Tiểu sử
Nữ Cư sĩ Đặng Tống Tịnh Nhơn là con gái duy nhất của ông Đặng Ngọc Chương và bà Tống Thị Viện. Hai ông bà đều thuộc gia đình danh gia vọng tộc. Bà Tịnh Nhơn sinh năm Tân Mùi (1931), quê quán phường Vĩnh An thành phố Huế. Thân phụ của Bà làm quan tại Nam Trung bộ và thân mẫu quá vãng khi Bà mới 4 tuổi, vì bận công việc quan trường, không thể gần gũi săn sóc con, ông đành gởi bà về Huế sống với cô ruột. Sau đó ông được bổ nhiệm về Huế giữ chức Tham tá triều Bảo Đại, một thời gian ngắn ông bị bệnh và qua đời.
Thời niên thiếu, Nữ Cư sĩ Nữ Cư sĩ thiếu tình phụ mẫu thâm sâu, sống côi cút, nhưng Nữ Cư sĩ được hai người cô ruột là những người thâm tín Phật giáo nên đã nuôi dưỡng chăm sóc rất chu đáo, giai đoạn nầy gia đình đã đem Nữ Cư sĩ lên chùa Thuyền Tôn Quy y với Hòa thượng Giác Nhiên và được cho Pháp danh là Tâm Liên, đồng thời cũng cho Nữ Cư sĩ ăn học đến nơi đến chốn. Nữ Cư sĩ là một thiếu nữ xinh đẹp và thông minh, Nữ Cư sĩ đã theo học trường Đồng Khánh Huế, tốt nghiệp bằng Thành Chung năm 1946. Sau đó Nữ Cư sĩ học chuyên khoa tại trường Khải Định, đậu Tú Tài I năm 1950 và rồi Tú Tài II năm 1951.
Năm 1948, Nữ Cư sĩ cùng với Cư sĩ Văn Đình Hy điều khiển Gia đình Phật hóa phổ Gia Thiện, sinh hoạt tại chùa Quan Công, phường Phú Cát, Huế.
Đại hội Gia đình Phật tử (từ 24 đến 26/4/1951 tại Từ Đàm, Huế) đã thuận đề nghị của Cư sĩ Lương Hồng Chuẩn và Nữ Cư sĩ Tịnh Nhơn đổi danh xưng Ngành Đồng niên thành Ngành Oanh vũ đồng thời giao Cư sĩ Chuẩn và Nữ Cư sĩ Tịnh Nhơn soạn lại mẩu chuyện Chim Oanh Vũ và phác họa mẫu đồng phục cho Ngành Oanh.
Năm 1956, Nữ Cư sĩ được xếp cấp Tín theo Quyết định số 84-HDTH/HT ngày 10/3/1956 của Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Tổng hội được Thượng tọa Trí Quang, Chánh Hội trưởng Tổng Trị sự Hội Việt Nam Phật giáo duyệt y số 656-HC/TT ngày 13/3/1956.
Đại hội Gia đình Phật tử Kỳ VI năm 1967 và tiếp các Kỳ Đại hội sau, Chị Đặng Tống Tịnh Nhơn được cử giữ Ủy viên Thiếu nữ Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Trung ương.
Năm 1952, Nữ Cư sĩ được mời dạy tại trường Đồng Khánh hai môn Văn và Sử. Đến năm 1959 được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường này. Sau đấu tranh Phật giáo năm 1963, Nữ Cư sĩ xin đổi vào Sài Gòn và dạy tại trường Gia Long. Sau năm 1975, Nữ Cư sĩ tiếp tục giảng dạy.
Nữ Cư sĩ Tâm Liên Tịnh Nhơn là cô giáo mẫu mực, đem tài năng và tình thương dạy dỗ học sinh, vì vậy Nữ Cư sĩ rất được học sinh thương yêu quý mến và được bạn bè trọng nể.
Hoạt động trong các Gia đình Phật tử, sau một thời gian xuất hiện nhiều Phật tử có khả năng hoạt động giáo dục xã hội theo tinh thần Phật giáo. Nhiều đồn thể nam, nữ Phật tử ra đời. Về phía nữ, năm 1952, có hai đồn Nữ Phật tử Hương Trang và Liên Hương hoạt động rất có uy tín với các đồn viên nổi tiếng như Nữ Cư sĩ Hồng Thị Kim Cúc (giáo viên dạy Gia chánh ở trường Đồng Khánh), Nữ Cư sĩ Lương Thị Đào (Thư ký ở trường Đồng Khánh, sau là bà Nguyễn Khoa Dánh), Tâm Liên Nguyễn Thị Đồn (sau là bà Châu Trọng Ngô), và nhất là Tâm Liên Đặng Tống Tịnh Nhơn – (sau lập gia đình với thầy giáo Văn Đình Hy) – một huynh trưởng Gia đình Phật tử thông minh, yêu đạo và nhiệt tình yêu nước.
Năm 1956, Tâm Liên Đặng Tống Tịnh Nhơn được tổ chức xếp vào hàng Huynh trưởng cấp Tín thuộc Tổng hội Phật giáo Trung phần do Thượng tọa Thích Trí Quang (nay là Hòa thượng Thích Trí Quang) làm Chánh Hội trưởng. Thời điểm nầy tồn Hội chỉ có 34 Huynh trưởng cấp Tín.
Tâm Liên Đặng Tống Tịnh Nhơn có một sức hút đối với các đồn viên, không những vì Nữ Cư sĩ thấm nhuần Đạo Phật phổ biến giáo lý rất hấp dẫn mà còn vì sự thông minh, năng khiếu tổ chức – điều khiển và học vấn xuất sắc của Nữ Cư sĩ. Nữ Cư sĩ giỏi ngoại ngữ, giỏi văn và giỏi cả tốn. Những năm sau Ngày tồn quốc kháng chiến, các trường học chưa được mở lại, Nữ Cư sĩ sang An Cựu ở lại nhà bạn Nguyễn Thị Đồn để đi học Tốn với thầy Châu Trọng Ngô ở gần đó. Đến khi trường Khải Đinh mở lại, Nữ Cư sĩ tiếp tục học và thường đứng đầu lớp. Tịnh Nhơn là một nữ sinh đặc biệt. Ông Nguyễn Hữu Thứ – Hiệu trưởng trường Quốc Học (lúc đó còn mang tên Khải Định) rất ngạc nhiên về phong cách của Nữ Cư sĩ. Lần đầu tiên ông gặp một cô nữ sinh mới học lớp Đệ nhị (lớp 11 bây giờ) dám lên gặp Hiệu trưởng để góp ý về việc điều hành học sinh nhà trường. Điều đáng ngạc nhiên hơn nữa là những góp ý đó rất sát thực tế, rất đúng. Lúc sắp từ giả cuộc đời, ông Nguyễn Hữu Thứ viết cuốn “Một thời Quốc Học” đã dành 4 trang (tr,87 đến tr.91) cho kỷ niệm tiếp cô nữ sinh Đặng Tống Tịnh Nhơn ở Văn phòng trường Khải Định năm ấy.
Học xong Tú Tài, Đặng Tống Tịnh Nhơn được bổ dạy học tại chính ngôi trường Nữ Cư sĩ đã học là trường Đồng Khánh. Dù đã lập gia đình (1954), vừa lo Phật sự, vừa đi dạy học, Nữ Cư sĩ vẫn tự học để cập nhật kiến thức hiện đại của mình. Nữ Cư sĩ thường trao đổi với thầy giáo và bạn bè (trong đó có thầy Nguyễn Văn Trung, bạn Hồng Văn Giàu, bạn Hồng Phủ Ngọc Tường.v.v.) về những tiểu thuyết, sách mới, những tư tưởng mới từ Âu Mỹ mới du nhập đến miền Nam Việt Nam. Nữ Cư sĩ ghi danh học các Chứng chỉ ở Đại học Văn khoa Huế. Khi Nữ Cư sĩ sắp học xong Cử nhân Văn chương thì được bổ nhiệm làm Hiệu trưởng trường Đồng Khánh. Làm Hiệu trưởng bốn niên khóa (từ 1960 đến 1964), niên khóa nào Nữ Cư sĩ cũng tổ chức lễ Hai Bà Trưng vừa để tôn vinh người Phụ nữ Việt Nam yêu nước vừa tuyển chọn những nữ sinh đẹp, học giỏi, hạnh kiểm tốt tiêu biểu của nữ sinh Huế.
Đầu năm 1963, khi nghe tin các bạn của vợ chồng Nữ Cư sĩ là Tiến sĩ Trần Quang Thuận vừa du học Anh quốc về và bác sĩ Tôn Thất Chiểu đứng ra thành lập Đồn Sinh viên Phật tử Sài Gòn, vợ chồng Nữ Cư sĩ mời thêm một số bạn bè lên chùa Từ Đàm xin ý kiến của Thượng tọa Thích Trí Quang – Chánh Hội trưởng Hội Phật giáo Trung phần, xin thành lập Đồn Sinh viên Phật tử Huế để tạo điều kiện cho giới Sinh viên Đại học Huế học Phật. Được Thượng tọa Thích Trí Quang – (người đã chứng minh cho đám cưới của vợ chồng Nữ Cư sĩ tại chùa Báo Quốc năm 1954) – đồng ý. Đến tháng 3-1963 Đồn Sinh viên Phật tử Huế ra đời do Cư sĩ Hoàng Văn Giàu – Phụ khảo triết học Đại học văn khoa Huế, một người bạn thân của gia đình Nữ Cư sĩ làm Đoàn trưởng. Đoàn Sinh viên Phật tử ra đời được mấy tháng thì xảy ra cuộc Vận động của Phật giáo chống chính sách kỳ thị tôn giáo, kỳ thị Phật giáo của chính quyền Ngô Đình Diệm. Với nhiệt huyết của tuổi trẻ có ăn học, thấm nhuần tinh thần bi trí dũng, các đòan viên Sinh viên Phật tử Huế đã đóng góp cho cuộc vận động của Phật giáo nhiều hoạt động nổi trội trong các cuộc tuyệt thực, mít-tin, biểu tình, phát thanh, báo chí chống chế độ Ngô Đình Diệm. Đến tối ngày 20 rạng ngày 21-8-1963, chính quyền Ngô Đình Diêm thực hiện “Kế hoạch Nước lũ” tấn công các chùa chiền đã có những hoạt động cho cuộc vận động của Phật giáo trên tồn miền Nam Việt Nam, bắt hết các sư sãi, sinh viên, học sinh và đồng bào Phật tử đã lãnh đạo và tham gia các hoạt động chống chính quyền kỳ thị tôn giáo. Hầu hết các đòan viên Sinh viên Phật tử đều bị bắt. Nữ Cư sĩ Tâm Liên Đặng Tống Tịnh Nhơn không tham gia Đòan Sinh viên Phật tử nhưng cũng bị bắt với tội danh đứng sau lưng các hoạt động tranh đấu của Sinh viên Phật tử và trí thức Huế. Lúc đầu Nữ Cư sĩ bị giam chung với Phật tử và Sinh viên tranh đấu ở Hội trường Nha Công An (đường Nguyễn Thị Giang), ít lâu sau Nữ Cư sĩ bị đưa lên giam riêng ở Chín Hầm vì tội Nữ Cư sĩ là Hiệu trưởng trường Đồng Khánh và là Chủ tịch Hội Phụ nữ Liên đới Thành phố Huế mà bí mật tham gia các hoạt động chống chế độ Ngô Đình Diệm. Mãi cho đến sau ngày chế độ Ngô Đình Diệm sụp đổ (1-11-1963) bà mới được thả ra và trở về với chức vụ Hiệu trưởng trường Đồng Khánh. Thời gian bị biệt giam ở Chín Hầm, để lại nhiều di chứng cho sức khỏe của Bà.
Đoàn Sinh viên Phật tử do vợ chồng Nữ Cư sĩ và bạn bè đề xướng buổi đầu đã thu hút được nhiều trí thức trẻ ở Huế và miền Trung. Nhiều đồn viên Sinh viên Phật tử Huế về sau vào đời dù phải đi vào nhiều lĩnh vực, nhiều hồn cảnh khác nhau, nhưng vẫn thành danh với tinh thần bi trí dũng cố hữu của người theo Đạo Phật. Hồng Văn Giàu – một cư sĩ cầm bút ở Úc; Võ Văn Thơ – môt Tiến sĩ Tốn ở Canada; Thái Thị Kim Lan – Một Giáo sư Tiến sĩ ở Đức, dạy Triết học phương Đông cho người Phương Tây; Phạm Thị Xuân Quế – một bác sĩ hy sinh cả cuộc đời cho các hoạt động xã hội từ thiện, nuôi già, dưỡng trẻ; Bửu Hồ xuất gia đi theo bước chân Phật với Pháp hiệu Phụng Sơn đứng đầu một tu viện ở Hoa Kỳ, Trần Xuân Kiêm – Giáo sư Đại học; Trần Anh Tuấn – Tiến sĩ Luật ở Hoa Kỳ, đứng đầu ngành hành chính công ở Việt Nam và nhiều trí thức khác. Ngày nay, những ai còn tự hào mình từng xuất thân Đồn Sinh viên Phật tử Huế đều không thể quên ơn Cư sĩ Văn Đình Hy và Nữ Cư sĩ Tâm Liên Đặng Tống Tịnh Nhơn năm xưa.
Nữ Cư sĩ mất vào ngày 15-9-1982 (nhằm ngày 28-7 Nhâm Tuất) tại TP HCM. Thi hài của Nữ Cư sĩ được quàng tai trường Nguyễn Thị Minh Khai và được hỏa thiêu. Đến ngày 22-10-1982 , một người bạn là bà Phó Thị Hoa đưa tro cốt của Nữ Cư sĩ về Huế giao cho các ông bà Châu Trọng Ngô, ông bà Nguyễn Đức Đồng tổ chức mai táng. Với sự vận động của Sư bà Thích nữ Diệu Không và Thượng tọa Thích Đức Tâm, Hòa thượng Thích Mật Hiển đồng ý dành một khoảnh đất phía sau chùa Trúc Lâm để thực hiện ước mong trước khi Nữ Cư sĩ qua đời. Ước mong của Nữ Cư sĩ đã được các Tôn đức Phật giáo và bạn bè của Nữ Cư sĩ biến thành sự thực: Một khu mộ dành cho gia đình họ Đặng hình thành. Hài cốt thân sinh, thân mẫu và người cô của Nữ Cư sĩ ở các nơi được cải táng về đây. Mộ phần của Nữ Cư sĩ được ở bên cạnh mộ phần của cha mẹ và người cô đã nuôi nấng suốt tuổi thơ của Nữ Cư sĩ.
Bài vị của Nữ Cư sĩ được thờ ở chùa Trúc Lâm. Từ đó, hằng năm cứ vào ngày 27 tháng 7 âm lích, bằng hữu Đồng Khánh chủ trì xin phép quý thầy chùa Trúc Lâm cho đến dâng hương tưởng niệm người đã mất. Suốt đời Nữ Cư sĩ sống cho Phật giáo, sâu nặng tình người nên công đức của Nữ Cư sĩ sẽ sống mãi với Phật giáo và người dân xứ Huế.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.