Thông tin chung
Tá Thiên Nhân Hoàng hậu (佐天仁皇后) tên thật là Hồ Thị Hoa (胡氏華) hoặc Hồ Thị Thật (胡氏實). Bà là nguyên phối (vợ đầu) của Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng, vị quân chủ thứ hai của triều đại nhà Nguyễn. Bà sinh ra Hiến Tổ Thiệu Trị và qua đời chỉ 13 ngày sau khi hạ sinh.
Trong suốt cuộc đời, bà chưa từng được phong làm Hoàng hậu; chỉ đến sau khi bà qua đời, con trai bà là Hiến Tổ Thiệu Trị mới truy phong thụy hiệu cho bà. Bà được đánh giá là người đức hạnh nhưng bạc mệnh.
Xuất thân
Tá Thiên Nhân Hoàng hậu sinh ngày 30 tháng 11 năm 1791 tại Biên Hòa, Đại Việt, xuất thân từ gia tộc họ Hồ ở Bình An, tỉnh Biên Hòa (nay thuộc Thủ Đức), là con gái của Phúc Quốc công Hồ Văn Bôi và Phúc Quốc phu nhân Hoàng Thị Lành. Nguyên danh của bà là Hoa (華).
Hồ Văn Bôi khởi đầu sự nghiệp quân ngũ làm Túc trực đội trưởng, hai lần theo Nguyễn Vương Ánh đi Vọng Các (Bangkok, Thái Lan). Năm Đinh Mùi (1787), theo Nguyễn Vương về Gia Định, sau đó thăng làm Thuộc nội cai đội, cùng đội Túc trực trung ngũ theo Vương đánh giặc, lập nhiều chiến công. Năm Gia Long thứ nhất (1802), ông được thăng Vệ úy Tả nhất Thị trung; mùa đông năm ấy, lại thăng Khâm sai Thuộc nội chưởng cơ, coi vệ Tả nhất như cũ. Năm 1803, ông cùng vua đi tuần du miền Bắc; vì tuổi già, xin về hưu rồi qua đời.
Hồ Văn Bôi có hai con trai: Hồ Văn Lưu, từng làm quan đến Tiền phong doanh Đô thống chế; Hồ Văn Thập, làm quan đến Vệ úy sung nhất đẳng thị vệ.
Cuộc đời
Năm Bính Dần, Gia Long thứ 5 (1806), dưới triều Gia Long, bà được tuyển chọn làm chính thất, nguyên phối cho Hoàng trưởng tử Nguyễn Phúc Đảm (tức vua Minh Mạng sau này). Bà được đánh giá là người trinh thuận, hiếu kính và được cha mẹ chồng hết mực yêu quý. Hoàng đế đã ban cho bà tên mới là Thật (實), với ý nghĩa “gồm cả quả phúc,” vì cho rằng tên cũ chỉ mang nghĩa “hương thơm”.
Một năm sau, vào ngày 16 tháng 6, bà sinh Hoàng tử trưởng Nguyễn Phúc Miên Tông, nhưng 13 ngày sau, bà qua đời do bệnh hậu sản khi mới 17 tuổi, được táng tại núi Cư Chính, huyện Hương Thủy. Khi vua Minh Mạng lên ngôi, có ban hành lệ kiêng húy, do đó các từ có tên Hoa phải đổi: Thanh Hoa thành Thanh Hóa, chợ Đông Hoa thành chợ Đông Ba, cầu Hoa thành cầu Bông, làng Yên Hoa thành Yên Phụ, hay đọc là Huê như làng Hoa Cầu = Huê Cầu, hoa nhài = huê nhài; chữ Thật cũng đổi đọc là “thực,” như trong thực sự, chân thực.
Năm Minh Mạng thứ 2 (1821), bà được sách tặng làm Thuận Đức Chiêu nghi (順德昭儀). Năm thứ 7, cha bà được truy tôn làm Nghiêm Vũ Tướng quân Thượng hộ quân Đô Thống, còn bà nhận tước Nhị phẩm phu nhân (二品夫人). Năm thứ 17, bà được truy phong lên hàng Thần phi (宸妃). Lễ truy phong do Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Phan Hữu Tâm làm Chánh sứ và Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thức làm Phó sứ, cầm tờ tiết bưng sách vàng đến từ đường làm lễ truy phong. Năm thứ 19, mùa đông, tháng 10, cho xây đền tại xã Vạn Xuân, bờ tây sông Hữu Hộ Thành, rước linh cữu về đó. Sang năm đầu Thiệu Trị (1841), Hiến Tổ Thiệu Trị đã đề nghị truy phong thêm cho bà, và Thái hoàng thái hậu đồng ý, với lời dụ, sách văn dâng thụy, Đại Nam liệt truyện viết:
Thuận Đức Thần phi Hồ thị, kính vâng Thế Tổ Cao Hoàng Đế cùng già này đã cẩn thận chọn con gái trưởng của công thần Hồ Văn Bôi sung làm nguyên phối với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế. Hồ thị là người nết na, thuần thục, đoan kính hiền lương, được Nhân Hoàng Đế kính trọng yêu mến, lại khéo hầu hạ đức Thế Tổ Cao Hoàng Đế và già này, được hết đạo hiếu. Cho nên Thế Tổ đặc biệt ban cho mỹ húy. Nay tích đức để phúc, sinh được cháu trưởng để nối nghiệp lớn, nguồn phúc là từ đấy mà có. Nhưng Phi chết sớm, không kịp trông thấy ngày nay, thật thương xót! Nhân Hoàng Đế lòng thương vợ cũ, đã truy phong làm Thần phi, ở ngôi 21 năm mà trong cung vẫn để trống ngôi chính, há chẳng phải là để tưởng nhớ người vợ hiền lương chăng? Nay các quan có lời tâu nên cùng truy phong Đế và Hậu, rất hợp lòng lão tổ mẫu này. Lại có thể an ủi tấm lòng Nhân Hoàng Đế đối với hiền thê xưa, nay chuẩn cho Hoàng đế cháu ta cùng bá quan biết
Ngày 16 tháng 4, năm Canh Tý, bà được tôn thụy là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân hoàng hậu và được táng hợp với Thánh Tổ Nhân Hoàng Đế tại Hiếu Đông lăng, thờ tại điện Sùng Ân. Cha bà là Hồ Văn Bôi được truy phong Đặc Tiến Tráng Vũ tướng quân Tả quân Đô thống phủ Đô Thống, chức Thái bảo, tước hiệu Phúc Quốc công, thụy Trung Dũng (忠勇). Mẹ bà là Hoàng Thị Lành nhận tước Nhất phẩm Phúc Quốc phu nhân, thụy Ý Thuận (懿順), được lập đền thờ riêng ở xã Xuân Hòa, Hương Trà, đồng thời xây từ đường riêng tại quê nhà, gọi là Hồ tộc từ đường (胡族祠堂).
Bà qua đời ngày lúc 17 tuổi, còn quá trẻ làm cho vua Gia Long và các Hoàng hậu thương tiếc vô cùng. Vua xuống dụ cấm thần dân không được dùng từ Hoa. Khi gặp từ nầy phải đọc trại ra là Huê, Hoá, Ba. Có lẽ vì thế từ thời vua Gia Long trở về sau có một số tên bị thay đổi cách đọc như tỉnh Thanh Hoa được đổi thành Thanh Hoá, chợ Đông Hoa đổi thành Đông Ba, Phàn Lê Hoa đổi thành Phàn Lê Huê, cái Hoa thành cái Bông, Hoa lợi thành Huê lợi…
Nhắc thêm về việc cử dùng từ Hoa: Từ Sài Gòn qua Gia định hướng Thủ Đức du khách phải đi ngang qua cầu Bông còn gọi là cầu Xóm Bông. Theo sách sử do người Tây phương viết, cầu nầy thường được gọi vắn tắt là “2e Pont” (Cầu thứ 2), để phân biệt với cầu thứ nhứt (1er Pont) là cầu Bà Nghè (tức cầu Thị Nghè)… Xưa kia Cầu Bông tên là Cầu Hoa, vì nơi đây có trồng nhiều giống cây trổ hoa rất đẹp. Sở dĩ Cầu Hoa đổi tên ra Cầu Bông là vì trùng tên với bà Hoàng hậu vợ vua Minh Mạng, như đã nói trên.
Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa bậc anh thư của đất Biên Hòa
Trong Biên Hòa sử lược toàn biên, tác giả Lương Văn Lựu đã viết:
Có phải chăng, nhờ nước Đồng Nai đã được thấm nhuần hồn thiêng anh dũng của liệt sĩ ngàn xưa? Mà nay, nước Đồng Nai có đủ phẩm chất thanh khiết của một nguồn nước thiêng liêng để con sông Đồng Nai được làm nơi danh thắng, tượng trưng cho tất cả lãnh thổ miền Nam Việt?
Mà nay:
Đồng Nai nước ngọt gió hiền,
Biên Hùng muôn thuở đây miền an vui.
Mà nay, Biên Hòa được mệnh danh là Phật địa, có:
Non Châu, núi Bửu, sông Đồng,
Chan hòa nguồn sống hào hùng oai linh.
Người hiền, cảnh đẹp, gió lành,
Trái ngon, nước ngọt, đượm tình thân yêu.
Lương Văn Lựu xếp bà đứng ở vị trí thứ 2 sau bà Ngọc Vạn, người có công đầu trong khai mở vùng đất Nam bộ của nước Việt.
Nhà Nguyễn xuất phát từ Gia Miêu ngoại trang, Hà Trung, Thanh Hóa, nhưng đến đời con cháu, nhất là từ khi Nguyễn Hoàng vào trấn thủ Thuận Hóa trở đi, nhà Nguyễn gắn chặt với vùng đất Nam bộ. Rất nhiều vua chúa nhà Nguyễn không chỉ lấy đất Đồng Nai, đất Nam bộ làm nơi dung thân, làm “bàn đạp” để mở mang cơ nghiệp mà nhiều vị còn lấy vợ vùng Nam bộ.
Chứng bệnh hậu sản của bà Hồ Thị Hoa, vợ vua Minh Mạng
Trong quá trình nghiên cứu tiếng Huế và các hiện tượng ngôn ngữ – văn hóa liên quan đến triều Nguyễn, giới học giả thường gặp một hiện tượng đặc thù: tên húy của các vua chúa được dân gian “nói trệch” hoặc “viết sai nét” nhằm tuân thủ luật kỵ húy do triều đình ban hành. Thông lệ này về nguyên tắc chỉ áp dụng đối với tên các hoàng đế. Tuy nhiên, trong thực tế đã xuất hiện một trường hợp ngoại lệ hiếm hoi, khi luật kỵ húy không chỉ được vận dụng với vua mà còn mở rộng sang tên húy của một Hoàng hậu triều Nguyễn, không chỉ trong văn chương khoa cử mà cả trong sinh hoạt ngôn ngữ hằng ngày của cư dân Huế. Trường hợp đặc biệt ấy là bà Hồ Thị Hoa, nguyên phối của vua Minh Mạng.
Vua Minh Mạng (1791–1841) có tổng cộng 43 phi tần, song người vợ đầu tiên của ông là bà Hồ Thị Hoa (1791–1807). Bà xuất thân trong gia đình công thần, có phẩm hạnh hiền hậu, đoan trang, được vua Gia Long và Thuận Thiên Hoàng hậu tuyển chọn đưa vào cung Tiềm để hầu hạ hoàng tử Nguyễn Phúc Đảm – người sau này lên ngôi, tức vua Minh Mạng. Bà nhập cung năm 1806, khi hoàng tử chưa được lập làm Thái tử (mãi đến năm 1815).
Năm Đinh Mão (1807), bà sinh hoàng tử Nguyễn Phúc Miên Tông, tức vua Thiệu Trị sau này. Tuy nhiên, chỉ 13 ngày sau khi sinh, bà qua đời khi mới 17 tuổi. Sau khi mất, bà lần lượt được truy phong các tước hiệu: năm 1821 được sách phong Chiêu Nghi, năm 1836 phong Thân Phi, và đến năm 1841, được vua Thiệu Trị truy tôn là Tả Thiên Nhân Hoàng hậu.
Theo Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả: “Tháng năm năm Đinh Mão (1807), sinh Hiến Tổ Chương Hoàng Đế được 13 ngày thì mất.”
Ngay từ sau khi bà qua đời, dân gian xứ Huế đã bắt đầu tránh húy tên “Hoa”, đọc chệch thành “Huê”, và xa hơn nữa là thay thế hoàn toàn bằng các từ Nôm như “Ba”, “Bông”. Vì thế mới xuất hiện những cách gọi quen thuộc như “Huê viên”, “Ba viên”, “Đông Ba” (thay cho “Đông Hoa”), “bông ba hoa quả”… Điều đáng chú ý là sự thay thế này không xuất phát từ chiếu chỉ triều đình mà hoàn toàn do tình cảm tự phát của dân chúng. Hiện tượng này vẫn còn tồn tại trong ngôn ngữ Huế cho đến tận ngày nay.
Từ hiện tượng lịch sử – văn hóa nêu trên, hai vấn đề lớn được đặt ra:
- Vì sao tên húy của bà Hồ Thị Hoa – một Hoàng hậu lại được dân gian Huế tự nguyện áp dụng luật kỵ húy, vốn chỉ dành cho hoàng đế, và thậm chí còn được thay thế hoàn toàn bằng các từ Nôm “Ba”, “Bông” thay vì chỉ nói trệch thành “Huê”?
- Vì sao một Hoàng hậu sống trong Nội cung, được chăm sóc bởi nhiều ngự y, lại qua đời vì hậu sản chỉ sau 13 ngày sinh con? Chứng bệnh hậu sản nào có thể gây ra cái chết ấy nếu xét theo y học hiện đại?
Việc dân chúng Huế tránh húy tên bà Hồ Thị Hoa có thể được lý giải từ ba nguyên nhân chính:
Thứ nhất, bà là người hiền hậu, đức hạnh và hiếu kính. Nguyễn Phúc Tộc Thế Phả ghi rõ bà có tính tình dịu dàng, cẩn trọng, một lòng hiếu thuận, được Gia Long khen ngợi và ban tên “Thật”. Phẩm chất này phù hợp sâu sắc với chuẩn mực đạo đức và tâm lý truyền thống của người Huế.
Thứ hai, bà mất khi còn quá trẻ và trong hoàn cảnh đặc biệt thương tâm. Ở tuổi 17, vừa sinh con chưa đầy nửa tháng đã qua đời, để lại đứa con thơ dại “con vuông mà mẹ không tròn”. Bi kịch ấy dễ khơi gợi lòng trắc ẩn sâu sắc nơi cộng đồng dân cư vốn giàu cảm xúc.
Thứ ba, vua Minh Mạng thể hiện tình nghĩa sâu đậm với người vợ đầu tiên. Trước khi liệm, ông đặt một thỏi vàng vào tay bà và nói: “Khi khanh còn sống thường lo chết không có lộ phí, nay ta cho để khanh an lòng.” Hành vi này được người Huế cảm nhận như biểu hiện của nghĩa tình, chung thủy, rất phù hợp với tâm lý lãng mạn của cư dân cố đô.
Ba yếu tố ấy kết hợp lại khiến dân Huế tự nguyện nâng bà lên vị trí tôn kính đặc biệt, thể hiện qua việc tránh húy tên bà một cách triệt để, không do mệnh lệnh hành chính mà do tình cảm chân thành. Việc dùng các từ Nôm “Huê”, “Ba”, “Bông” phản ánh đặc trưng ngôn ngữ dân gian, phù hợp với trình độ chữ Hán hạn chế của đại bộ phận cư dân thời bấy giờ.
Chứng bệnh hậu sản theo Y học hiện đại
Trong quan niệm dân gian xưa, bệnh “hậu sản” thường được hiểu là các rối loạn thần kinh do uất ức, huyết áp cao, dẫn đến động kinh, liệt, méo miệng, câm nói – những biểu hiện mà y học hiện đại gọi chung là tai biến mạch máu não (stroke). Tuy nhiên, y học ngày nay phân loại bệnh hậu sản một cách hệ thống hơn.
Theo kinh nghiệm lâm sàng của các bác sĩ sản khoa Việt Nam, các nguyên nhân tử vong hậu sản chủ yếu gồm: xuất huyết sau sinh, nhiễm trùng hậu sản, uốn ván, lao tiến triển, bệnh tim, phù thũng do thiếu vitamin B1. Trong số đó, nhiễm trùng hậu sản là nguyên nhân phổ biến nhất, cả trong lịch sử lẫn ở các quốc gia kém phát triển hiện nay.
Nhiễm trùng hậu sản thường khởi phát từ các vết thương ở đường sinh dục, đặc biệt là vị trí bánh nhau bám vào tử cung, hoặc các vết rách âm đạo – tầng sinh môn. Vi trùng xâm nhập qua “cửa ngõ” này, lan theo đường máu và bạch huyết, gây viêm nội mạc tử cung, viêm vùng chậu, thậm chí viêm phúc mạc và nhiễm trùng huyết. Theo khoa học, các tác nhân thường gặp gồm Streptococci, Clostridium perfringens, Bacteroides fragilis, Escherichia coli. Biểu hiện lâm sàng là sốt cao, rét run, đau hạ vị, sản dịch hôi, suy kiệt toàn thân.
Loại trừ các khả năng như beriberi, lao, bệnh tim hay băng huyết cấp, có thể kết luận hợp lý nhất rằng bà Hồ Thị Hoa qua đời do nhiễm trùng hậu sản. Dù được chăm sóc trong Nội cung, song vào đầu thế kỷ XIX, y học chưa có kháng sinh, chưa hiểu rõ vi trùng học, và kỹ thuật khâu vết thương sinh dục chưa phổ biến.
Rất có thể trong quá trình sinh nở, bà bị tổn thương ở tử cung hoặc vùng hạ bàn; vi trùng xâm nhập, cơ thể chống đỡ trong 13 ngày rồi suy kiệt và tử vong. Trong bối cảnh y học đương thời, mọi điều trị chỉ mang tính “cầu may”, sự sống còn hoàn toàn phụ thuộc vào sức đề kháng tự nhiên.
Thờ phụng
Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa đã nhận được sự tôn vinh và thờ phụng hết sức long trọng từ triều đình nhà Nguyễn, đặc biệt là từ chồng bà, vua Minh Mạng, và con trai bà, vua Thiệu Trị, mặc dù bà qua đời khi còn rất trẻ và chưa kịp đảm nhiệm ngôi vị Hoàng hậu. Dưới triều Minh Mạng, do sự thương tiếc sâu sắc dành cho người vợ đầu đã khuất, vua đã nhiều lần truy phong tước vị cho bà: năm thứ 2 (1821), bà được sách tặng làm Thuận Đức Chiêu nghi; năm thứ 17 (1836), bà được tặng lên hàng Thần phi. Lễ truy phong được cử hành long trọng với Tiền quân Đô thống phủ Chưởng phủ sự Phan Hữu Tâm làm Chánh sứ và Thượng thư bộ Lễ Phan Huy Thức làm Phó sứ, bưng sách vàng đến từ đường. Năm thứ 19 (1838), vua cho xây đền thờ riêng tại xã Vạn Xuân, bờ tây sông Hữu Hộ Thành, đồng thời rước linh cữu về đó. Vua Minh Mạng còn để trống ngôi chính trong cung suốt 21 năm ở ngôi, được cho là để tưởng nhớ người vợ hiền lương này.
Khi con trai bà, Nguyễn Phúc Miên Tông, lên ngôi Hoàng đế, đã truy tôn bà lên hàng Hoàng hậu, thực hiện nguyện vọng của quần thần và ý chỉ của Thái Hoàng Thái hậu. Năm Thiệu Trị nguyên niên (1841), vua đã thỉnh mệnh bà nội là Nhân Tuyên Thái Hoàng Thái hậu (Thuận Thiên Cao Hoàng hậu) để sách phong thêm cho mẹ. Thái Hoàng Thái hậu cho rằng việc truy phong là hợp lý, vì bà là người nết na, thuần thục, đoan kính hiền lương và đã tích đức để phúc, sinh được cháu trưởng nối nghiệp lớn. Ngày 16 tháng 4 năm 1841, bà được dâng tôn thụy hiệu đầy đủ là Tá Thiên Lệ Thánh Đoan Chính Cung Hòa Đốc Khánh Từ Huy Minh Hiền Thuận Đức Nhân Hoàng hậu.
Các nơi thờ phụng Tá Thiên Nhân Hoàng hậu thể hiện vị trí cao quý của bà trong hoàng gia. Lăng táng của bà gọi là Hiếu Đông lăng (孝東陵), tọa lạc tại núi Cư Chính, huyện Hương Thủy. Thần chủ của bà được đưa về phối thờ với Thánh Tổ Nhân Hoàng đế tại Thế Miếu ở gian thứ nhất bên trái, đồng thời hợp táng tại Xương Lăng (昌陵) và thờ tại điện Sùng Ân cùng Thánh Tổ Nhân Hoàng đế. Đền thờ riêng được lập từ thời Minh Mạng tại làng Vạn Xuân, về sau dưới triều Thiệu Trị được đặt tên là Vĩnh Tư Điện.
Cha mẹ bà cũng được truy tôn tước vị cao quý: thân phụ là Hồ Văn Bôi được truy phong Phúc Quốc công (福國公), thụy là Trung Dũng (忠勇), chức Thái bảo; thân mẫu là Hoàng Thị Lành nhận tước Nhất phẩm Phúc Quốc phu nhân, thụy là Ý Thuận (懿順). Triều đình cho dựng đền thờ riêng cho thân mẫu ở xã Xuân Hòa, Hương Trà, đồng thời cho dựng từ đường riêng ở quê nhà (làng Linh Chiểu, Biên Hòa, nay là Thủ Đức), gọi là Hồ tộc từ đường, sau đổi tên là Dũ Trạch Từ vào năm 1852.
Việc truy phong và thờ phụng Tá Thiên Nhân Hoàng hậu Hồ Thị Hoa không chỉ là sự tôn vinh một người vợ hiền lương, mà còn là sự thừa nhận công đức và nguồn phúc mà bà đã mang lại, sinh ra người kế vị, vua Thiệu Trị, cho triều Nguyễn.
Tham khảo
- Hồ Thị Hoa, Wikipedia.
- Vũ Trung Kiên, Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa bậc anh thư của đất Biên Hòa, trên trang baodongnai.com.vn, đăng tải ngày 19/04/2020.
- Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa là người vợ đầu tiên của vua Minh Mạng, trên trang http://hoasendatviet.com/, đăng tải ngày 10/02/2020.
- Lương Chánh Tòng, Kỳ thú Thủ Đức: Họ Hồ và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, Báo Thanh Niên, đăng tải ngày 28/01/2021.
Ngôn ngữ khác
Tiếng Anh (English)
General Information
Ta Thien Nhan Empress (佐天仁皇后) was born Ho Thi Hoa (胡氏華) or Ho Thi That (胡氏實). She was the primary consort (first wife) of Nguyen Thanh To Minh Mang, the second ruler of the Nguyen dynasty. She gave birth to Hien To Thieu Tri but passed away only 13 days after childbirth.
Throughout her life, she was never formally conferred the title of Empress. It was only posthumously that her son, Hien To Thieu Tri, granted her a posthumous title. She was regarded as virtuous yet tragically short-lived. Her father-in-law, Emperor Gia Long, cherished her deeply and even ordered the tabooing of the character “Hoa” in names—a story that became widely known and influenced the renaming of many places across the country, remembered to this day.
Origins
Ta Thien Nhan Empress was born on November 30, 1791, in Bien Hoa, Dai Viet, into the Ho family of Binh An, Bien Hoa province (now Thu Duc). She was the daughter of Phuc Quoc Cong Ho Van Boi and Phuc Quoc Phu Nhan Hoang Thi Lanh. Her original given name was Hoa (華).
Life
In the year Binh Dan, the 5th year of Emperor Gia Long’s reign (1806), she was selected as the principal consort of the Crown Prince Nguyen Phuc Dam (later Emperor Minh Mang) and entered the palace to serve him. She was praised for her chastity, filial piety, and was deeply loved by her parents-in-law. The emperor bestowed upon her a new name, That (實), meaning “encompassing blessings,” as her original name only conveyed the meaning of “fragrance.”
A year later, on June 16, she gave birth to the first prince, Nguyen Phuc Mien Tong, but tragically died 13 days later due to postpartum complications at the age of 17. She was buried at Cu Chinh Mountain, Huong Thuy district. When Minh Mang ascended the throne, he instituted naming taboos; thus, names containing “Hoa” were changed, e.g., Thanh Hoa became Thanh Hoa, Dong Hoa market became Dong Ba market, Hoa Bridge became Bong Bridge, Yen Hoa village became Yen Phu, Hoa Cau was pronounced Hue Cau, and hoa nhai became hue nhai. The character That was also read as “thuc,” meaning “true” or “real.”
In the 2nd year of Minh Mang (1821), she was posthumously granted the title Thuan Duc Chieu Nghi (順德昭儀). In the 7th year, her father was posthumously honored as Nghiem Vu Tuong quan Thuong ho quan Do Thong, and she received the title of Second-Rank Consort (二品夫人). In the 17th year, she was posthumously elevated to Than Phi (宸妃). The posthumous elevation ceremony was conducted with Phan Huu Tam, Prefect of the Front Army, as Chief Envoy and Phan Huy Thuc, Minister of Rites, as Deputy Envoy, carrying the golden decree from her ancestral hall. In the 19th year, in winter, a temple was constructed in Van Xuan commune on the west bank of the Huu Ho Thanh River to enshrine her remains. In the first year of Thieu Tri (1841), her son, Hien To Thieu Tri, proposed further posthumous honors for her, with the Grand Empress Dowager approving, stating in the edict:
Thuan Duc Than Phi Ho Thi, dutifully selected by The To Cao Hoang De and this elder, was made the primary consort of Thanh To Nhan Hoang De. Ho Thi was virtuous, gentle, and respectful, loved by Nhan Hoang De, skillful in serving The To Cao Hoang De and this elder, and exemplified filial piety. Therefore, The To specially bestowed a beautiful name. She bore the first child to continue the dynasty, yet passed away too soon, unable to witness the present—truly sorrowful. Nhan Hoang De, out of love for his deceased wife, posthumously elevated her to Than Phi. During his 21-year reign, the principal position in the palace remained vacant to honor his virtuous wife. It is fitting for officials to propose posthumous elevation, comforting Nhan Hoang De’s devotion and letting the emperor and court recognize her.
On April 16, the year Canh Ty, she was posthumously conferred the full title Ta Thien Le Thanh Doan Chinh Cung Hoa Doc Khanh Tu Huy Minh Hien Thuan Duc Nhan Empress and was buried alongside Thanh To Nhan Hoang De at Hieu Dong Mausoleum, enshrined in the Sung An Hall. Her father, Ho Van Boi, was posthumously honored as Phuc Quoc Cong, with the posthumous title Trung Dung (忠勇) and the office of Thai Bao. Her mother, Hoang Thi Lanh, was granted the title Nhat pham Phuc Quoc Phu Nhan, with posthumous title Y Thuan (懿順), and a temple was built for her in Xuan Hoa commune, Huong Tra, along with an ancestral hall in the family’s hometown, known as Ho Toc Ancestral Hall (胡族祠堂).
Veneration
Ta Thien Nhan Empress Ho Thi Hoa received grand recognition and veneration from the Nguyen court, particularly from her husband, Emperor Minh Mang, and her son, Emperor Thieu Tri, despite her early death before assuming the position of Empress. During Minh Mang’s reign, in deep mourning for his first wife, he posthumously granted her titles multiple times: in the 2nd year (1821), she was conferred Thuan Duc Chieu Nghi; in the 17th year (1836), she was elevated to Than Phi. The ceremonies were conducted with great solemnity, with the Chief Envoy Phan Huu Tam and Deputy Envoy Phan Huy Thuc carrying the golden decree. In the 19th year (1838), the emperor had a temple built in Van Xuan commune and relocated her remains there. Minh Mang left the principal position in the palace vacant for 21 years, honoring his virtuous wife.
When her son Nguyen Phuc Mien Tong ascended the throne, he posthumously elevated her to Empress, fulfilling the wishes of court officials and the Grand Empress Dowager. In the first year of Thieu Tri (1841), he sought the Grand Empress Dowager Nhan Tuyen (Thuan Thien Cao Hoang Hau) to approve the posthumous elevation of his mother. On April 16, 1841, she received the full posthumous title: Ta Thien Le Thanh Doan Chinh Cung Hoa Doc Khanh Tu Huy Minh Hien Thuan Duc Nhan Empress.
Her veneration reflects her esteemed position in the royal family. Her mausoleum, Hieu Dong Mausoleum (孝東陵), is located at Cu Chinh Mountain, Huong Thuy district. Her spirit tablet was enshrined with Thanh To Nhan Hoang De at The Mieu (in the first hall on the left), and she was also interred at Xuong Lang (昌陵) and worshiped in Sung An Hall. A separate temple was established during Minh Mang’s reign in Van Xuan village, later named Vinh Tu Dien under Thieu Tri.
Her parents were posthumously honored as well: her father, Ho Van Boi, became Phuc Quoc Cong, with posthumous title Trung Dung (忠勇) and office of Thai Bao; her mother, Hoang Thi Lanh, received the title Nhat pham Phuc Quoc Phu Nhan, posthumous title Y Thuan (懿順). A separate temple was built for her mother in Xuan Hoa commune, Huong Tra, and an ancestral hall was established in the family’s hometown (Linh Chieu village, Bien Hoa, now Thu Duc), originally called Ho Toc Ancestral Hall, renamed Du Trach Tu in 1852.
The posthumous elevations and veneration of Ta Thien Nhan Empress Ho Thi Hoa not only honor a virtuous wife but also acknowledge her merit and the blessings she brought, giving birth to the successor Emperor Thieu Tri of the Nguyen dynasty.
References
- Hồ Thị Hoa, Wikipedia.
- Vũ Trung Kiên, Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa bậc anh thư của đất Biên Hòa, trên trang baodongnai.com.vn, đăng tải ngày 19/04/2020.
- Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa là người vợ đầu tiên của vua Minh Mạng, trên trang http://hoasendatviet.com/, đăng tải ngày 10/02/2020.
- Lương Chánh Tòng, Kỳ thú Thủ Đức: Họ Hồ và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, Báo Thanh Niên, đăng tải ngày 28/01/2021.
Tiếng Trung (中文)
基本信息
佐天仁皇后(Ta Thien Nhan Hoang hau,佐天仁皇后)本名胡氏华(Ho Thi Hoa,胡氏華)或胡氏实(Ho Thi That,胡氏實)。她是阮朝第二位君主阮圣祖明命皇帝(Nguyen Thanh To Minh Mang)的原配(第一任妻子)。她生下献祖绍治(Hien To Thieu Tri),但在生下皇子后仅13天便去世。
她生前从未被封为皇后,只有在去世后,她的儿子献祖绍治才追封谥号。她被评价为贤德之人,但命运多舛。她的公公嘉隆帝(Gia Long)非常疼爱她,以至于下令避讳“华”字,这件事成为著名轶事,影响了全国多个地名的改名,至今仍被人传颂。
出身
佐天仁皇后于1791年11月30日生于大越(Bien Hoa),出身于平安省(今属守德市)胡氏家族,是福国公胡文培(Ho Van Boi)与福国夫人黄氏良(Hoang Thi Lanh)之女。原名为“华”(華)。
生平
嘉隆五年(1806年,丙寅年),在嘉隆帝统治时期,她被选为皇长子阮福担(Nguyen Phuc Dam,即后来的明命皇帝)的正室原配,进入宫中侍奉。她被评价为贞顺孝敬,深受公婆喜爱。皇帝赐她新名“实”(實),意为“包含福泽”,因为原名“华”仅有“芳香”之意。
一年后,即六月十六日,她生下皇长子阮福绵宗(Nguyen Phuc Mien Tong),但在产后13天因病去世,年仅17岁,葬于香水县(Huong Thuy)居正山。明命帝即位后实施避讳制度,因此含“华”字的地名需改名:清华改为清化,东华市改为东巴市,华桥改为瓮桥,Yen Hoa村改为Yen Phu,或读作Hue,如Hoa Cau村,花茉莉;“实”字也改读为,如实际、真实。
明命二年(1821),追封为顺德昭仪(Thuan Duc Chieu nghi,順德昭儀)。七年,她父亲追尊为严武将军、上护军都统,她本人获二品夫人(二品夫人)封号。十七年,她被追封为宸妃(宸妃)。追封仪式由前军都统府掌府事潘有谭(Phan Huu Tam)为正使,礼部尚书潘辉奭(Phan Huy Thức)为副使,持金册前往祠堂行礼。十九年冬十月,在万春社(Van Xuan)建庙,迁灵柩至此。翌年绍治元年(1841),献祖绍治请求追封,太皇太后同意,并颁赐谥号。大南列传记载:
顺德宸妃胡氏,敬承世祖高皇帝及祖母精心选用功臣胡文培长女为圣祖仁皇帝原配。胡氏为人淑良端谨,仁皇帝敬爱,孝顺世祖及祖母,因此世祖特赐美名。积德得福,生皇长子继大业,福源自此而来。然妃早逝,未及见今日,令人惋惜!仁皇帝念及故妻,追封为宸妃,二十一年中宫位空置,以志哀思,宜令诸官奏请同追封帝后,合乎太皇太后心意,可慰仁皇帝旧情,昭告后世。
绍治元年(1841)四月十六日,她被追尊谥号为“佐天丽圣端正宫和督庆慈辉明贤顺德仁皇后”,并与圣祖仁皇帝合葬于孝东陵(Hieu Dong Lang),供奉于崇恩殿。她父胡文培追封特进壮武将军、左军都统府都统、太保、福国公,谥忠勇(Trung Dung,忠勇)。母黄氏良追封一品福国夫人,谥懿顺(Y Thuan,懿順),在香茶乡(Huong Tra)春和社建庙,家乡林召村另建胡氏祠堂(胡族祠堂)。
祭祀
佐天仁皇后胡氏华在阮朝获得隆重尊崇与祭祀,特别是丈夫明命皇帝及儿子绍治皇帝,即便她英年早逝,未能承皇后位。明命朝为纪念首任妻子,多次追封:二年追封顺德昭仪,十七年追封宸妃,十九年建庙祭祀,并迁灵柩至万春社。明命帝在位二十一年期间宫中正位一直空置,以表悼念贤良皇后之意。
儿子绍治帝即位后,追尊她为皇后,实现群臣愿望及太皇太后旨意。绍治元年(1841)请求太皇太后册封,认为追封合理,因她端庄淑良、积德生皇长子继大业。四月十六日,她被追尊为全称谥号:佐天丽圣端正宫和督庆慈辉明贤顺德仁皇后。
她的祭祀场所显示其皇室地位尊崇。陵寝为孝东陵(孝東陵),位于香水县居正山。神主与圣祖仁皇帝配祀于世庙左侧第一间,合葬昌陵(Xương Lăng,昌陵),供奉于崇恩殿。明命朝建有专祠于万春社,绍治朝改名永思殿。
父母亦追封高位:父胡文培追封福国公(福國公),谥忠勇(忠勇),太保;母黄氏良追封一品福国夫人,谥懿顺(懿順)。朝廷在她母亲家乡春和社建庙,同时建胡氏祠堂(后改名裕泽祠,1852年)。
追封与祭祀佐天仁皇后胡氏华,不仅是对贤良妻子的尊崇,也是对她功德和带来福泽的承认,她生下继位者绍治皇帝,为阮朝继承大业奠定基础。
参考资料
- Hồ Thị Hoa, Wikipedia.
- Vũ Trung Kiên, Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa bậc anh thư của đất Biên Hòa, trên trang baodongnai.com.vn, đăng tải ngày 19/04/2020.
- Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa là người vợ đầu tiên của vua Minh Mạng, trên trang http://hoasendatviet.com/, đăng tải ngày 10/02/2020.
- Lương Chánh Tòng, Kỳ thú Thủ Đức: Họ Hồ và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, Báo Thanh Niên, đăng tải ngày 28/01/2021.
Tiếng Pháp (Français’)
Informations generales
L’imperatrice Ta Thien Nhan (佐天仁皇后) s’appelait en realite Ho Thi Hoa (胡氏華) ou Ho Thi That (胡氏實). Elle etait l’epouse principale (premiere femme) de Nguyen Thanh To Minh Mang, le deuxieme souverain de la dynastie Nguyen. Elle donna naissance a Hien To Thieu Tri et deceda seulement treize jours apres l’accouchement.
Durant toute sa vie, elle ne fut jamais investie imperatrice ; ce n’est qu’apres sa mort que son fils, Hien To Thieu Tri, lui confera a titre posthume un nom honorifique. Elle est reconnue pour sa vertu mais consideree comme ayant eu un destin tragique. Son beau-pere, l’empereur Gia Long, l’aimait profondement au point de proscrire l’usage du caractere « Hoa » dans les noms, un evenement celebre qui entraina le changement de nombreux toponymes a travers le pays et est encore evoque aujourd’hui.
Origine
L’imperatrice Ta Thien Nhan naquit le 30 novembre 1791 a Bien Hoa, Dai Viet, dans la famille Ho de Binh An, province de Bien Hoa (aujourd’hui Thu Duc). Elle etait la fille de Phuc Quoc cong Ho Van Boi et de Phuc Quoc phu nhan Hoang Thi Lanh. Son nom d’origine etait Hoa (華).
Vie
En l’annee Binh Dan, cinquieme annee du regne de Gia Long (1806), elle fut choisie comme epouse principale du prince aîné Nguyen Phuc Dam (futur empereur Minh Mang) et entra au palais pour servir. Elle etait reconnue pour sa chastete, sa pieté filiale et fut profondement aimee par ses beaux-parents. L’empereur lui donna un nouveau nom, That (實), signifiant « comprenant le merite et la benediction », car son nom initial ne signifiait que « parfum ».
L’annee suivante, le 16 juin, elle donna naissance au prince aîné Nguyen Phuc Mien Tong, mais deceda treize jours plus tard des suites de l’accouchement, a l’age de 17 ans. Elle fut inhumee a la montagne Cu Chinh, district de Huong Thuy. Lorsque Minh Mang monta sur le trone, il instaura la regle de proscription des noms : les termes contenant « Hoa » furent modifies : Thanh Hoa devint Thanh Hoa, cho Dong Hoa devint cho Dong Ba, cau Hoa devint cau Bong, lang Yen Hoa devint Yen Phu, et la lecture du caractere Hoa fut adaptee comme Hue, par exemple lang Hoa Cau = Hue Cau, hoa nhai = hue nhai ; le caractere That fut lu « thuc », comme dans thuc su, signifiant authentique ou vrai.
En deuxieme annee du regne de Minh Mang (1821), elle recut le titre posthume de Thuan Duc Chieu nghi (順德昭儀). La septieme annee, son pere fut posthume eleve au rang de Nghiem Vu Tuong quan Thuong ho quan Do Thong et elle recut le titre de phu nhan de deuxieme rang (二品夫人). La dix-septieme annee, elle fut promue au rang de Than phi (宸妃). La ceremonie de promotion fut conduite par Phan Huu Tam, Chanh su du Tien quan Do thong phu, assiste par Phan Huy Thuc, Thuong thu bo Le, Pho su, portant le livre d’or depuis la maison ancestrale. En dix-neuvieme annee, en hiver, mois 10, un temple fut construit a Van Xuan, sur la rive ouest de la riviere Huu Ho Thanh, pour y transferer son cercueil. La premiere annee de Thieu Tri (1841), Hien To Thieu Tri demanda de lui conferer un titre supplementaire, ce qui fut approuve par l’imperatrice douairiere, avec un edit officiel :
Thuan Duc Than phi Ho thi, respectueusement choisie par l’empereur The To Cao Hoang De et cette derniere pour etre epouse principale de l’empereur Nhan Hoang De. Ho thi etait vertueuse, modeste, pieuse et respectueuse, aimee de l’empereur. Elle servait avec diligence l’empereur The To Cao Hoang De et cette derniere, accomplissant ses devoirs filiaux. Pour cela, The To lui donna un nom honorable. Elle engendra l’aine pour poursuivre la grande lignee, mais la Phi mourut prematurement, ne voyant pas ce jour, regrettable ! L’empereur Nhan, en memoire de son epouse defunte, la nomma Than phi, et la position principale du palais resta vacante pendant 21 ans, rappelant cette epouse vertueuse. Aujourd’hui, les fonctionnaires proposent d’ajouter la posterite imperiale et la promotion de la reine, ce qui est en accord avec le souhait de l’ancienne imperatrice douairiere. Cela consolera egalement le coeur de l’empereur Nhan pour sa defunte epouse et en informera les futurs empereurs et hauts dignitaires.
Le 16 avril de l’annee Canh Ty, elle fut officiellement honoree du nom complet Ta Thien Le Thanh Doan Chinh Cung Hoa Doc Khanh Tu Huy Minh Hien Thuan Duc Nhan Hoang hau et inhumee conjointement avec l’empereur Thanh To Nhan au Hieu Dong lang, et honoree dans le palais Sung An. Son pere, Ho Van Boi, fut posthume eleve au rang de Phuc Quoc cong, avec le titre Trung Dung (忠勇), fonction de Thai bao. Sa mere, Hoang Thi Lanh, recut le titre de Premiere Phu nhan Phuc Quoc, avec le nom posthume Y Thuan (懿順), et un temple lui fut dedie a Xuan Hoa, Huong Tra, ainsi qu’une maison ancestrale dans le village natal, appelee Ho toc tu duong (胡族祠堂).
Culte
L’imperatrice Ta Thien Nhan Ho Thi Hoa a recu un culte solennel de la part de la cour des Nguyen, notamment de son mari Minh Mang et de son fils Thieu Tri, malgre sa mort prematuree avant de pouvoir exercer en tant qu’imperatrice. Sous Minh Mang, par devotion pour sa premiere epouse defunte, l’empereur lui confera plusieurs titres posthumes : en 1821, Thuan Duc Chieu nghi ; en 1836, Than phi, ceremonie conduite avec faste par Phan Huu Tam et Phan Huy Thuc, apportant le livre d’or depuis la maison ancestrale. En 1838, un temple fut construit a Van Xuan, rive ouest de la riviere Huu Ho Thanh, pour accueillir son cercueil. Minh Mang laissa egalement la position principale du palais vacante pendant 21 ans en sa memoire.
Lorsque son fils Nguyen Phuc Mien Tong monta sur le trone, il la promot imperatrice conformement au souhait des ministres et a l’edict de l’imperatrice douairiere. La premiere annee de Thieu Tri (1841), l’imperatrice douairiere Nhan Tuyen confirma la promotion. Le 16 avril 1841, elle recut officiellement le nom complet : Ta Thien Le Thanh Doan Chinh Cung Hoa Doc Khanh Tu Huy Minh Hien Thuan Duc Nhan Hoang hau.
Les lieux de culte temoignent de sa haute position dans la famille imperiale. Sa tombe, Hieu Dong lang (孝東陵), est situee sur la montagne Cu Chinh, district de Huong Thuy. Son esprit fut conjointement venere avec l’empereur Thanh To Nhan au The Mieu, puis inhumee a Xuong Lang (昌陵) et honoree dans le palais Sung An. Le temple dedie fut construit sous Minh Mang a Van Xuan, puis renomme Vinh Tu Dien sous Thieu Tri.
Ses parents furent egalement honores posthume : son pere Ho Van Boi devint Phuc Quoc cong, posthume Trung Dung (忠勇), fonction de Thai bao ; sa mere Hoang Thi Lanh recut le titre de Premiere Phuan Phuc Quoc, posthume Y Thuan (懿順). Un temple lui fut dedie a Xuan Hoa et une maison ancestrale a Linh Chieu (Bien Hoa, aujourd’hui Thu Duc), appelee Ho toc tu duong, renomee Du Trach Tu en 1852.
La promotion posthume et le culte de l’imperatrice Ta Thien Nhan Ho Thi Hoa ne sont pas seulement un hommage a une epouse vertueuse, mais aussi la reconnaissance de ses merites et du bonheur qu’elle apporta en donnant naissance au successeur, l’empereur Thieu Tri.
References
- Hồ Thị Hoa, Wikipedia.
- Vũ Trung Kiên, Tá Thiên Nhân hoàng hậu Hồ Thị Hoa bậc anh thư của đất Biên Hòa, trên trang baodongnai.com.vn, đăng tải ngày 19/04/2020.
- Tá Thiên Nhân Hoàng Hậu Hồ Thị Hoa là người vợ đầu tiên của vua Minh Mạng, trên trang http://hoasendatviet.com/, đăng tải ngày 10/02/2020.
- Lương Chánh Tòng, Kỳ thú Thủ Đức: Họ Hồ và Tá Thiên Nhân Hoàng hậu, Báo Thanh Niên, đăng tải ngày 28/01/2021.