils firent arrêter dix gardes du corps d’Ung Chan et ordonnèrent à Nguyen Trong Hop, vice-ministre, de relire le testament dans son intégralité.
Par la suite, les princes et les hauts mandarins se réunirent au Left Secretariat (Ta vu), accusèrent Ung Chan de multiples fautes et proposèrent de lui substituer un autre souverain. Le seul qui protesta fut le censeur Phan Dinh Phung, mais il fut arrêté immédiatement. Craignant les conséquences, Tran Tien Thanh et les princes signèrent l’acte d’accusation et demandèrent l’avis de la Grande Impératrice Douairière Tu Du. Le testament imputait à Ung Chan quatre crimes majeurs : avoir modifié le testament impérial, avoir porté des vêtements colorés durant le deuil national, avoir introduit un missionnaire chrétien dans la Cité Impériale et avoir commis l’adultère avec des femmes du palais.
Avec l’approbation de l’impératrice douairière, les deux régents déposèrent Duc Duc le 23 juillet 1883, le rétrogradèrent au titre de Thuy Quoc Cong et l’enfermèrent d’abord à Duc Duc Duong, puis dans la prison impériale de la citadelle de Hué.
Chute et décès
Nguyen Van Tuong souhaitait voir Ung Dang monter sur le trône, tandis que Ton That Thuyet préférait élever Hong Dat, frère cadet de l’empereur Tu Duc et titulaire du titre Lang Quoc Cong, qui devint finalement l’empereur Hiep Hoa. Nguyen Van Tuong et Ton That Thuyet s’entendirent alors pour éliminer l’ex-souverain (Duc Duc). Ils le transférèrent à la prison de la préfecture de Thua Thien, sous étroite surveillance, et envoyèrent ses enfants en résidence surveillée dans les villages maternels : le 7ᵉ et le 9ᵉ prince furent envoyés avec leur mère, Phan Thi Dieu (le 7ᵉ prince deviendra plus tard l’empereur Thanh Thai), à Phu Luong ; le 10ᵉ prince fut confié à sa mère Nguyen Thi à Phu Xuan ; le 11ᵉ n’était pas encore né. Les enfants de Duc Duc, dont les noms contenaient le caractère son (山), furent contraints de le remplacer par thach (石). Les deux régents ordonnèrent secrètement aux gardiens de prison de ne donner ni nourriture ni eau à Duc Duc.
À l’heure du Thin (7 h – 9 h), le 6 octobre 1883, Duc Duc mourut de faim, à l’âge de 32 ans. Selon les gardiens, il serait décédé à la suite d’une grève de la faim. Son corps fut enterré provisoirement dans les champs de Tu Tay, village d’An Cuu, district de Huong Thuy, province de Thua Thien—lieu ensuite connu sous le nom d’An Lang. Comme il n’avait régné que quelques jours et n’avait pas eu le temps d’établir un nom d’ère, l’appellation « Duc Duc » provenait initialement seulement de sa résidence, Duc Duc Duong.
Son corps, enveloppé dans une natte usée, fut transporté vers An Cuu. En chemin, la dépouille tomba dans un ruisseau peu profond. Les villageois crurent que cet endroit était celui qu’il avait choisi pour son repos éternel et l’y enterrèrent sommairement. Avec le temps, la tombe fut délaissée. Un jour, un mendiant affamé mourut sur le même site ; ignorants qu’il s’agissait d’un tombeau impérial, les habitants l’enterrèrent au même endroit. Lorsque l’empereur Thanh Thai monta sur le trône, il suivit des témoignages pour retrouver la tombe de son père. Mais lors de l’excavation, deux squelettes furent découverts ; il ordonna donc de reboucher et de reconstruire l’ensemble en un mausolée appelé An Lang.
En 1886, sous l’empereur Dong Khanh, Duc Duc fut promu à titre posthume Thuy Nguyen Quan Vuong, avec le nom posthume Trang Cung. Après la mort de Dong Khanh en 1889, le fils de Duc Duc, Buu Lan, monta sur le trône sous le nom d’empereur Thanh Thai et fit construire le temple Hoang Khao (Tan Mieu) pour honorer la mémoire de Duc Duc. En 1892, il lui donna le titre posthume de Cung Hue Hoang De. Le mausolée An Lang se situe au village d’An Cuu, commune de Thuy Bang, district de Huong Thuy. En 1897, Tan Mieu devint le temple Cung Tong ; en 1899, le sanctuaire Long An fut érigé à An Lang. En 1901, Thanh Thai lui accorda le titre posthume Khoan Nhan Due Triet Tinh Minh Hue Hoang De, tandis que son nom de temple demeurait Cung Tong.
Famille
Épouses et concubines
Duc Duc eut huit épouses et concubines reconnues.
Les plus connues sont :
-
Phan Thi Dieu (née le 8 septembre 1855 – morte le 27 décembre 1906), fille de Phu Quoc Cong Phan Dinh Binh, originaire de Quang Dien (Thua Thien). Après la déposition de Duc Duc, elle vécut avec ses deux fils dans son village natal. Lorsque son fils monta sur le trône, elle fut rappelée au palais et reçut à titre posthume le titre de Tu Minh Hue Hoang Hau.
-
Vu Van Thi Dong, mentionnée dans le Khai Dinh chinh yeu, dont les origines demeurent obscures.
Princes
-
Nguyen Phuc Buu Cuong
-
Nguyen Phuc Buu Thi
-
Nguyen Phuc Buu My
-
Nguyen Phuc Buu Nga
-
Nguyen Phuc Buu Nghi
-
Nguyen Phuc Buu Con
-
Nguyen Phuc Buu Lan — devenu empereur Thanh Thai (14 mars 1879 – 20 mars 1954), fils de Phan Thi Dieu
-
Nguyen Phuc Buu Chuan
-
Nguyen Phuc Buu Tan — Tuyen Hoa Vuong (1882 – 8 mai 1941), fils de Phan Thi Dieu
-
Nguyen Phuc Buu Kiem (ou Khiem/Liem) — Hoai An Vuong (1884 – 5 août 1940), mère inconnue
-
Nguyen Phuc Buu Luy (ou Loi) — My Hoa Cong / mort jeune (1885 – 1902), mère inconnue
Princesses
-
Nguyen Phuc Ton Tuy — princesse My Luong (1872 – 1964), mère inconnue
-
Nguyen Phuc Nhan Gia — princesse Phuc Lam, mère inconnue
-
Nguyen Phuc Nhu Tam
-
Nguyen Phuc Nhu Tam (possiblement deux personnes ou une répétition)
-
Nguyen Phuc Thi Nghi
-
Nguyen Phuc Man Su
-
Nguyen Phuc Thong Ly
-
Nguyen Phuc Chau Hoan — princesse Tan Phong (1883 – ?), fille de Tong Phuc Thi Ron
Références
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, Nxb Giáo dục
Tiếng Trung
育德帝(1852–1883)
身世
育德帝生于1852年2月23日,地点在顺化。他是瑞泰王阮福洪依(绍治帝第四子)与陈氏俄所生的第二子。初名膺靉。1869年,17岁的膺靉被嗣德帝收为养子,更名为膺禛,并居于育德堂,由皇贵妃武氏缘抚育教导。1883年,他被封为瑞国公。
登基
1883年7月15日,嗣德帝病危,立遗诏传位于膺禛。他任命陈晋呈为辅政大臣,阮文详与尊室说为同辅政大臣。遗诏中,嗣德帝指出膺禛虽已成年,但眼有疾患,行为未够明哲,性情好色,未必能担当大任。辅政群臣奏请删去此段,但遭嗣德帝拒绝,认为这是警戒膺禛自我反省之语。
7月19日辰时,嗣德帝在勤成殿驾崩。膺禛哭拜诏书,入皇福殿守丧。此前嗣德帝对膺禛并不宠爱,更偏爱第三养子膺登,因此阮文详与尊室说对膺禛亦态度冷淡。膺禛擅自带亲信为护卫,并违规使用丧服、丧具,使二辅政益发不满。
阮文详秘密与尊室说商议,认为膺禛恐难胜任帝位,而手握兵权的尊室说亦有废立之意。膺禛自觉遗诏警戒之语不便公开宣读,乃要求三辅政删去。陈晋呈同意,二人假意附和,于是膺禛亲自删去诏文。正式宣读时,陈晋呈略读其文,阮文详与尊室说遂表示反对,要求全文朗读,并拘捕膺禛的十名护卫,由参知阮仲合重新宣读遗诏。
其后诸王公大臣于左庑集议,指控膺禛诸罪,请求另立新君。仅御史潘廷逢反对,遂被捕下狱。陈晋呈及诸王公惧怕事变,乃具疏弹劾膺禛,并请示太皇太后慈裕。遗诏列膺禛四大罪:擅改先帝遗诏、大丧期间穿彩衣、引教士入皇城、与宫女淫乱。
太后准奏后,二辅政于1883年7月23日废黜育德帝,贬为瑞国公,囚于育德堂,后移入顺化皇城狱室。
结局
阮文详意图立膺登为帝,但尊室说主张立嗣德帝之弟、朗国公洪溢为帝,是为协和帝。阮文详、尊室说密议除去前帝(育德帝)。他们将育德帝移至承天府监狱严加看守,并将其子女分别送往母族乡居:第七与第九子随其母潘氏调(第七子后来成为成泰帝)返富良社;第十子随母阮氏返富春社;第十一子尚在母腹中。凡育德帝诸子名字中带“山”字者皆被迫改为“石”。二辅政又密令狱吏断绝其饮食。
1883年10月6日辰时(7–9时),育德帝因饥饿而亡,年仅32岁。狱吏称他是绝食而死。其遗体暂葬于承天府香水县安久社四西田,后称安陵。因其仅在位数日,未及制定年号,“育德”之称最初只是其居处“育德堂”的名称。
其遗体以破席裹送,途中至安久村口时遗体落入浅溪。乡民认为此处乃其自择安息之地,遂草草埋葬。久而久之,陵墓荒废。曾有乞丐饿死倒毙于其墓,乡民不知乃帝陵,便将其葬于原处。成泰帝即位后循访旧迹寻觅父陵,掘开后发现有两具骸骨,只得重新覆土,并修建陵园为安陵。
1886年,协和帝朝追封育德帝为瑞原郡王,谥号庄恭。1889年协和帝崩,育德帝之子保麟即位(成泰帝),于京城建皇考新庙奉祀育德帝。1892年成泰帝追尊父为恭惠皇帝。其陵——安陵,位于承天、香水镇、水旁社安久村。1897年,新庙改名为恭宗庙;1899年于安陵建祠称隆恩殿。1901年,成泰帝再加父谥号为宽仁睿哲靖明惠皇帝,庙号仍为恭宗。
家族
妻妾
育德帝共有八位妻妾,其中最知名者为:
-
潘氏调(1855年9月8日生 – 1906年12月27日卒),府国公潘廷平之女,籍贯承天广田。育德帝被废后,她与二子归居外家。其子即位后,她被迎回皇宫,追尊为慈明惠皇后。
-
武文氏冬,见于《启定政要》,身世未详。
皇子
-
阮福保綱
-
阮福保豸
-
阮福保美
-
阮福保牙
-
阮福保疑
-
阮福保昆
-
阮福保麟——即成泰帝(1879年3月14日 – 1954年3月20日),母潘氏调
-
阮福保准
-
阮福保赞——宣化王(1882 – 1941年5月8日),母潘氏调
-
阮福保兼(或谦/廉)——怀恩王(1884 – 1940年8月5日),母不详
-
阮福保垒(或累)——美化公 / 早卒(1885 – 1902),母不详
皇女
-
阮福遯随——美良公主(1872–1964),母不详
-
阮福嫻嘉——福林公主,母不详
-
阮福如心
-
阮福如心(可能为两人同名或文献重复)
-
阮福氏毅
-
阮福敏事
-
阮福通理
-
阮福珠完——新芳公主(1883 – ?),母宋福氏圆
参考资料
- Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
- Phạm Khắc Hòe (2001), Kể Chuyện Vua Quan Nhà Nguyễn, Nxb Thuận Hóa.
- Quốc sử quán triều Nguyễn (2007), Đại Nam Thực Lục, Nxb Giáo dục