Tiểu sử
Cư sĩ Phạm Văn Siêu sanh năm Kỷ Dậu, tại làng Đồng Xuyên, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên. Cư sĩ sinh trưởng trong một gia đình nho học, tin Phật. Thân phụ là cụ ông Phạm Văn Trữ, thân mẫu là cụ bà Nguyễn Thị Khóa.
Thuở thiếu thời bẩm tính thông minh, hiếu học, sau một thời gian học hỏi, Cư sĩ đã theo học đỗ bằng Trung học Pháp, tinh thông Hán học. Cư sĩ tuân theo cụ thân sinh lập gia đình với bà Nguyễn Thị Thống, Pháp danh Tâm Hồn, sinh hạ được 5 trai, 5 gái (nay còn 3 trai, 2 gái) – hiện con trai út nay là Đại đức Thích Phước Viên sinh hoạt tu học tại tỉnh Biên Hòa.
Do tích chứa thiện căn từ trước, nên thiện duyên đưa đến năm 1929, Cư sĩ quy y với Hòa thượng Tôn Thắng tại chùa Phổ Thiên, Đà Nẵng, Pháp danh Tâm Ngộ. Từ năm 1930-1932, nghiên cứu học hỏi giáo lý, Cư sĩ được gia nhập Hội viên thiệt hành của Hội Trung kỳ Phật học Huế. Nhờ học giáo lý với Hòa thượng Mật Khế, giảng sư đầu tiên của Hội Phật học Huế và Hòa thượng Thích Đôn Hậu nên Cư sĩ sớm tinh thông giáo lý.
Năm 1937-1943, Cư sĩ được tiến cử làm Chánh Thư ký Chi hội An Nam Phật học Đà Nẵng – là sáng lập viên của Hội – năm 1938 được giao Phó giảng giáo lý tại giảng đường chùa Chi hội Đà Nẵng (nay chùa Pháp Lâm) và tại Hội An.
Với mục đích vì mầm non của Đạo, Cư sĩ đã tổ chức và làm Phó trưởng Gia đình Phật Hóa Phổ năm 1939 và đến năm 1943 chính thức thành lập Gia đình Phật Hóa Phổ tại Đà Nẵng và Cư sĩ làm Trưởng ban Hướng dẫn Gia đình Phật Hóa Phổ Đà Nẵng nhiệm kỳ đầu tiên năm 1951.
Cư sĩ được trạch cử Ủy viên Tổng Trị sự Phật học Trung phần Huế phụ trách Tỉnh hội Quảng Nam và Đà Nẵng với nhiệm vụ:
+ Đôn đốc và hướng dẫn Phật sự hành chánh và tổ chức.
+ Phổ biến giáo lý căn bản tại các chi Khuôn hội tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng.
Năm 1955 phụ trách tổ chức cung nghinh Xá lợi Phật tại Đà Nẵng với chức vụ Tổng Thư ký điều hành và cũng trong năm 1955 phụ tá Sư bà Thể Quán, Thể Tịnh cùng tổ chức các lớp Phật pháp sơ cấp tại các khuôn hội Đà Nẵng.
Từ năm 1955-1960 đi giảng giáo lý tại các chi Khuôn hội tỉnh Quảng Nam và Đà Nẵng.
Năm 1959, phụ trách góp phần xây dựng Phật học viện Phổ Đà, Đà Nẵng.
Năm 1960, phụ trách tổ chức ngày Hội Quán Thế Âm đầu tiên tại Ngũ Hành Sơn do Giáo hội Tăng-già Trung phần Huế chủ trì. Cũng năm 1960, Cư sĩ được Tổng hội Phật giáo Trung phần ủy nhiệm đi kinh lý với cụ Hường Quỳ tất cả các tỉnh miền Trung từ ngày 15-5 đến 24-6-1960, đúng 40 ngày.
Cư sĩ phụ trách nói chuyện đạo lý và cổ động kiến thiết giảng đường chùa Từ Đàm, Huế.
Từ năm 1960 đến năm 1963 được cử Phó Hội trưởng Tỉnh hội Phật giáo Đà Nẵng – tổ chức Lễ Phật đản tại vườn hoa Diên Hồng vào năm 1962 rất long trọng, xe hoa, biểu ngữ, cờ Phật giáo treo khắp các ngã đường trong thành phố.
Năm 1963, phụ trách Tổng thư ký Văn phòng 3 cấp của Tổng trị sự thành phố tại Đà Nẵng. Ngày 20-8-1963 bị chế độ Diệm tấn công chùa chiền, Cư sĩ vào tù vì bảo vệ 5 nguyện vọng của Phật giáo và tự do tín ngưỡng đến ngày 6-11-1963 mới được trả tự do.
Năm 1964, được cử làm Chánh thư ký ban Đại diện Giáo hội Phật giáo Việt Nam Thống nhất Đà Nẵng.
Năm 1965, phụ trách Tổng giám thị Trung học Bồ Đề kiêm Ủy viên Xã hội của Giáo hội Phật giáo Đà Nẵng.
Năm 1970, Trưởng ban Ngoại hộ Đại giới đàn Vĩnh Gia một Phật sự thích ứng với nguyện vọng đã gần 50 năm mới được tổ chức tại Đà Nẵng.
Từ năm 1975 đến năm 1986, Chánh Thư ký Giáo hội, Phó Thư ký Giáo hội tỉnh Quảng Nam – Đà Nẵng – một giai đoạn khó khăn nhưng Cư sĩ vẫn kiên trì giữ vững sinh hoạt Phật sự của Giáo hội liên tục.
Là một cư sĩ có uy tín, một vị lãnh đạo có khả năng, Cư sĩ được các cấp lãnh đạo Phật giáo cấp trên cũng như cấp Chính quyền, Mặt trận giới thiệu vào công tác xã hội trong Đạo cũng như ngồi đời tốt đẹp. Một mặt hướng dẫn đạo hữu, Phật tử trên đường tu học đúng với chánh pháp, một mặt khuyên đồng bào theo đạo Phật làm tròn bổn phận công dân cải thiện đời sống phù hợp với châm ngôn Đạo Pháp, Dân Tộc, lấy Đạo giáo như thể Đạo, noi gương chư vị tiền bối Phật giáo từ trước trong sự nghiệp phụng sự Đạo pháp, bảo vệ Dân tộc với điểm son trong lịch sử Phật giáo Việt Nam.
Với tuổi già sức yếu, Cư sĩ trở về tịnh dưỡng, tu niệm dạy bảo con cháu luôn luôn giữ Đạo, làm lành tránh dữ. Đến năm 1999, Cư sĩ từ trần, hưởng thọ đúng 91 tuổi.
Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 2, xuất bản 2011.