Tiểu sử
Cư sĩ Nguyễn Khắc Từ sinh năm 1928, nguyên quán tỉnh Quảng Trị, huyện Triệu Phong, làng An Cư. Cư sĩ sinh trong một gia đình nho học có truyền thống phong nhã, thông minh, ảnh hưởng tinh thần Phật giáo khá sâu đậm.
Nhờ vậy lúc thiếu thời chỉ mới 10 tuổi Cư sĩ đã gia nhập Ban Đồng ấu Phật tử của tỉnh hội Phật giáo Quảng Trị do Nhạc sĩ Nguyễn Hữu Ba làm đồn trưởng.
Hấp thụ cả hai tư tưởng cả Phật – Nho, Cư sĩ sớm tích lũy nhiều kinh nghiệm trong quá trình sinh hoạt với phong trào Chấn hưng Phật giáo được phát động mạnh mẽ lúc bấy giờ, đồng thời Cư sĩ cũng kịp thời làm quen với những tư tưởng cũ mới Đông Tây nên lòng yêu nước mến đạo của Cư sĩ được phát triển mãnh liệt. Năm 1945, Cư sĩ bị Pháp bắt giam trong một trận càn quét đầu tiên ra Quảng Trị. Một năm sau khi ra tù, Cư sĩ vào Đà Nẵng tự lực cánh sinh, nuôi em ăn học.
Ở Đà Nẵng từ năm 1947 – 1950, Cư sĩ qui y Tam bảo, có Pháp danh Như Tâm và gia nhập Chi hội Phật giáo Đà Nẵng. Nhờ có khả năng đặc biệt về tổ chức và huấn luyện, Cư sĩ cùng với Cư sĩ Lương Hồng Chuẩn thành lập và phát triển nhiều Gia đình Phật tử đầu tiên tại đây. Quan điểm của Cư sĩ đã rõ nét, tư tưởng của Cư sĩ đã minh định, lập trường của Cư sĩ đã dứt khốt trong thời gian này với chiều hướng phục vụ dân tộc theo quan điểm Phật giáo. Cư sĩ luôn luôn phát huy tinh thần trách nhiệm cao, nên năm 1960 Cư sĩ được giao chức vụ Chánh Thư ký hội Phật giáo Trung phần, Cư sĩ được mời về Huế và làm việc tại chùa Từ Đàm.
Năm 1963 Cư sĩ tham gia phong trào bảo vệ Phật giáo, bảo vệ tín ngưỡng chống lại nhà đương cuộc lúc bấy giờ, Cư sĩ đảm nhiệm chức vụ Trưởng Ban hướng dẫn Gia đình Phật tử Thừa Thiên. Với sự hướng dẫn khéo léo của Cư sĩ trong mùa Pháp nạn từ 1963-1966 dưới sự lãnh đạo của Giáo hội, nhờ thế Gia đình Phật tử Thừa Thiên đã giữ vững ý chí bất khuất làm con chim đầu đàn cho Gia đình Phật tử Việt Nam cùng các đoàn thể thanh niên Phật tử bạn như Sinh viên Phật tử, Học sinh Phật tử, Hướng đạo Phật giáo. Cư sĩ đã bị chính quyền nhà Ngô bắt giam và nằm trong danh sách 12 người sém bị thủ tiêu, nếu không có ngày 11.11.1963 cứu vãn.
Năm 1966 lại một lần nữa Cư sĩ bị chế độ Thiệu Kỳ tầm nã, không từ nguy hiểm, Cư sĩ tiếp tục tranh đấu bí mật, chủ trương tờ tuần báo Thanh Quang, cơ quan ngôn luận tranh đấu cho tự do tín ngưỡng và công bằng xã hội, dưới sự che chở của Chư tôn Thiền đức Tăng Ni ở Huế.
Năm 1973 Cư sĩ lập gia đình với chị Xuân Hòa cũng là một người bạn áo lam, hai anh chị hỗ tương nhau hồn thành nhiệm vụ. Về tiểu gia đình của anh chị thì được hai trai, một gái. Mặc dù có gia gia đình riêng, Cư sĩ vẫn dồn hết tâm trí, dành nhiều thì giờ phục vụ đại gia đình áo lam, nhận lãnh nhiều chức vụ chủ chốt khác nhau trong Ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam, vừa là đại diện lại kiêm nhiệm luôn cả Trưởng Ban Hướng dẫn Gia đình Phật tử Miền Quảng Đức, chức vụ sau cùng là Ủy viên Nghiên huấn Ban Hướng dẫn Trung ương Gia đình Phật tử Việt Nam. Cư sĩ cũng là Gia trưởng Gia đình Phật tử Chánh Thọ từ năm 1981 cho đến khi qua đời (1993).
Trong suốt mấy mươi năm từ 1952 đến nay, Cư sĩ chỉ có một lý tưởng duy nhất: bảo vệ và phát huy tinh thần Bi – Trí – Dũng của Gia đình Phật tử Việt Nam, vì dân tộc và đạo pháp.
Từ 1952-1963 với quyết tâm kiên cố, thấm nhuần đạo vị, Cư sĩ luôn luôn phát huy sở trường phục vụ Giáo hội, cộng tác thường xuyên, viết rất nhiều bài có giá trị cho các tờ báo Phật giáo như Liên Hoa, Hải Triều Âm, Hóa đạo và liên tục soạn thảo nhiều tài liệu cơ bản trong việc củng cố và phát triển Gia đình Phật tử như các quyền Gia trưởng, Nghề Đội Chúng trưởng, Cương yếu tổ chức Gia đình Phật tử và tất cả những tài liệu nghiên huấn từ cấp đồn sinh, đội chúng trưởng và soạn chương trình tu học cho các cấp Huynh trưởng của các trại huấn luyện: Lộc Uyển, A Dục, Huyền Trang và Vạn Hạnh. Nhiều khóa huấn luyện ở các trại trường đều có dấu ấn và bước chân Cư sĩ từ Huế vào đến khắp các tỉnh miền Nam.
Nổi bậc nhất là trong hồn cảnh đạo đức bị băng hoại, Cư sĩ đã qui tụ được một số thanh niên làm nồng cốt để phát triển ngành Thanh trên địa bàn các Tỉnh và Thành phố mà từ trước đến nay chưa đủ thiện duyên để thành tựu. Song song với các đồn Thanh, Cư sĩ tổ chức các đạo tràng chuyên tu cho những thanh thiếu niên, cho những người chưa có điều kiện sinh hoạt cùng tổ chức Gia đình Phật tử.
Trong tình hình đạo pháp còn chao đảo, Cư sĩ vẫn kiên định lập trường, đứng mũi chịu sào, không quản tấm thân gầy còm già yếu lại bị bệnh tật hoành hành, Cư sĩ gồng mình gánh chịu, qua bao lần lao lý, đôi mắt Cư sĩ mù lòa, Cư sĩ vẫn đến các vùng kinh tế mới xa xôi hẻo lánh, duy trì tổ chức, huấn luyện và dạy dỗ các em, sát cánh với các anh chị em trung kiên với tổ chức, với Giáo hội, hiến trọn cuộc đời cho đạo pháp trường tồn, cho quê hương yêu dấu. Sức khỏe của Cư sĩ càng sa sút thì tinh thần của Cư sĩ càng cao, chí khí của Cư sĩ càng vững. Kinh tế gia đình càng khó khăn, Cư sĩ vẫn vui cùng vợ hiền con thảo.
Cư sĩ muốn dấu diếm bệnh tình để luôn có nụ cười chan hòa như sen trắng. Anh chị em nhiều lần khuyên nhủ Cư sĩ giữ gìn sức khỏe nhưng Cư sĩ không chịu nghe, lấy lý do có làm việc mới vui, mới khỏe được. Hơn nữa Cư sĩ cho rằng Cư sĩ chưa hồn thành nhiệm vụ của người Huynh trưởng cấp Dũng. Chính vì vậy mà Cư sĩ phải vào bệnh viện và đã ra đi không kịp từ giã anh em, Cư sĩ ra đi lúc 4g15 phút ngày 03.04.1993 tức ngày 12.03 năm Quí Dậu.
Suốt 50 năm phục vụ đạo pháp và dân tộc, sinh hoạt trong lòng Giáo hội, trong bàn tay ấp yêu của các Thầy, các Cô, Cư sĩ đã cống hiến cả cuộc đời của mình cho Tổ chức Gia đình Phật tử Việt Nam, cho đạo pháp với cả thân tâm và trí tuệ. Cư sĩ vượt qua bao gian lao, chịu đựng bao đau khổ thân xác và tinh thần, cốt nêu gương sáng cho tất cả đồn viên Gia đình Phật tử Việt Nam.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.