Thanh Mai Viên Thông tháp bi

Thanh Mai Viên Thông tháp bi

Thông tin cơ bản

Thanh Mai Viên Thông tháp bi

Bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai về hành trạng tổ Pháp Loa, do Huyền Quang khảo đính, Trung Minh soạn, Thiệu Tuệ viết, Kim Sơn khắc. Đây là sử liệu nguyên cấp thời Trần. Bản dịch lần này dựa trên bản chú thích của Văn khắc Hán Nôm Việt Nam.

Phiên âm:

Thanh Mai Viên Thông tháp bi

Trần triều Lịch đại tổ sư Đặc phong Phổ Huệ Minh Giác Tịnh Tríđại tôn giả niên phổ

Y Đoạn sách lục

Thị giả Trung Minh tập nhập

Truyền pháp Chân tử Huyền Quang khảo đính

Thiệu Bảo lục niên Giáp Thân ngũ nguyệt sơ thất nhật Mão thời sư sinh ư Nam Sách giang Cửu La hương Đồng Hòa thôn xá. Tiên thị, Quý Mùi niên bát nguyệt sư mẫu Vũ thị dạ mộng dị nhân thụ dĩ thần kiếm, hỉ nhi hoài chi, giác nãi thần. Sinh thời dị hương mãn thất, di thời phương tuyệt. Phụ Tịnh Hạnh chủng tính Đồng thị húy mỗ, Thích hiệu Thuần Mậu. Mẫu Vũ thị húy mỗ, hiệu Từ Cứu. Sư sinh nhi dĩnh ngộ, khẩu bất thuyết ác ngôn, thực bất thị huân nhục, tục danh Kiên Cương. Sơ kì mẫu liên đắc bát nữ tử. Cập thai sư thời, yếm kì nữ tử chi đa, mật cầu dược hạ chi, hiệu tứ phục, bất thoát nhi lưu chi. Cập sản đắc sư, nãi đại hỉ, cố dĩ Kiên Cương danh chi.

Hưng Long thập nhị niên Giáp Thìn, sư nhị thập nhất tuế. Thị niên, Nhân Tông Điều Ngự Đầu Đà biến du chư đạo, trừ dâm từ, thí pháp dược trị chư bần bệnh giả, diệc cầu pháp tự chi thiết. Giá hạnh Nam Sách giang, thời sư viễn du, giác tâm đầu phiền muộn nhi quy, quả kiến Điều Ngự hạnh kì thôn, toại lễ cầu xuất gia. Điều Ngự nhất kiến nhi kì chi viết: “Thử tử hữu đạo nhãn, hậu tất hữu pháp khí”. Thả hì kì tự lai, toại tứ danh Thiện Lai. Cập quy Linh Sơn Kì Lân liêu, thế phát thụ man y, chỉ tham Quỳnh quán Tính Giác hòa thượng, nhi sư bách kế tư tuần, Giác chung bất vị khai thị. Sư nãi thám thủ Hải Nhãn kinh gian, đáo: “Thất xứ trừng tâm hậu khách trần dụ”, phản phúc cửu chi, hốt hữu nhập xứ. Nhất nhật sư tòng Tính Giác xứ quy tham yết, trị Điều Ngự thượng đường, thứ cử Thái Dương Ô Kê tụng, Sư hữu tỉnh, Điều Ngự tri chi, nãi mệnh thị tả hữu. Nhất dạ nhân trình Tam yếu tụng, bị Điều Ngự nhất bút cú hạ, sổ tứ thỉnh ích, Điều Ngự chỉ giáo tự tham. Nhập phòng trung, tâm đầu thất thượng bát hạ; tý dạ canh thâm, nhân kiến đăng hoa lạc, hốt nhiên đại ngộ, toại cử sở ngộ trình tự, Điều Ngự thâm chỉ chi. Sư tòng thử thệ tu thập nhị đầu đà hạnh.

Hưng Long thập tam niên Ất Tỵ, Điều Ngự ư Kì Lân liêu, thân thụ sư Thanh văn cập Bồ Tát giới, tham học thành khí, nhân tứ hiệu Pháp Loa yên. Thị niên Huyền Quang sơ xuất gia, lễ Vĩnh Tự đường, Bão Phác thụ giới.

Hưng Long thập tứ niên Bính Ngọ, Điều Ngự trụ trì Siêu Loại Báo Ân tự, lập sư vi giảng chủ. Điều Ngự kiến Huyền Quang tùy Bão Phác đáo kì tự thính giảng, nãi dẫn vì thị giả.

Hưng Long thập ngũ niên Đinh Mùi, sư nhị thập tứ tuế. Tứ nguyệt, Điều Ngự ư Thiên Bảo Quán Trụ am, thị giả thất, bát nhân, nhi sư vi thủ. Điều Ngự vị sư giảng Đại Tuệ ngữ lục. Ngũ nguyệt, Điều Ngự thượng Ngọa Vân phong Đinh Trụ am; thập ngũ nhật bố tát, bính tả hữu, dĩ y bát cập thư tâm kệ phó sư, giáo kì hộ trì.

Hưng Long thập lục niên Mậu Thân chính nguyệt sơ nhất nhật, phụng mệnh ư Siêu Loại tự Cam Lộ đường tự pháp trụ trì khai đường hành truyền tự chi lễ, liệt tổ vị, tấu đại nhạc, thiêu danh hương. Điều Ngự dẫn sư bái tổ đường, ngật chúc hậu, mệnh tấu nhạc, lôi pháp cổ, tập đại chúng, thượng pháp đường. Thời Anh Tông giá hạnh kì tự, liệt chủ khách chỉ vị. Anh Tông dĩ Phật pháp đại đàn việt, lập khách vị, tại pháp đường thượng; tể chấp thứ liêu, lập đình hạ. Điều Ngự thăng tòa thuyết pháp, ngữ tất, tiện hạ, ủng sư đăng kì tòa. Điều Ngự đối diện hợp chưởng vấn tấn, sư đáp bái ngật, thụ pháp y phi chi, Điều Ngự nãi hướng thiên vị, tọa khúc lục sàng, thính sư thuyết pháp. Dĩ An Tử sơn môn, Siêu Loại tự, mệnh sư kế thế trụ trì, vì Trúc Lâm đệ nhị đại. Hựu dĩ Kinh sử ngoại thư bách hàm, cập sở thích huyết tả Đại tạng tiểu giáp nhị thập hàm, phó sư dĩ quảng nội ngoại học.

Tiên thị Thống Chính Thái sư di thí Tân Lang trang dĩ vi Siêu Loại thường trụ sản. Điều Ngự khủng kì bất tiện, mệnh Anh Tông (trừ đội} gia hương điền nhất bách mẫu cập canh phu hoán chi, dĩ sung tăng thực. Hựu Đế Cơ Từ Chiêu tỳ khiêu ni Đại Từ hương điền nhị thập ngũ mẫu cập kì tự, dĩ thiêm chi. Thị niên sư ư Siêu Loại tự phụng sắc thụ Tuyên Từ Hoàng thái hậu, cập Đế Cơ Thiên Trinh trưởng công chủ xuất gia Bồ Tát giới. Anh Tông mệnh Trung thư Thị lang Vương Công Trứ cấp sư điệp, độ thường tùy tăng, bất câu thường luật. Kì lược viết: “Tuyển Phật trường yếu tu tinh tuyển, cầu Phật xứ bất giả ngoại cầu. Thẩn nãi vi tăng, dĩ tự mông kì đại pháp, phù hà độ chúng do hoặc nê ư thường quy”. Dĩ thập nhất nguyệt, Điều Ngự ư Ngọa Vân am nhập diệt. Sư hỗ tống xá lị, nhập đại nội an trí, thuyết pháp ngữ, tác Thạch thất mị ngữ niêm tụng, Thạch thất mị ngữ nãi Điều Ngự thoái viện trụ sơn thời sở tác dã.

Hưng Long thập thất niên Ki Dậu thất nguyệt thập tử nhật, phụng sắc phó Nhân Tông Vu lan đại trai, thăng đường phổ thuyết. Thị nguyệt sư tiếp Huyền Quang thả vị chi viết: “Điều Ngự di chúc, nhữ kì vong hồ?”. Huyền Quang tòng thử tương tùy tham học, bất li tả hữu. Cửu nguyệt, phụng chiếu tùy ngự chu dẫn Điều Ngự xá lị tự Đại nội hạ Long Hưng phủ nhập lăng, phát bảo tạng hạ khoáng, phong xá lị, sư giai hữu pháp ngữ.

Hưng Long thập bát niên Canh Tuất tam nguyệt, Anh Tông sắc tứ mỗi độ thường tùy tăng tam niên, hựu tứ An Đinh hương thượng điền bát thập mẫu cập canh phu, dĩ cấp chúng thực, tứ, ngũ niên hậu phản chi. Sư thường trú dạ trì chú, lễ Phật bất khuyết, hữu thuật Phát nguyện văn tại Lục thời nghi trung, đại ý vị: “Chư Phật Bồ Tát sở hữu hạnh nguyện, giai nguyện học chi, nhất thiết chúng sinh hoặc tán hủy, hoặc kính mạn, hoặc thí dữ, hoặc xâm đoạt, xúc mục văn danh giai độ chi, lệnh đăng Bồ đề”. Thất nguyệt, phụng chiếu phó Nhân Tông vu lan đại trai, thăng đường giảng Hoa Nghiêm đại chỉ. Hựu tựu đại nội Tư Phúc tự phát Điều Ngự xá lị cập thánh tăng hạ Long Hưng phủ, nhập Phổ Từ tự an trí. Thị niên độ Cảnh Huy xuất gia thụ giới.

Hưng Long thập cửu niên Tân Hợi, phụng chiếu tục san Đại tạng kinh bản. Sư mệnh Bảo Sát chủ kì sự. Tứ nguyệt ư Siêu Loại tự trụ trì giảng Truyền đăng lục, thượng đường nhập trạch. Huyền Quang trình kiến giải, sư giai chỉ chỉ.

Hưng Long nhị thập niên Nhâm Tý thập nhất nguyệt, Anh Tông chiếu nhập Nội Tư Phúc tự giảng Đại Tuệ ngữ lục. Nhưng phát nội thảng kim ngân vi tiền ngũ vạn, ủy sư chẩn thí bần giả. Hựu tứ quan hang cập trạo phu dĩ cấp thường thời vãng lai, sư từ bất thụ, Anh Tông mệnh xả Niệm Như trang điền nhất sở ngũ bách mẫu, di sư vi tam bảo thường trụ sản.

Hưng Long nhị thập nhất niên Quý Sửu nhị nguyệt sơ nhất nhật, Long Đàm tổ viện chủ Na Già thỉnh sư tựu kì tự giảng Thiền Lâm Thiết Chủy ngữ lục, cập Tuệ Trung Thượng sĩ ngữ lục, Duy Ma kinh. Khai đường thăng tòa nhật, Anh Tông thân lâm thính pháp, phụng Điều Ngự di chiếu, thủ Thánh Từ cung Tam Bảo vật trùng cấu Siêu Loại Báo Ân tự. Thị dịch, công tượng thổ mộc giai tòng quan cấp. Thượng tam, tứ hạnh kì tự, nhưng mệnh cấm quân bồi thổ vận mộc. Cửu nguyệt, phụng chiếu tựu Lượng Giang Vĩnh Nghiêm tự định thiên hạ tăng chức cập trí Già lam phàm bách dư sở, thiên hạ tăng tòng thử hữu tịch hĩ, giai sư quản chi. Thị thời độ thiên dư nhân, hậu phàm tam niên nhất độ, tăng giai bất giảm thiên số. Tuyên Từ Hoàng thái hậu thí giáo gia điền tam bách mẫu vi Siêu Loại tự tam bảo thường trụ sản. Sơ Thái hậu ư kì tự thụ giới, nhân dĩ thử vi ngoại tài yên.

Đại Khánh nguyên niên Giáp Dần Thái Thượng hoàng tức vị, ư Siêu Loại tự chú Phật tượng tam tôn, giai cao thập thất xích. Cập kiến Phật điện, các, tạng, tăng đường phàm tam thập tam sở, sư giai mệnh danh. Phật tự biển viết Dược Hương điện, Thái Thượng hoàng thân sái thần hàn dĩ tứ chi. Anh Tông tứ Đại tạng kinh ngũ bách hàm dĩ vì kì tự thường trụ.

Đại Khánh nhị niên Ất Mão, Anh Tông thủ cố cung nhân Phạm thị [][] [gia] điền tam thập mẫu thí sư vi thường trụ.

Đại Khánh tam niên Bính Thìn, Anh Tông chiếu sư thụ Thái Thượng hoàng tại gia Bồ Tát giới.

Đại Khánh tứ niên Đinh Tỵ nhị nguyệt, sư tật cách, dĩ Điều Ngự sở truyền y tịnh tả tâm kệ phó Huyền Quang; dĩ pháp khí trụ trượng phó Cảnh Ngung; phất tử phó Cảnh Huy; trúc bề phó Huệ Quán; pháp thư cập hành pháp cụ phó Huệ Nhiên; kim linh phó Hải Ấn; kim chử phó Huệ Chúc. Bệnh dũ, Huyền Quang từ chi. Thị niên sáng Cổ Thành Bảo Sơn Vương tự, Triều Châu họa công Hứa Tắc Thành phụng chiếu tả sư lập ảnh. Thập nhị nguyệt, sáng Quỳnh Lâm viện, Tư Đồ Văn Huệ Vương vi thí chủ, cô thí tiền tứ thiên mân. Vân Động thôn nhân Nguyễn Trường lễ sư, thí nông điền thất thập ngũ mẫu vi Quỳnh Lâm tam bảo thường trụ sản.

Đại Khánh ngũ niên Mậu Ngọ bát nguyệt, Anh Tông chiếu trụ Thiên Trường Thường Lạc am giảng Truyền đăng lục. Hoa Lưu cư sĩ Vũ công thí Hoa Lưu trang điền nhị thập mẫu vi Quỳnh Lâm thường trụ. Thập nhị nguyệt, phụng chiếu giảng Tuyết Đậu ngữ lục. Ngự bút đặc tứ sư hiệu Phổ Huệ tôn giả. Thử hậu, Anh Tông hữu thư để sư giai xưng đệ tử, tục hữu thư tụng trình kiến giải, sư ấn khả chi. Phụng chiếu phong Phạm tăng Ban Để Đa Ô Tra Thất Lợi, xuất Bạch tản cái thần chú kinh. Thị niên Hồ Nam Vô Phương trưởng lão Trí Tuệ chí, chiếu sư quản đái.

Đại Khánh lục niên Kỷ Mùi thập nguyệt, chư lộ cơ cẩn, Thượng phát nội thảng kim bách lượng, ngân ngũ bách lượng, chiếu sư phổ thíbần cơ.

Thập nhị nguyệt, sư mộ tăng tục hữu duyên giả thích huyết ấn Đại tạng ngũ thiên dư quyển, trí Quỳnh Lâm viện. Anh Tông thân thích ngọc huyết tả Đại tạng, tiểu giáp nhị thập hàm tứ sư. Thị niên hạn, chiếu sư kì vũ. Sư mệnh sa môn Thu Tử đảo đắc nghiệm. Quốc phụ thượng tể thỉnh trụ An Hoa phủ Thiên Linh tự giảng Đại Tuệ ngữ lục, phó Báo Thiên tự hội thuyết pháp, nhưng thụ Hóa Dương công chủ đẳng tại gia giới.

Đại Khánh thất niên, Canh Thân tam nguyệt thập lục nhật, Anh Tông đăng hà, nhập kim quan, tán hoàng thổ, sư giai hữu pháp ngữ. Huệ Nhân đại vương thỉnh sư tựu Vũ Ninh sơn tự thụ bồ đề tâm giới.

Đại Khánh bát niên Tân Dậu, thượng phẩm Hoài Ninh hầu thỉnh sư chú Thiên thủ Đại bi nhất tôn, cập cầu thụ Bồ đề tâm giới. Phụng chiếu vị Chiêu Từ Hoàng thái phi an pháp hiệu, tả Đại tạng kinh hậu bạt. Tiên thị Anh Tông dữ Thái hậu cập cung tần đẳng thích huyết tả Đại tạng kinh ngũ thiên dư quyển, kí tất. Chỉ thị, Thái thượng hoàng chiếu sư bạt kì hậu. Quốc phụ thượng tể thỉnh tựu Linh Sơn Sùng Nghiêm tự thụ tại gia Bồ Tát giới, cập thụ phong [ ][ ][ ] vương xuất gia Bồ Tát giới. Hiển Linh Diên Quang tự trụ trì Thu Tử thỉnh tựu kì tự giảng Hoa Nghiêm kinh thập địa phẩm.

Đại Khánh cửu niên Nhâm Tuất, tiên thị Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trung Tử, dục thỉnh sư tận giảng Hoa Nghiêm kinh cửu hội. Chí thị, Hoài Ninh cập chủ sự tăng Huyền Quang để sớ thỉnh tựu Siêu Loại Báo Ân tự giảng Hoa Nghiêm đệ nhị hội. Thị hậu, cửu hội thính giảng giả đa chí thiên dư nhân, thiểu diệc vô lự ngũ, lục bách dư nhân. Tam nguyệt, Huệ Nhân đại vương thinh tựu Xí Thịnh Quang tự giảng Hoa Nghiêm đệ nhị hội. Lục nguyệt thập tam nhật, Thái thượng hoàng chiếu soạn Tham thiền chỉ yếu nhưng gia tứ hiệu Minh Giác. Sáng Hồ Thiên, Chân Lạc đẳng am. Thị niên dục chú Phật tượng nhất thiên khu. Bảo Từ Hoàng thái hậu cập Bảo Huệ quốc mẫu, Bảo Vân công chủ, Tư đồ Văn Huệ Vương, Uy Huệ vương, Đái vương Quán Thượng vị Chương Nhân hầu, Thượng vị Cụ Uy hầu, Thượng phẩm Hoài Ninh Trịnh Trung Tử, Hữu bật Đoàn công Nhữ Hài, Thượng phẩm Đại Liêu ban Đặng Thành đẳng, giai tùy hỉ tán thành chi. Nghĩa Trụ Phổ Quang tự tăng Trừng Chiếu chủ kì [tri] sự. Kiểm hiệu Tư đồ Văn Huệ vương thinh sư tựu An Long đệ giảng Thủ Lăng kinh, san Tứ phần luật, san bổ sao bản ấn thí phàm ngũ thiên dư bản. Mệnh Tiên Du sơn Quốc sư Tông.

Kính, Vũ Ninh sơn Quốc sư Bão Phác tựu Siêu Loại tự giảng chi. Tư đồ Văn Huệ vương sơ xuất gia, sự sư tận đệ tử chi lễ.

Đại Khánh thập niên Quý Hợi, cửu nguyệt, Tư đồ Văn Huệ vương cập Uy Huệ vương thỉnh tựu Siêu Loại Báo Ân tự thụ Bồ Tát giới cập Quán đỉnh thụ pháp. Bảo Vân công chủ thỉnh tựu Siêu Loại tự giảng Hoa Nghiêm đệ tam, đệ tứ nhị hội. Bảo Từ Hoàng thái hậu, Tư đồ Văn Huệ vương thỉnh ư Quỳnh Lâm viện giảng Hoa Nghiêm đệ ngũ hội, soạn Kim Cương trường Đà La ni kinh khoa chú, san bản ấn hành, định Niết Bàn Đại kinh khoa sớ, định Pháp Hoa kinh khoa sớ, định Lăng Già tứ quyển khoa sớ cập soạn Diễn nghĩa, định Bát Nhã Tâm kinh khoa sớ cập soạn chú, định Pháp sự khoa văn cập Độ môn trợ thành tập.

Khai Thái nguyên niên Giáp Tý niên nhị nguyệt, phụng Chiêu Từ Hoàng thái phi nội chỉ tựu Kiến Xương phủ giảng Hoa Nghiêm đệ lục hội. Tam nguyệt thập ngũ nhật, phụng chiếu thụ Chiêu Từ Hoàng thái phi xuất gia Bồ Tát giới. Hựu phó Nghĩa Trụ Phổ Quang tự nhập khánh tán đạo tràng điểm nhãn hội, nãi tiền sở chú thiên Phật tượng. Lục nguyệt, tạo tất bố A Di Đà công đức nhị bộ các tam tôn. Thập nhị nguyệt, Bảo Huệ quốc mẫu thinh tựu Dưỡng Phúc đệ giảng Hoa Nghiêm đệ thất hội. Thị nguyệt khởi tạo Di Lặc trượng lục đại tượng mô. Tiên thị Tư Đồ Văn Huệ vương cập Đế cơ Thượng Trân công chủ cộng thí kim cứu bách lượng, thỉnh sư chú kì tượng, Nhật Trân công chủ tử Di Loan cư sĩ thíThanh Hóa phủ điền tam bách mẫu cập hoang trang nhất sở. Bảo Từ Hoàng thái hậu thí An Hoa phủ địa nhị thập nhị mẫu trợ thành chi. Tư đồ hựu thí Gia Lâm điền tam bách mẫu, Động Gia trang, An Lưu trang điền địa cộng nhất thiên mẫu hữu dư, cập nô nhất thiên dư nhân vi Quỳnh Lâm thường trụ.

Khai Thái nhị niên Ất Sửu chính nguyệt sơ nhất nhật, Bảo Huệ quốc mẫu thỉnh tựu Dưỡng Phúc đệ giảng Kim cương kinh niêm tụng. Phụng chiếu ư Đại nội Tư Phúc tự giảng Tuyết Đậu lục. Tam nguyệt, Tá Thánh thái sư cập Hoa Dương công chủ thỉnh tựu Thiên Quang tự giảng Hoa Nghiêm đệ bát hội. Phụng Bảo Từ Hoàng Thái hậu chỉ ư Quỳnh Lâm

viện giảng Hoa Nghiêm đệ cửu hội cập thiết lễ thiên Phật hội thất trú dạ. Ư Quỳnh Lâm viện kiến ngõa tháp, thạch tháp nhị tòa. Cửu nguyệt sơ nhất nhật, phụng chiếu ư Đại nội Tư Phúc tự giảng Viên giác kinh. Thị nguyệt hạn, chiếu sư kì vũ. Sư mệnh mỗ tăng đảo chi, đắc nghiệm.

Khai Thái tam niên Bính Dần nhị nguyệt nhị thập nhất nhật, phụng chiếu tựu An Tử sơn Hoa Vân tự phong Điều Ngự xá lị ư Huệ Quang kim tháp. Bảo Từ Hoàng thái hậu thí Đa Mạn điền tam thập mẫu vi Quỳnh Lâm viện thường trụ. Thập bát nhật, Thượng vị Chương Văn hầu thỉnh sư tựu Kinh Hào tự thuyết pháp. Tam thập nhật phụng chiếu ư Động Thiên điện thụ Chiêu Từ Hoàng thái phi Bồ Tát giới cập chư cung nhân Bồ đề tâm giới. Tứ nguyệt, đại hạn, phụng chiếu kì vũ, sư mệnh Thu Tử hòa thượng đảo chi, lập nghiệm. Ngũ nguyệt sơ nhất nhật, Thái thượng hoàng để chiếu tựu Đại nội Tư Phúc tự thụ quán đỉnh.

Khai Thái tứ niên Đinh Mão tam nguyệt sơ thất nhật, ư Quỳnh Lâm viện chú Di Lặc đại tượng cập độ tăng. Thập nguyệt, sáng An Mã, Vĩnh Khê, Hạc Lai đẳng am.

Khai Thái ngũ niên Mậu Thìn tam nguyệt, Bảo Từ Hoàng thái hậu, Bảo Huệ quốc mẫu thỉnh sư ư Quỳnh Lâm viện tập thập phương tăng thiết Chuyển tạng Đại trai thập nhật dạ, phụng tiến Anh Tông Hoàng đế cập quốc khảo Hưng Nhượng Đại vương. Thái thượng hoàng giá hạnh kì tự, sư tấu thỉnh cấm quân duệ Di Lặc đại tượng tựu điện cơ, tầm thượng bảo tọa trang kim. Cửu nguyệt Thái Thượng hoàng chiếu sư biên Nhân Vương Hộ quốc nghi quỹ dĩ tiện nội tu.

Khai Hựu nguyên niên Ki Tỵ thất nguyệt, khai Côn Sơn cập Thanh Mai sơn cảnh. Bát nguyệt, thụ Quốc phụ Thượng tể nữ Tuyên Chân công chủ xuất gia giới. Cửu nguyệt, thụ Chiêu Huân vương nữ Lệ Bảo công chủ xuất gia giới. Thập nhất nguyệt, ư Quỳnh Lâm viện kiến đàn điểm Di Lặc Phật nhãn, dẫn Điều Ngự sở phân thủ Thắng Tư Thiên tháp xá lị phong ư Quỳnh Lâm viện thạch tháp. Sư chú Phật tượng đại tiểu phàm nhất thiên tam bách dư tôn, tất bố nhị bộ, nê tố bách dư tôn, kiến

đại sát nhị sở, tháp ngũ tòa, lập tăng nhị bách dư danh, độ tăng ni nhất vạn ngũ thiên dư nhân, ấn Đại tạng kinh nhất bộ. Sở đắc pháp đệ tử tam thập dư nhân, dĩ liệt vu đồ. Pháp sư lục nhân như Huệ Nhiên, Huệ Chúc, Hải Ấn giai hành pháp hữu nghiệm; Hoằng Tế, Huyền Lãm, Văn Kiến kim phụng sư tháp yên.

Khai Hựu nhị niên Canh Ngọ, sư tứ thập thất tuế. Chính nguyệt thập ngũ nhật, An Lạc Kiên Đức Đại sư cập thí chủ Lệ Bảo công chủ thỉnh tựu An Lạc tàng viện trùng giảng Hoa Nghiêm kinh đệ nhất, đệ nhị hội. Nhị thập lục nhật, thướng kinh, hạ Thái thượng hoàng tự phạt Đà Giang man quy. Nhị nguyệt sơ tam nhật, tái phó An Lạc hội, mệnh Bích Phong trưởng lão đại giảng tịch. Chí ngũ nhật, thị tật, thất bát nhật phong tật thậm cức, chí thập nhất nhật dạ gian, Huyền Quang lai tỉnh bệnh, sư ư thùy thời hồng hồng nhất thanh. Huyền Quang viết: “Tôn giả mị ngữ da?”. Sư viết: “Thùy tắc mị ngữ. Bất thùy tắc bất mị ngữ”. Huyền Quang viết: “An đắc thùy dữ giác nhất?”. Sư viết: “Thùy dữ giác nhất, hoàn tha bất bệnh thời”. Huyền Quang viết: “An đắc bệnh dữ bất bệnh nhất?”. Sư viết: “Bệnh dã bất can tha, bất bệnh dã bất can tha”. Huyền Quang viết: “Tranh nại kí hữu ngữ thanh hà?”. Sư viết: “Quản thậm ma phong quá thụ thanh”. Huyền Quang viết: “Phong quá thụ thanh, nhân tắc bất hoặc; thùy trung mị ngữ, tắc năng hoặc nhân”. Sư viết: “Si nhân diệc hữu hoặc ư thụ thanh giả”. Huyền Quang viết: “Kì thử nhất tật chí tử dã bất sưu”. Sư nãi đạp chi, Huyền Quang tiện xuất khứ. Tự thị bệnh sảo gian. Chí thập tam nhật, quy Quỳnh Lâm viện cựu phương trượng ngọa bệnh. Thập cửu nhật dạ gian, tật phục cức, nãi dĩ Điều Ngự sở truyền ca sa cập tả tâm kệ phó Huyền Quang giáo kì hộ trì. Hựu thân tả kệ phó Cảnh Ngung, Cảnh Huy, Vô Tế đẳng chư đại đệ tử. Thị hậu môn nhân nhật nhật nhập thỉnh thị kệ, sư nhất nhất tả phó chi, cập đáp vấn bất quyện. Thị thời kí đắc pháp đệ tử tam thập dư nhân. Chí tam nguyệt sơ nhất nhật, Thượng hoàng thân lâm thị bệnh, xuất viết: “Nhược vị tổ sư tự tại, yếu hành tức hành, yếu trụ tức trụ, tắc phi sở tri. Nhược sát sắc, cập ngữ ngôn, tắc vị kiến tử chứng”. Nhân chiếu Thái y chẩn trị, giai vị bất tử, Sư diệc phục kì dược bất từ. Chí sơ nhị

nhật, sư mệnh tứ tử Sa môn Thu Tử tựu ngự chu cập trình di tấu tả pháp kệ thượng tiến. Sơ tam nhật, Ngọ thời, Thượng phẩm phụng ngự Đàm Cối nhập chẩn mạch, diệc viết: “Vị kiến cấp tử chứng”. Chí dạ gian, Hợi thời, gia cức. Huyền Quang viết: “Cổ nhân đáo giá lí phóng hành hảo, bả trụ hảo?”. Sư viết: “Tổng bất can”. Tiến vân: “Tổng bất can thời như hà?”. Sư viết: “Tùy xứ tát bà ha”. Môn nhân tựu thỉnh viết: “Cổ nhân lâm chung giai hữu thị kệ, sư hà độc vô?”. Sư sất mạ chi. Lương cữu nãi khởi tọa, sách bút đại tả vân:

“Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt cánh mại khoan”.

Nãi trịch bút, yểm nhiên nhi tịch, chính Tý thời dã, niên tứ thập thất. Môn đệ tử dĩ toàn thân tọa cữu. Sửu thời, liễn thượng Thanh Mai sơn bình nhật sở chúc tạo khám chi địa an trí, Thượng hoàng mệnh Trung sứ thân đáo kì xứ. Thời môn nhân dĩ thị tịch kệ cập vấn đáp nhân duyên trình Thượng, tứ chúng lễ tạ nhi quy. Tam nguyệt thập nhất nhật, Thái thượng hoàng ngự bút gia sư hiệu Tịnh Trí đại tôn giả tam tự, tháp viết Viên Thông, nhưng tứ kim thập lượng tạo kì tháp, tịnh chế vãn thi vân:

“Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên
Giác vương kim lũ đắc nhân truyền
Thanh sơn man thảo quan tàng lí
Bích thụ thâm sương xác thuế thiền
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên
Tương đầu châm giới ta phi tích
Trác tựu ai chương lệ huyễn nhiên”.
Đệ tử tam thập dư nhân liệt vu đô:

Côn Sơn Quang, Quế Đường Ngung, Ngân Sơn Huy.

Anh Tông đế, Thái thượng hoàng, Động Nhiên Tiến Tư đồ Văn Huệ công, Hồ Thiên Đức Uy Huệ vương, Tùng Liêu Tế Chương Văn Thượng vị hầu.

Tham học hữu sở đắc pháp đệ tử:

Diễn Châu Ngân, Nhân Kiệt Thuần, Quỳnh Lâm Khai, Siêu Loại Nguyên, Trúc Đường Quán, Hồ Thiên Na, Quỳnh Lâm Khoáng, Thánh Am Quang, Không Am Tính, Phổ Minh Chỉ, Cổ Châu Trang, Ái Châu Hành.

Tiểu huệ bà Tuyên Từ Hoàng thái hậu, Từ Huệ tỷ khiêu ni Thiên Chân trưởng công chủ.

Đấu Am Luân, Tố Am Dụ, Khuếch Sơn Khôi, Tri Sơn Nhãn, Ái Châu Quán, Không Sơn Cư, Thẩm Am Di, Tiên Giá Nhu, Hải Triều Minh, Hư Đường Triệt, Tế Giang Huệ.

Đại tôn giả diệt hậu, quan tứ hộ xá ngũ thập nhân, tứ tôn điệt vi quan hộ thập nhân, hựu tứ đại hình nhị thập nhân.

Thủy Sơn tự trụ trì đắc pháp đệ tử Trí Nhu xuất tiền mãi bi.

Đương Sơn tự trụ trì đắc pháp đệ tử Thiệu Tuệ phụng thư.

Ngự tiền thường trụ [][] hỏa phan [] phụng tuyên.

Trúc Lâm đệ tam đại tự pháp Trụ trì Tông Huyền Kim Sơn tấu tuyên.

Đại Trị ngũ niên Nhâm Dần tuế thập nhất nguyệt nhật tuyên niên phả tất.

[ ] Di thí điền nhất sở, bát mẫu hữu dư, tại Nam Sách thượng lộ Chí Linh huyện Sơn Cù xã Đống Mỗi sở đông nhị thập cao, cận Cù Cự câu; tây nhị thập cao, cận Đại lộ; nam tứ thập cao, cận Nguyễn Diên; bắc tứ thập cao, cận Nguyễn Diên đẳng. Dĩ vi tam bảo Thanh Mai cập Khánh Lai thường trụ sản.

Tây tịnh cận sơn lâm, nam cận kiều, hựu thí Nham Đa nhai điền hai khảm.

Tại Nam Sách hạ lộ Cổ Liễn Ông Đại xã hữu điền hai sở, nội Trầm Khản điền nhất phần, đông cận Đào Vượng, tây cận Ma, Nam cận Nguyễn Tiêu, bắc cận Phan Như.

[ ] Khả Lễ điền nhất phần, đông cận Phạm Tát, tây cận Nguyễn Chiếu, nam cận Nguyễn Cai, bắc cận Nguyễn Mai, thượng hạ hai vụ tịnh ương điền nhất khảm.

Đông cận Nguyễn Thị Tân, tây cận Dương Thị Đạm, nam cận Dương Nhâm, bắc cân Nguyễn Cá Điểu, thí Thanh Mai sơn Viên Thông tháp tự.

Cổ hương cúng dàng Phật [đệ tử] Đắc Không Thích Pháp Thuận đề.

Dịch nghĩa:

Bia tháp Viên Thông chùa Thanh Mai¹

Niên phả của Đại tôn giả được đặc biệt phong Phổ Huệ Minh Giác Tịnh Trí trong các vị tổ sư nhà Trần³.

Dựa theo Đoạn sách lục.

Thị giả là Trung Minh biên tập

Huyền Quang, đệ tử chân chính được truyền pháp khảo đính.

Sư sinh vào giờ Mão ngày 7 tháng 52 năm Giáp Thân niên hiệu Thiệu Bảo thứ 6 (1284) tại thôn Đồng Hòa, làng Cửu La, giang Nam Sách³. Trước đây, vào tháng 8 năm Quý Mùi (1283), một đêm nọ bà Vũ mẹ của sư nằm mộng thấy dị nhân trao cho kiếm thần, vui mừng ôm thanh kiếm vào lòng, tỉnh dậy thì có thai. Khi sinh ra sư, hương thơm lạ đầy nhà, sang giờ khác mới hết. Cha sư cũng là người tu hạnh thanh tịnh, họ Đồng, tên huý là mỗ, quy y Phật có tên hiệu là Thuần Mậu.

Mẹ sư họ Vũ tên huý là mỗ, tên hiệu là Từ Cứu. Sư sinh ra vốn đã thông minh dĩnh ngộ, miệng không nói lời ác, không thích ăn cá thịt, tên thường gọi là Kiên Cương. Trước kia mẹ sư sinh liên tục tám người con gái, đến khi mang thai sư, vì chán nhiều con gái, mới ngầm uống thuốc để số thai, nhưng qua bốn lần uống thuốc mà thai vẫn không số ra nên mới giữ lại. Đến khi sinh được sư, [mọi người] rất vui mừng, cho nên đặt tên là Kiên Cương2.

Năm Giáp Thìn niên hiệu Hưng Long³ thứ 12 (1304), sư 21 tuổi.

Năm đó, Nhân Tông Điều Ngự Đầu Đà đi khắp các nẻo đường dẹp bỏ các dâm từ, ban bố pháp dược để trị bệnh cho người nghèo, cũng cấp

thiết tìm người nổi pháp². Khi [Điều Ngự] đến giang Nam Sách, lúc ấy sư đi chơi xa, cảm thấy trong lòng buồn bực khó chịu nên trở về, quả nhiên gặp Điều Ngự đi qua thôn, sư liền đảnh lễ cầu xin xuất gia. Vừa nhìn thấy sư, Điều Ngự đã lấy làm lạ liền nói: “Cậu bé này có mắt đạo, về sau ắt trở thành pháp khí”. Hơn nữa, vui vì sư tự đến, nên Điều Ngự ban cho sư tên Thiện Lai. Đến khi trở về liêu Kì Lân ở núi Linh Sơn, Điều Ngự cho sư xuống tóc, truyền cho y sa di. Sau đó ngài bảo sư đến Quỳnh Quán tham học với Hòa thượng Tính Giác¹. Sư dùng nhiều cách để thưa hỏi mà (Tính) Giác cũng không hề chỉ dạy. Sư bèn lấy kinh Hải Nhãn² tham cứu, đến câu: “bảy chỗ gạn hỏi về tâm và thí dụ khách trần ở sau” thì sư xem đi xem lại rất lâu, bỗng nhiên có chỗ ngộ nhập. Một hôm, sư từ chỗ [hòa thượng] Tính Giác trở về tham yết [Điều Ngự], gặp lúc Điều Ngự thượng đường. Khi Điều Ngự lần lượt nêu đến câu tụng” Thái dương ô kê”, thì sư chợt tỉnh ngộ. Điều Ngự biết sư có tỉnh ngộ, mới mệnh cho đi hầu bên cạnh. Một buổi tối nhân sư trình Tam yếu tụng, bị Điều Ngự hạ bút xóa đi, nhiều lần sư xin chỉ dạy thêm¹, Điều Ngự đều bảo tự tham. Thế là sư trở về phòng, trong lòng bấn loạn bất an². Đến khoảng giữa đêm giờ Tý³, nhân nhìn hoa đèn rơi, sư hốt nhiên đại ngộ, mới đem điều ngộ được trình lên, Điều Ngự rất khen ngợi. Từ đó, sư nguyện tu theo 12 hạnh Đầu đà 4.

Năm Ất Tị niên hiệu Hưng Long thứ 13 (1305)5, Điều Ngự ở liêu Kì Lân đích thân truyền giới Thanh văn và giới Bồ Tát cho sư, và mong ước sư tham học thành tài, nhân đó Điều Ngự ban cho sư hiệu là Pháp Loa. Năm đó, Huyền Quang cũng mới vừa xuất gia, đến đảnh lễ thụ giới với Bão Phác ở Vĩnh tự đường5.

Năm Bính Ngọ niên hiệu Hưng Long thứ 14 (1306)6 Điều Ngự trụ trì chùa Báo Ân ở Siêu Loại cử sư làm chủ giảng. Điều Ngự thấy Huyền Quang theo Bão Phác lên chùa nghe giảng, bèn dẫn làm thị giả.

Năm Đinh Mùi niên hiệu Hưng Long thứ 15 (1307)9, sư 24 tuổi. Tháng 4, Điều Ngự ở am Quán Trụ ở Thiên Bảo 10, thị giả có đến bảy, tám người, mà sư đứng đầu. Điều Ngự giảng Đại Tuệ ngữ lục cho sư. Tháng 5, Điều Ngự lên am Đỉnh Trụ trên núi Ngọa Vân². Ngày 15 làm lễ Bố tát xong, Điều Ngự cho mọi người lui ra rồi lấy y bát và viết kệ truyền tâm giao phó cho sư, bảo sư giữ gìn.

Ngày 1 tháng giêng năm Mậu Thân niên hiệu Hưng Long thứ 16 (1308), sư phụng mệnh làm lễ truyền thừa nổi pháp trụ trì tại giảng đường Cam Lộ chùa Siêu Loại, được đứng vào ngôi vị các tổ. Hôm đó chùa tấu đại nhạc, đốt hương thơm, Điều Ngự dẫn sư bái tổ đường. Sau khi dùng cháo xong, lại ra lệnh tấu nhạc, đánh trống pháp, tập hợp đại chúng lên pháp đường. Bấy giờ vua Anh Tông xa giá đến chùa đó, theo thứ tự ngôi vị chủ khách mà an vị. Anh Tông là một thí chủ¹ lớn trong Phật pháp nên đứng ở ngôi vị khách trên pháp đường; quan Tể chấp² cùng các quan nhỏ đứng dưới sân. Điều Ngự lên tòa thuyết pháp, thuyết xong thì ngài xuống rồi dẫn sư lên tòa. Điều Ngự đối diện chắp tay thăm hỏi, sư trả lời, lạy tạ xong thì nhận pháp y khoác lên người. Điều Ngự đến ngồi trên giường khúc lục cạnh bên nghe sư thuyết pháp. Điều Ngự đem chùa Siêu Loại, sơn môn Yên Tửlệnh cho sư kế nhiệm trụ trì, làm tổ thứ hai Phật giáo Trúc Lâm. Điều Ngự lại lấy trăm hòm kinh sử ngoại thư”, cùng hai mươi hòm nhỏ Đại tạng mà ngài chích máu viết trao lại cho sư để truyền dạy rộng rãi nội điển và ngoại điển¹.

Trước đó, Thái sư Thống Chính² hiến tặng Tân Lang trang³ làm tài sản thường trụ của chùa Siêu Loại. Điều Ngự e ngại chuyện đó bất tiện, nên bảo Anh Tông cắt trừ 100 mẫu ruộng ở quê nhà và cho nông phu làm ruộng đổi lại trang Tân Lang, để sung vào lương thực cho chư tăng; lại lấy ruộng của tỳ khiêu ni Đế cơ Từ Chiêu ở làng Đại Từ gồm 25 mẫu cùng chùa ở đó, để ban thêm.

Năm đó, sư phụng sắc chỉ truyền giới Bồ Tát xuất gia cho Hoàng thái hậu Tuyên Từ cùng trưởng công chúa Đế cơ Thiên Trinh ở chùa

Siêu Loại. Vua Anh Tông mệnh cho Trung thư Thị lang Vương Công Trứ cấp độ điệp cho sử, để việc độ chúng tăng theo luật của chúng tăng mà không cần theo luật thường bên ngoài. Trong đó đại lược viết: “Trường tuyển Phật phải tuyển cho tinh thuần, chốn cầu Ph

thường bên ngoài”¹. Vào tháng 11, Điều Ngự nhập diệt ở am Ngọa Vân³. Sư hộ tống đưa xá lị của Điều Ngự về an trí trong Đại nội, thuyết pháp ngữ. Sư biên soạn Thạch Thất mị ngữ niêm tụng dựa trên tác phẩm Thạch thất mị ngữ do Điều Ngự sáng tác khi rời chùa viện về ở trên núi.

Ngày 14 tháng 7 năm Ki Dậu niên hiệu Hưng Long thứ 17 (1309), sư phụng sắc mệnh đến Đại lễ trai đàn Vu Lan cho Nhân Tông” để thăng đường thuyết pháp. Cũng trong tháng này, sư tiếp Huyền Quang và nói rằng: “Di chúc của Điều Ngự, ngươi quên rồi ư?”. Từ đó Huyền Quang đi theo tham học, không xa rời nữa

Tháng 9, sư phụng chiếu đi theo thuyền ngự của vua đem theo xá lị của Điều Ngự từ trong Đại nội xuống phủ Long Hưng’ để nhập lăng, mở bảo tạng2 cho xuống dưới huyệt, phong kín xá lị. Những pháp sự này sư đều có pháp ngữ.

Tháng 3 năm Canh Tuất niên hiệu Hưng Long thứ 18 (1310)3, vua Anh Tông ban sắc cách ba năm lại độ chúng tăng một lần. Lại ban cho 80 mẫu ruộng tốt ở làng An Đinh cùng cho các canh phu luân phiên cày cấy lấy lương thực cung cấp cho chúng tăng, bốn hay năm năm sau thì trả lại.

Ngày đêm sư thường trì chú, lễ Phật không thiếu sót. Sư có thuật lại” Phát nguyện văn” trong Lục thời nghĩ, đại ý rằng: “Tất cả các hạnh nguyện của chư Phật, Bồ Tát, con đều nguyện học theo. Tất cả chúng sinh hoặc tán dương hay hủy báng, hoặc kính trọng hay khinh thường,

ật chẳng phải cầu bên ngoài. Huống chi làm tăng, đã nối dõi đại pháp, thì tại sao độ5 chúng tăng mà còn câu nệ theo quy định thông

hoặc bố thí, hoặc cướp đoạt, hoặc mắt thấy, hoặc nghe tên đều hóa độ hết, khiến cho tất cả đều chứng quả Bồ đề”. Tháng 7, sư phụng chiếu đến đại lễ trai đàn Vu Lan cho Nhân Tông, thăng đường giảng yếu chỉ lớn của kinh Hoa nghiêm². Lại đến chùa Tư Phúc trong Đại nội, phát xá lị của Điều Ngự cùng Thánh tăng xuống Long Hưng phủ an trí trong chùa Phổ Từ. Năm đó, sư độ cho Cảnh Huy xuất gia thụ giới.

Năm Tân Hợi niên hiệu Hưng Long thứ 19 (1311), phụng chiếu tiếp tục san khắc Đại tạng kinh. Sư mệnh cho Bảo Sát chủ trì việc này. Tháng 4, sư chủ trì giảng Truyền đăng lục ở chùa Siêu Loại 10, khi thì thượng đường thuyết giảng, lúc thì vào thất nghỉ ngơi. Huyền Quang trình kiến giải, sư đều khen ngợi.

Năm Nhâm Tý niên hiệu Hưng Long thứ 20 (1312)², vua Anh Tông ban chiếu mệnh đến chùa Tư Phúc trong Đại nội giảng Đại Tuệ ngữ lục. Vua còn mở quốc khố lấy vàng bạc là năm vạn tiền, giao cho sư phát cho người nghèo; lại ban cho sư thuyền của quan cùng phu chèo thuyền để thường ngày đi lại, nhưng sư từ chối không nhận. Anh Tông lại mệnh bỏ ruộng trang Niệm Như gồm một thửa 500 mẫu để cho sư làm tài sản thường trụ Tam bảo.

Ngày 1 tháng 2 năm Quý Sửu niên hiệu Hưng Long thứ 21 (1313)7, Long Đàm tổ viện chủ Na Già mời sư đến chùa giảng Thiên lâm thiết chủy ngữ lục cùng Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục, kinh Duy Ma Cật. Ngày sư lên tòa giảng kinh, Anh Tông đích thân đến nghe pháp, vua lại phụng di chiếu của Điều Ngự lấy vật của Tam bảo trong cung Thánh Từ trùng tu chùa Báo Ân ở Siêu Loại”. Việc trùng tu này thì thợ, đất, gỗ đều do quan cấp. Hoàng thượng ba bốn lần đến chùa¹ [xem việc trùng tu], lại mệnh cho Cấm quân đắp đất, chuyển gỗ. Tháng 9, sư phụng chiếu chỉ đến chùa Vĩnh Nghiêm² ở Lạng Giang để hoạch định chức dịch Tăng trong nước cùng dựng chùa gồm hơn trăm ngôi. Từ đó tăng chúng trong nước đều có quán tịch, và đều do sư quản lí. Bấy giờ độ hơn nghìn người xuất gia, về sau cứ ba năm lại độ một lần, nhưng số tăng vẫn cả nghìn, đều chẳng giảm đi. Hoàng thái hậu Tuyên Từ cắt 300 mẫu ruộng nhà cúng làm tài sản thường trụ Tam bảo cho chùa Siêu.

Loại. Trước kia Thái hậu đã thụ giới ở chùa này, nhân đó mà đem ruộng đất này làm tài sản ngoài thân để cúng dường.

Năm Giáp Dần niên hiệu Đại Khánh nguyên niên (1314), Thái thượng hoàng³ lên ngôi, nên cho đúc tượng Phật tam tôn ở chùa Siêu Loại, mỗi tượng đều cao 17 thước; lại cho xây dựng điện Phật, lầu gác, tàng kinh các, tăng đường”, gồm tất cả 33 tòa, sư đều đặt tên. Biển ngạch chùa ở Phật điện viết Nhị Hương điện, là do Thái thượng hoàng tự tay viết để ban tặng. Anh Tông ban cho 500 hòm Đại tạng kinh để làm của thường trụ trong chùa.

Năm Ất Mão niên hiệu Đại Khánh thứ 2 (1315)3, Anh Tông lấy 30 mẫu ruộng của cung nhân cũ họ Phạm ban cho sư làm tài sản thường trụ của chùa.

Năm Bính Thìn niên hiệu Đại Khánh thứ 3 (1316)5, Anh Tông ban chiếu cho sư truyền giới Bồ Tát tại gia cho Thái thượng hoàng”.

Tháng 2 năm Đinh Tỵ niên hiệu Đại Khánh thứ 4 (1317)8, sư bệnh nặng, đem y của Điều Ngự đã truyền và viết bài kệ truyền tâm trao lại cho Huyền Quang; đem pháp khí tích trượng trao cho Cảnh Ngung; phất tử 10 trao cho Cảnh Huy; cây bê¹ trao cho Huệ Quán²; thư

trao đổi Phật pháp và những vật dùng trong tu tập trao cho Huệ Nhiên³; linh vàng trao cho Hải Ấn; chày vàng trao cho Huệ Chúc, Đến khi bệnh của sư đã đỡ, Huyền Quang từ chối không nhận những vật trước đây sư trao. Năm đó, sư khai sáng chùa Bảo Sơn Vương ở Cổ Thành. Họa sĩ người Triều Châu là Hứa Tắc Thành phụng chiếu chỉ vẽ lại chân dung đứng của sư. Tháng 12, sư sáng lập viện Quỳnh Lâm³, quan Tư đồ Văn Huệ vương là thí chủ, cúng riêng bốn nghìn xâu tiền². Nguyễn Trường3 người thôn Vân Động lễ bái sư, dâng cúng 715 mẫu ruộng làm tài sản thường trụ cho tam bảo (viện) Quỳnh Lâm.

Tháng 8 năm Mậu Ngọ niên hiệu Đại Khánh thứ 5 (1318)5, Anh Tông ban chiếu chỉ cho sư đến trụ am Thường Lạc ở Thiên Trường giảng Truyền đăng lục. Cư sĩ Vũ Công ở Hoa Lưu dâng cúng 20 mẫu ruộng ở trang Hoa Lưu làm tài sản thường trụ cho (viện) Quỳnh Lâm. Tháng 12, sư phụng chiếu giảng Tuyết Đậu ngữ lục. Vua ngự bút đặc biệt ban cho sư hiệu là Phổ Huệ tôn giả. Từ đó về sau, Anh Tông viết gì cho sư đều xưng là đệ tử. Sau đó, vua có viết bài tụng trình kiến giải, được sư ấn khả cho. Sư phụng chiếu phong1 Phạm tăng² Ban Để Đa Ô Trá Thất Lợi dịch Bạch tản cái thần chú kinh. Năm đó, Vô Phương trưởng lão Trí Tuệ từ Hồ Nam đến, vua chiếu chỉ cho sư tiếp đãi.

Tháng 10 năm Ki Mùi niên hiệu Đại Khánh thứ 6 (1319), các lộ đói kém, hoàng thượng mở quốc khố lấy phát 100 lượng vàng, 500 lượng bạc, chiếu chỉ cho sư rộng cứu tế người nghèo đói khắp nơi.

Tháng 12, sư quyên góp các vị tăng tục có duyên, chích máu in Đại tạng kinh hơn 5000 quyển, lưu giữ ở viện Quỳnh Lâm. Anh Tông tự thân chích máu 10 viết 20 hòm nhỏ Đại tạng tặng cho sư. Năm đó đại hạn, vua

chiếu chỉ cho sư cầu mưa. Sư mệnh cho sa môn Thu Tử cầu nguyện và đã có linh nghiệm. Quốc phụ thượng tế thỉnh sư đến chùa Thiên Linh ở phủ Yên Hoa³ giảng Đại Tuệ ngữ lục, đến lễ hội chùa Báo Thiên thuyết pháp, lại làm lễ truyền giới tại gia cho các vị như công chúa Hoa Dương6.

Ngày 16 tháng 3 năm Canh Thân niên hiệu Đại Khánh thứ 7 (1320)7, Anh Tông mất, long thể được nhập liệm vào kim quan,áng trong đất vàng’, sư đều có pháp ngữ. Huệ Nhân đại vương thỉnh sư lên chùa ở núi Vũ Ninh³ để truyền giới Bồ đề tâm.

Năm Tân Dậu niên hiệu Đại Khánh thứ 8 (1321)5, Thượng phẩm Hoài Ninh Hầu thỉnh sư đúc một pho tượng Thiên thủ Đại bi, và cầu thụ giới Bồ đề tâm. Sư phụng chiếu đặt pháp hiệu cho Hoàng thái phi Chiêu Từ’ và viết hậu bạt cho Đại tạng kinh. Đại tạng kinh hơn 5000 quyển mà trước kia Anh Tông cùng Thái hậu và các cung tần chích máu viết đã xong. Đến khi ấy Thái thượng hoàng hạ chiếu cho sư viết lời hậu bạt. Quốc phụ thượng tể thỉnh sư đến chùa Sùng Nghiêm ở Linh Sơn truyền giới Bồ Tát tại gia, cùng truyền cho […] […] vương giới Bồ Tát xuất gia. Thu Tử, trụ trì chùa Hiển Linh Diên Quang10 thỉnh sư đến chùa giảng phẩm Thập địa kinh Hoa nghiêm.

Năm Nhâm Tuất niên hiệu Đại Khánh thứ 9 (1322)1, trước là Thượng phẩm Hoài Ninh hầu Trịnh Trung tử muốn thỉnh sư giảng hết 9 hội của kinh Hoa nghiêm. Tiếp đó, Hoài Ninh³ cùng chủ sự tăng Huyền Quang dâng sớ thỉnh sư đến chùa Báo Ân ở Siêu Loại giảng hội thứ hai kinh Hoa Nghiêm. Về sau, qua 9 hội, người đến nghe giảng khi nhiều lên đến hơn 1000 người, khi ít cũng khoảng hơn năm, sáu trăm người.

Tháng 3, Huệ Nhân đại vương thỉnh sư đến chùa Xí Thịnh Quang giảng hội thứ 2 kinh Hoa nghiêm. Ngày 13 tháng 6, Thái thượng hoàng chiếu chỉ sư soạn Tham thiền chỉ yếu và ban cho sư hiệu là Minh Giác. Sư sáng lập các am Hồ Thiên, Chân Lạc. Cũng trong năm đó sư muốn đúc 1000 pho tượng Phật. Hoàng thái hậu Bảo Từ cùng quốc mẫu

Bảo Huệ, công chúa Bảo Vân, Tư đồ Văn Huệ vương, Uy Huệ vương³, Đái vương Quán Thượng vị Chương Nhân hầu, Thượng vị Cụ Uy hầu³, Thượng phẩm Hoài Ninh Trịnh Trung tử, Hữu bật Đoàn công Nhữ Hài, Thượng phẩm Đại liêu ban Đặng Thành…, đều vui mừng tán thành việc đó. Tăng Trừng Chiếu10 ở chùa Phổ Quang11 ở Nghĩa Trụ chủ trì việc đó 12.

Kiểm hiệu Tư đồ Văn Huệ vương thỉnh sư đến An Long’ giảng kinh Thủ Lăng², san khắc Tứ phần luật, nhưng có thêm bớt chú thích rồi ấn tổng gồm hơn 5000 bản. Sư mệnh cho Quốc sư Tông Kính ở núi Tiên Dus, quốc sư Bão Phác ở núi Vũ Ninh đến chùa Siêu Loại giảng kinh. Tư đồ Văn Huệ Vương mới xuất gia, thờ sư đúng lễ đệ tử.

Tháng 9, năm Quý Hợi niên hiệu Đại Khánh thứ 10 (1323), Tư đồ Văn Huệ vương và Uy Huệ vương thinh sư đến chùa Báo Ân ở Siêu

Loại để truyền giới Bồ Tát cùng nhận pháp Quán đỉnh³. Công chúa Bảo Vân thỉnh sư đến chùa Siêu Loại giảng hội 3 và hội 4 của kinh Hoa Nghiêm. Hoàng thái hậu Bảo Từ cùng Tư đồ Văn Huệ vương thỉnh sư về viện Quỳnh Lâm giảng hội thứ 5 của kinh Hoa nghiêm, soạn Kim cương tràng đà la ni kinh khoa chú, san khắc ấn hành, san định bản Niết bàn đại kinh khoa sớ, san định bản Pháp hoa kinh khoa sớ, san định bản Lăng Già tứ quyển khoa sớ cùng soạn diễn nghĩa¹, san định bản Bát nhã tâm kinh khoa sớ cùng soạn chú², định bản Pháp sự khoa văn cùng Độ môn trợ thành tập.

Tháng 2 năm Giáp Tý niên hiệu Khai Thái nguyên niên (1324)5, sư phụng nội chỉ của Hoàng thái phi Chiêu Từ về phủ Kiến Xương giảng hội thứ 67 kinh Hoa nghiêm. Ngày 15 tháng 3, phụng chiếu chỉ truyền giới Bồ Tát xuất gia cho Hoàng thái phi Chiêu Từ. Sư lại đến hội chùa Phổ Quang ở Nghĩa Trụ tham dự lễ hội khánh tán đạo tràng điểm nhãn cho nghìn tượng Phật đã đúc trước đây. Tháng 6, sư tạo đắp sơn hai bộ tượng A Di Đà công đức mỗi bộ đều ba vị. Tháng 12, quốc mẫu Bảo Huệ thỉnh sư đến phủ đệ Dưỡng Phúc giảng hội thứ 7 kinh Hoa nghiêm.

Cùng tháng¹, sư khởi công tạo tượng Phật Di Lặc lớn 6 trượng. Trước đây, Tư đồ Văn Huệ vương cùng em vua là công chúa Thượng Trân bố thí chung 900 lượng vàng, thỉnh sư đúc tượng đó³. Con của công chúa Nhật Trân là cư sĩ Di Loan bố thí 300 mẫu ruộng ở phủ Thanh Hóa và một trang bỏ hoang”. Hoàng thái hậu Bảo Từ bố thí 22 mẫu đất ở phủ Yên Hoa để trợ giúp cho công việc thành tựu. Tư đồ lại bố thí 300 mẫu ruộng ở Gia Lâm; thêm ruộng ở Động Gia trang, An Lưu trang tổng cộng hơn 1000 mẫu để làm tài sản thường trụ của viện Quỳnh Lâm cùng 10 hơn 1000 người lo việc canh tác.

Ngày 1 tháng giêng năm Ất Sửu niên hiệu Khai Thái thứ 2 (1325)11, Quốc mẫu Bảo Huệ thỉnh sư đến Dưỡng Phúc giảng Kim cương kinh niêm

tụng¹. Sư lại phụng chiếu chỉ giảng Tuyết Đậu lục ở chùa Tư Phúc trong Đại nội. Tháng 3, thái sư Tá Thánh² cùng công chúa Hoa Dương thỉnh sư đến chùa Thiên Quang³ giảng hội thứ 8 kinh Hoa nghiêm. Sư phụng mệnh Hoàng thái hậu Bảo Từ giảng hội thứ 9 kinh Hoa nghiêm ở viện Quỳnh Lâm cùng dựng lễ hội Nghìn Phật trong 7 ngày đêm. Cũng tại viện Quỳnh Lâm, sư dựng hai tòa tháp Đá và tháp Gạch. Ngày 1 tháng 9, sư phụng chiếu giảng kinh Viên giác ở chùa Tư Phúc trong Đại nội. Tháng này hạn hán, vua chiếu chỉ cho sư cầu mưa. Sư mệnh cho vị tăng cầu nguyện, và được ứng nghiệm.

Ngày 21 tháng 2 năm Bính Dần niên hiệu Khai Thái thứ 3 (1326)7, sư phụng chiếu đến chùa Hoa Vân trên núi Yên Tử phong kín xá lị của Điều Ngự trong tháp vàng Huệ Quang. Hoàng thái hậu Bảo Từ cúng

dường ruộng Đa Mạn¹ 30 mẫu làm tài sản thường trụ của viện Quỳnh Lâm. Ngày 18, Thượng vị Chương Văn hầu² thỉnh Sư đến chùa Kinh Hào³ thuyết pháp. Ngày 30, sư phụng chiếu đến điện Động Thiên truyền giới Bồ Tát cho Hoàng thái phi Chiêu Từ và giới Bồ đề tâm cho các cung nhân. Tháng 4, đại hạn, sư phụng chiếu cầu mưa, sư mệnh cho hòa thượng Thu Tử cầu nguyện, lập tức ứng nghiệm. Ngày 1 tháng 5, Thái thượng hoàng để chiếu chỉ cho sư đến chùa Tư Phúc trong Đại nội truyền pháp quán đỉnh.

Ngày 7 tháng 3 năm Đinh Mão niên hiệu Khai Thái thứ 4 (1327)8, sư chủ trì đúc đại tượng Di Lặc ở viện Quỳnh Lâm cùng thể độ tăng. Tháng 10, sáng lập các am Yên Mã, Vĩnh Khê, Hạc Lai.

Tháng 3 năm Mậu Thìn niên hiệu Khai Thái thứ 5 (1328)¹, hoàng thái hậu Bảo Từ, quốc mẫu Bảo Huệ thỉnh sư tập hợp chư Tăng khắp nơi về viện Quỳnh Lâm thiết lễ đại trai đàn chuyển tạng trong suốt mười ngày đêm và phụng mệnh dâng cúng cho Hoàng đế Anh Tông cùng Quốc khảo Hưng Nhượng đại vương. Thái thượng hoàng³ xa giá đến chùa, sư tấu thỉnh xin Cấm quân di chuyển tượng lớn Di Lặc vào nền điện, phần trên bảo tòa trang trí vàng. Tháng 9, Thái thượng hoàng chiếu chỉ cho sư biên tập Nhân Vương hộ quốc nghi quỹ để tiện việc nội tu.

Tháng 7 năm Ki Tỵ niên hiệu Khai Hựu nguyên niên (1329)5 kiến tạo cảnh chùa Côn Sơn cùng chùa Thanh Mai. Tháng 8, truyền giới xuất gia cho con gái của Quốc phụ thượng tê là công chúa Tuyên Chân.

Tháng 9, truyền giới xuất gia cho con gái của Chiêu Huân vương’ là công chúa Lệ Bảo². Tháng 11, lập đàn điểm nhãn tượng Phật Di Lặc ở viện Quỳnh Lâm, đem³ xá lị của Điều Ngự đã phân ở tháp Thắng Tư Thiên về phong kín trong tháp đá viện Quỳnh Lâm. Ngoài ra sư còn đúc tượng Phật lớn nhỏ gồm khoảng hơn 1.300 tượng, sơn thếp hai bộ, đắp đất hơn trăm tượng, dựng xây hai chùa lớn, năm tòa tháp, thành lập đoàn thể tăng hơn 200 nơi, độ hơn 1 vạn 5 nghìn tăng ni, in một bộ Đại tạng kinh. Đệ tử đắc pháp hơn 30 người, đã liệt kê vào phần biểu đồ. Bậc pháp sư có 6 người như Huệ Nhiên, Huệ Chúc, Hải Ấn đều tu hành hoằng pháp có kết quả rất tốt; Hoằng Tế, Huyền Lãm, Văn Kiến 10 nay đều phụng thờ tháp cho sư.

Năm Canh Ngọ niên hiệu Khai Hựu thứ 2 (1330)1, sư 47 tuổi. Ngày 15 tháng giêng, đại sư An Lạc Kiên Đức cùng thí chủ công chúa Lệ Bảo thỉnh sư đến tàng viện An Lạc giảng lại hội 1 và hội 2 kinh Hoa nghiêm. Ngày 26, sư lên kinh thành, mừng xa giá Thượng hoàng đích thân đi thảo phạt man di ở Đà Giang trở về. Ngày 3 tháng 2, sư lại đến lễ hội ở An Lạc, mệnh cho trưởng lão Bích Phong thay sư giảng kinh. Đến ngày 5, sư biểu hiện bệnh, ngày 7 ngày 8 thì bệnh cảm gió nặng thêm. Đến đêm ngày 11, Huyền Quang đến thăm bệnh, đang lúc ngủ sư kêu ‘hống hống một tiếng. Huyền Quang hỏi: “Tôn giả nói mê ư?”. Sư nói: “Ngủ thì nói mê, không ngủ thì không nói mê”. Huyền Quang hỏi: “Sao không ngủ và thức là một?”. Sư nói: “Ngủ và thức là một, tức là trở về khi nó không còn bệnh rồi”. Huyền Quang nói: “Sao bệnh và không bệnh là một?”. Sư nói: “Bệnh cũng không can gì đến nó, không bệnh cũng không can gì đến nó”. Huyền Quang nói: “Tranh luận là sao có âm thanh thốt ra (lúc ngủ)?”. Sư nói: “Quản gì âm thanh khi gió thổi qua cây. Huyền Quang nói: “Âm thanh gió thổi qua cây phát ra không làm người ta mê mờ; nhưng trong khi ngủ mà nói mê, thì có thể làm mê mờ người”. Sư nói: “Cũng có người ngu mê mờ về âm thanh phát ra từ cây đó”. Huyền Quang nói: “Chỉ một cái bệnh này mà đến chết cũng không

khỏi¹. Sư bèn đạp một cái, Huyền Quang liền đi ra ngoài. Từ đó bệnh có giảm đôi chút. Đến ngày 13, sư trở về tịnh thất cũ ở viện Quỳnh Lâm dưỡng bệnh³. Đêm ngày 19, bệnh lại trở nặng, sư bèn lấy cà sa của Điều Ngự truyền và viết kệ truyền tâm phó chúc cho Huyền Quang, dặn bảo giữ gìn. Sư lại tự thân viết kệ phó chúc cho các đại đệ tử như Cảnh Ngung, Cảnh Huy, Vô Tế… Sau đó, môn nhân ngày nào cũng vào xin kệ chỉ dạy, sư đều viết cho hết, và đối đáp với họ không hề mệt mỏi. Bấy giờ đệ tử đắc pháp được thọ ký hơn 30 vị. Đến ngày 1 tháng 310, Thượng hoàng đích thân đến thăm bệnh, đi ra mà nói rằng: “Nếu nói¹1 tổ sư tự tại, muốn đi ắt đi, muốn ở ắt ở, thì chẳng thể biết được. Như xem sắc mặt 12 cùng lời nói thì chưa thấy triệu chứng của việc chết”. Nhân đó vua hạ chiếu chỉ cho thái y đến chẩn trị 13, [họ] đều nói sư

không chết, sư cũng uống thuốc không hề từ chối. Đến ngày mùng 2, sư mệnh cho sa môn Thu Tử đắp y tía vua ban³ đến thuyền ngự dâng lên tờ trình tấu viết pháp kệ. Giờ Ngọ ngày 3, Thượng phẩm phụng ngự Đàm Cối vào xem mạch cũng nói: “Chưa thấy có triệu chứng sắp chết”. Đến giờ Hợi trong đêm thì bệnh thêm nguy kịch. Huyền Quang đến hỏi sư: “Cổ nhân đến đây thì buông là tốt hay nắm lại là tốt?”. Sư nói: “Tất cả không can hệ!”. Huyền Quang tiến đến hỏi: “Tất cả không quan hệ là thế nào?”10. Sư đáp: “Tùy xứ tát bà ha¹”. Môn nhân vào thỉnh sư: “Cổ nhân khi lâm chung đều có kệ chỉ dạy, sao riêng thầy lại không có?”. Sư quở trách người đó. Nhưng lát sau sư ngồi dậy, cầm bút viết chữ lớn rằng2:

Vạn duyên tiệt đoạn nhất thân nhàn,
Tứ thập dư niên mộng huyễn gian
Trân trọng chư nhân hưu tá vấn
Na biên phong nguyệt tiện mại khoan.

Dịch nghĩa:

Muôn duyên cắt đứt một thân nhàn
Hơn bốn mươi năm trong mộng huyễn
Bái biệt, mọi người đừng hỏi nữa
Bên kia trăng gió càng thênh thang³

Viết xong sư ném bút, an nhiên mà thị tịch, đúng vào giờ Tý, thọ 47 tuổi. Môn nhân đệ tử đặt toàn thân sư ngồi trong quan tài. Đến giờ Sửu, xe đưa quan tài lên thẳng núi Thanh Mai an trí tròn khu đất mà lúc

bình sinh sư đã căn dặn dựng tháp thờ. Thượng hoàng mệnh cho các quan cùng đích thân đến nơi đó. Bấy giờ môn nhân lấy kệ thị tịch cùng nhân duyên vấn đáp’ trình lên Thượng hoàng. Sau đó bốn chúng đảnh lễ rồi về. Ngày 11 tháng 3, Thái thượng hoàng ngự bút ban thêm 3 chữ tên hiệu cho sư là Tịnh Trí Đại tôn giả, tháp tên là Viên Thông, còn ban cho 10 lượng vàng để tạo tháp, và làm bài thơ viếng như sau:

Phiên âm:

Thùy thủ trần hoàn dĩ liễu duyên
Giác vương kim lũ đắc nhân truyền
Thanh sơn man thảo quan tàng lí
Bích thụ thâm sương xác thuế thiền
Dạ yểm giảng đường kim cổ nguyệt
Hiểu mê trượng thất hữu vô yên
Tương đầu châm giới ta phi tích
Trác tựu ai chương lệ huyễn nhiên.

Dịch nghĩa:

Nhân duyên ở cõi trần đã hết, rũ tay ra đi 6
Chiếc y vàng’ của Điều Ngự đã có người truyền³
Núi xanh cỏ cỏ biếc chôn giày nơi phần mộ
Cây xanh trong sương mù ve thoát xác.
Đêm che giảng đường trăng kim cổ
Sáng mờ mịt trượng thất khói lúc có lúc không
Nhân duyên hội ngộ đặc biệt, ôi chẳng phải chuyện xưa
Gọt giũa văn buồn lệ tràn đầy

Hơn 30 đệ tử được liệt kê trong biểu đồ: 

Côn Sơn là Quang¹, Quế Đường là Ngung, Ngân Sơn là Huy, Anh Tông là Đế, Thái thượng hoàng, Động Nhiên là Tiến Tư đồ Văn Huệ vương, Hồ Thiên là Đức Uy Huệ vương, Tùng Giảo là Tế Chương Văn Thượng vị hầu.

Các đệ tử tham học đắc pháp:

Diễn Châu là Ngân³, Nhân Kiệt là Thuần, Quỳnh Lâm là Khai, Siêu Loại là Nguyên, Trúc Đường là Quán, Hồ Thiên là Na, Quỳnh Lâm là Khoáng, Thánh Am là Quang, Không Am là Tính, Phổ Minh là Chỉ 10, Cổ Châu là Trang, Ái Châu là Hành.

Tiểu Huệ bà Hoàng thái hậu Tuyên Từ

Tỳ khiêu nỉ Từ Huệ trưởng công chúa Thiên Trinh ¹

Đẩu Am là Luân, Tố Am là Dụ², Khuếch Sơn là Khôi, Tri Sơn là Nhãn, Ái Châu là Quán, Không Sơn là Cư, Phiên Am là Di, Tiên Giá là Mâu, Hải Triều là Minh, Huy Đường là Triệt, Tế Giang là Huệ.

Sau khi Đại Tôn giả nhập diệt, ban hàng quan trông coi cửa nhà là 50 người, ban cho con cháu làm quan hộ là 10 người, lại ban đại hình¹ gồm 20 người.

Trí Nhu, đệ tử đắc pháp, trụ trì chùa Thủy Sơn xuất tiền mua bia đá

Thiệu Tuệ, đệ tử đắc pháp, trụ trì chùa Đương Sơn phụng mệnh

viết

Ngự tiền thường trụ [][] hỏa phan [ ] phụng khắc

khắc. Tông Huyền Kim Sơn trụ trì, nổi pháp Trúc Lâm đời thứ ba tấu

Khắc xong phả lục ngày tháng 11 năm Nhâm Dần niên hiệu Đại Trị thứ 5 (1362)6.

Sau còn để lại ruộng bố thí gồm 1 thửa hơn 8 mẫu²: 20 sào ở phía đông của thửa Đống Mỗi xã Sơn Củ huyện Chí Linh thượng lộ Nam Sách; gần cụ Cù Cự; phía tây 20 sào, gần đường lớn; phía nam 40 sào, gần Nguyễn Diên; phía bắc 40 sào, gần bọn Nguyễn Diên, để làm của cải thường trụ cho tam bảo chùa Thanh Mai và chùa Khánh Lai7.

Phía tây lại gần rừng núi, phía nam gần cầu, lại cho 2 khóm² ruộng ở vách Nham Đa¹.

Xã Cổ Liễn Ông Đại thuộc hạ lộ Nam Sách có ruộng hai thửa trong đầm, trong Đầm Khản” gồm ruộng một phần, phía đông gần Đào Vượng, phía tây gần Ma, phía nam gần Nguyễn Tiêu, phía Bắc gần Phan Như.

Một phần ruộng nhà [ ]8 Khả Lễ, phía đông gần Phạm Tát, phía tây gần Nguyễn Chiếu, phía nam gần Nguyễn Hạt, phía bắc gần Nguyễn Mai, trên dưới hai mùa cùng ruộng để ươm mạ một khoảnh¹¹.

Đông gần Nguyễn Thị Tân, tây gần Dương Thị Đạm¹, nam gần Dương Nhậm², bắc gần Nguyễn Cá Điểu, để làm của cho chùa tháp Viên Thông núi Thanh Mai.

Cổ³ hương cúng dường các đời Phật, đệ tử Đắc Không Thích Pháp Thuận đề.

Chú thích

  1. Văn bia hiện còn nguyên vẹn nhưng đã mờ nhiều, đặc biệt là mặt trước, được đặt trên thân rùa đội bia tại chùa Thanh Mai, xã Hoàng Hoa Thám huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Tháp Viên Thông ngày nay đã được dựng lại vào thời Lê. Để dịch văn bia tháp Viên Thông, chúng tôi căn cứ vào nhiều nguồn tư liệu như: 1. Thanh Mai viên thông tháp bi ảnh chúng tôi chụp thực tế và thác bản được anh Lê Quốc Việt dập và chụp cho chúng tôi, nhân đây chúng tôi xin trân trọng cảm ơn. Bản này chúng tôi gọi tắt là: Thanh Mai. 2. Tam tổ thực lục, kí hiệu A.786 tại Kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, phần truyện Pháp Loa: Đệ nhị tổ niên phả thực lục, gọi tắt: Thực lục. 3. Đệ nhị đại tổ bi, văn bia chùa Hương Hải, TP. Hải Dương, kí hiệu 13507 – 13510 tại kho thác bản văn bia Viện Nghiên cứu Hán Nôm, gọi tắt là: Tổ bi. Ngoài ra, còn nhiều văn bản Hán Nôm khác, hoặc các bản dịch, khảo cứu… để bổ cứu văn bản và chú thích.
  2. Phổ Huệ Minh Giác Tịnh Trí đại tôn giả 普惠明覺淨智大尊者,trong Kiến văn tiểu lục Lê Quý Đôn ghi là Phổ Trí tôn giả 普智尊者 là chưa chính xác như bia Thanh Mai cũng như Thực lục, Tổ bị.
  3. Theo Thực lục, kí hiệu A. 786 tại kho sách Viện Nghiên cứu Hán Nôm, trong phần truyện thứ 2 về Pháp Loa cho nội dung tiêu đề là: <Trúc Lâm đệ nhị đại tổ sư…>, có sự khác biệt với văn bia khi lấy tiêu đề: <Trần triều lịch đại tổ sư…>, cho thấy có sự khác biệt các chữ Trần triều lịch đại và Trúc Lâm đệ nhị đại.
  4. Đoạn sách lục: Đến nay các văn bản như bia tháp Thanh Mai, bia Tổ bị, Thực lục đều ghỉ” Y đoạn sách lục”, có lẽ đây là một tập sách ghi lại thân thể của Pháp Loa.
  5. Trung Minh, chúng tôi chưa khảo cứu được thân thế người này.
  6. Huyền Quang, tên thật Lý Đạo Tái (1254-1339), theo Nhân Tông xuất gia từ nhỏ, sau này khi Pháp Loa viên tịch, Huyền Quang kế ngôi là Đệ tam tổ dòng thiền Trúc Lâm.
  7. Giờ: bia Thanh Mai, Thực lục ghi chữ Thời 時, văn bia Tổ bi đều ghi Thời 時 thành Thần 辰, về nghĩa đều chỉ thời gian. Trong văn bản này, chúng tôi dùng chữ Thời như văn bia Thanh Mai.
  8. Bản dịch Tam tổ thực lục của Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2, Nxb. ΚΗΧΗ, Η, 2000, tr. 728, đã dịch sai thành ngày 17 tháng 5″. Chúng tôi căn cứ văn bia cũng như Thực lục đều ghỉ” ngũ nguyệt sơ thất nhật” tức ngày 7 tháng 5 là chính xác. Phụ lục chữ Hán trong Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2 cũng ghi là” ngũ nguyệt sơ thất nhật”, e rằng dịch giả đã nhầm.
  9. Thôn Đồng Hòa, theo Kiến văn tiểu lục, quyển 9, của Lê Quý Đôn trong phần chú thích truyện Pháp Loa cho biết đương thời Lê đã tách thôn thành hai thôn là Đồng thôn và Tiền thôn. Tiền thôn chính là quê nhà cũng là nơi tôn giả được sinh ra. Ngày nay chúng tôi chưa khảo được địa danh.
  10. Nam Sách giang, căn cứ theo chú thích của Cảnh Tuệ Linh trong Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2 thời Trần quyển hạ trang 440 thì Nam Sách giang 南柵江 (Thanh Mai, Thực lục, Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, Tổ bì) còn viết là Nam Sách giang 南策江 (Đệ nhị đại tổ bì). Giang là đơn vị hành chính thời Trần dùng chữ Sách 柵, tuy nhiên, đến cuối thời Lê, trong Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh của Ngô Thì Nhậm khi viết về địa danh này đã chú song cước: Nam Sách giang kim cải Nam Sách 南柵江今改南策. Chỉ riêng từ Sách, thì Tổ bi có hai cách viết khác nhau: 策 và 柵. Thông qua thư tịch Hán Nôm, từ Sách có khi viết là:柵,策,冊. Trong phần dịch, chúng tôi để “giang Nam Sách” cho thống nhất về đơn vị hành chính.
  11. Dị nhân: chỉ người lạ kì, bậc khác người.
  12.  Sang giờ khác mới hết, nguyên văn: di thời phương tuyệt. Tuy nhiên, sách Trúc Lâm tông chỉ nguyên thanh, phần khảo về Pháp Loa, thì tác giả Ngô Thì Nhậm đã biên soạn thành di nguyệt bất tuyệt, nghĩa là sang tháng khác rồi mà không dứt.
  13.  Nguyên văn: tịnh hạnh chủng. Tịnh hạnh, chỉ người tu hành, hoặc tuân theo giới hạnh thanh tịnh. Bà la môn là một trong bốn họ xưa ở Ấn Độ, và được dịch là Tịnh hạnh chủng, nghĩa là bỏ tạp nhiễm ở trần thế mà sống cuộc sống thanh tịnh. Ở đây chỉ người theo đạo Phật, chuyên tu theo giới hạnh thanh tịnh.
  14. Tên húy là mỗ, nguyên văn: húy mỗ 諱某. Từ mỗ 某 là từ phiếm chỉ, phiếm xưng, một đại từ ngôi thứ 3, chỉ người. Đệ nhị đại tổ bị viết là mỗ 4. Ở đây không phải tên húy của ông họ Đồng là Mỗ, mà phiếm chỉ tên húy, không ghi tên rõ ràng. Trong văn cảnh đã cho thấy không ghi rõ tên húy mà chỉ phiếm chỉ bằng đại từ mỗ”.
  15. Thuần Mậu 純茂 sách Tam tổ thực lục các bản in từ thời Lê đến bản in trong Việt Nam Phật điển tùng san đều ghi Thuần Mậu. Tuy nhiên Tổ bi ghi thành Thuần Tàng 純藏. Có lẽ Tổ bi đã nhầm.
  16. Kiên Cương, nghĩa là vững bền, vững chắc, do nhiều lần uống thuốc để số thai mà không được, như thế là vững bền, vững chắc, nên đặt tên như vậy.
  17. Hưng Long: là niên hiệu của Trần Anh Tông (1276 1320), tên là Thuyên, con của Nhân Tông. Ông là vị vua thứ 4 nhà Trần, là người tinh thông Phật học, giỏi thơ văn.
  18. Nhân Tông 仁宗, tức Trần Nhân Tông. Tổ bi ghi là Nhân Tôn 仁尊. Hai cách dùng thông nhau.
  19. Nhân Tông Điều Ngự Đầu Đà: là pháp hiệu của Trần Nhân Tông. Điều Ngự: là một trong mười danh hiệu của Phật. Nghĩa nữa theo Vô lượng nghĩa kinh hoặc Trí độ luận thì Điều ngự là điều tiết và ngự chế. Bởi chúng sinh như ngựa ác, voi cuồng, cần người điều ngự chế định chúng thì gọi là Điều ngự.
  20. Đầu Đà: với nghĩa là trừ bỏ phiền não bụi trần. Đầu Đà là một trong những khổ hạnh của người tu hành. Đầu đà còn được dịch âm là Đỗ Đa, Đỗ Trà, Đầu Đa, Thâu Đa, Trần Hống Đa; được dịch nghĩa là tu sửa, trừ bỏ, sa thải, tẩy sạch v.v., ý nghĩa là đối với áo mặc, ăn uống và nơi ở đều từ bỏ lòng tham để tu luyện thân tâm. Đầu đà cũng gọi là Đầu đà hạnh, hoặc Đầu đà sự, hoặc Đầu đà công đức.
  21. Dâm từ: được hiểu như các đền thờ không chính đáng, các tín ngưỡng bản địa, có hại cho phong tục của nhân dân. Phần viết về Nhân Tông trong Tam tổ thực lục – An Tử sơn Trúc Lâm đại sĩ thực lục, ghi chép: Giáp Thìn thập nhị niên, chu hành tụ lạc, hóa trừ dâm từ, cho thấy đồng nhất với nội dung trong văn bia.
  22. Pháp dược 法藥 nghĩa đen là thuốc phép. Phật Quang đại từ điển giảng nghĩa từ nguyên của pháp dược là Phật pháp có thể trừ được cái khổ của chúng sinh thì gọi là pháp dược. Đây có thể hiểu nghĩa Nhân Tông đem thuốc đi ban phát, chữa bệnh cho những người nghèo trên đường ngài đi qua.
  23. Tìm người nổi pháp, nguyên văn: cầu pháp tự 求法嗣, tức tìm người tu hành theo đúng đường hướng để truyền lại y bát tông phái.
  24. Mắt đạo, nguyên văn: đạo nhãn 道眼. Đạo nhân, tức chỉ người tu đạo mà được thông suốt. Đạo nhãn, còn gọi là Thiên nhãn thông. Hiểu theo nghĩa đơn giản là Nhân Tông nhìn thấy đôi mắt thông tuệ, có khả năng chứng ngộ được của Pháp Loa.
  25. Pháp khí 法器, còn gọi: Đại khí. Những nhân tài trong đạo sẽ được rèn luyện để trở thành người đủ đại cơ đại dụng nhằm tiếp nối huệ mạng của Phật, hoằng dương chính pháp (theo Từ điển Thiên tông).
  26. Nguyên văn: Kì Lân liêu 麒麟寮. Tuy nhiên, Tổ bi, văn bia ghi chép về tổ Pháp Loa lại ghi là 麒鄰寮 với chữ Lân nghĩa là hàng xóm. E rằng không chính xác. Về chữ liêu 寮, nghĩa là cái lều nhỏ, cái nhà cỏ nhỏ. Ở đây dùng nghĩa cái lều nhỏ. Trong văn bản ghi am riêng, liêu riêng nên chúng tôi vẫn giữ nguyên chữ” liêu” để phân biệt với” am” trong văn bản.
  27. Linh sơn 靈山, theo chú thích 21 trang 441 của Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2 quyển hạ, Cảnh Tuệ Linh cho rằng Linh sơn là chỉ núi ở huyện ChíLinh, nay thuộc tỉnh Hải Dương.
  28. Y sa si, nguyên văn: Many 縵衣: y dành cho người tu mới thọ giới sa di và sa di ni đắp. Ba y của tỳ kheo và tỳ kheo ni được may bằng những tấm vải (có kích cỡ quy định) có hình giống như những thửa ruộng (điền tướng y), y sa di là một mảnh vải lớn không có tướng này nên gọi là man y.
  29.  Bấy giờ chưa thành lập chùa Quỳnh Lâm, chúng tôi cho rằng Quỳnh Quán chính là cơ sở ban đầu của chùa Quỳnh Lâm sau này. Ban đầu chỉ là một quán, tức một khu ở làm nơi trung chuyển để di chuyển lên Yên Tử. Khả năng Quỳnh Quán sau này Pháp Loa dựng thành chùa Quỳnh Lâm.
  30. Chúng tôi chưa khảo được lai lịch của hòa thượng Tính Giác.
  31. Kinh Hải Nhãn, nguyên văn: Hải Nhãn kinh 海眼經. Về Hải nhãn kinh, đến nay chúng tôi không gặp bản kinh nào có tên như thế trong Đại tạng kinh. Có một vài quyển kinh nhắc đến bộ kinh này trong thư tịch Phật học từ sau thời Đường. Như Thủ lăng nghiêm kinh nghĩa hải, quyển 30, bản chứng minh dịch thuật bởi Hoài Địch thời Đường, nhập chú bởi Hàm Huy thời Tống, hoặc như Đại Tuệ Phổ Giác Thiền sư ngữ lục, Lăng nghiêm kinh hợp luận, Pháp hoa kinh hợp luận thời Tống, và vài bản thời Minh về sau. Cơ bản các bản đều ghi tên sách do Trương Thương Anh chú giải! Có lẽ Pháp Loa đã đọc bản Thủ lăng nghiêm kinh nên dẫn theo. (xem thêm chú thích tiếp theo)
  32. Nguyên văn: Thất xứ trừng tâm hậu khách trần dụ 七處徵心後客塵喻, nghĩa là bảy chỗ gạn hỏi về tâm, và dụ khách trần ở phần sau” (kinh Thủ lăng nghiêm quyển 1). Đức Phật bảy lần hỏi về Tâm, A Nan chấp tâm ở trong thân, chấp tâm ở ngoài thân, chấp tâm ẩn trong con mắt, chấp tâm ở trong thân, chấp tâm tùy chỗ hòa hợp mà có, chấp tâm ở chính giữa, chấp chỗ không dính mắc là tâm. Dụ về khách trần: “Ngài Kiều Trần Na đứng lên bạch Phật: con ngộ được hai chữ ‘khách trần mà được thánh quả… Ví như người khách đi đường, vào nhà trọ … ăn ngủ xong xếp đồ đạc lên đường… Nếu thật là người chủ, tự không phải đi đâu… Không ở yên mãi được thì gọi là khách, còn ở mãi thì gọi là chủ”…”Lại như trời mới tạnh, mặt trời chiếu sáng trên cao, ánh sáng xuyên qua khe hở chiếu rõ bụi bặm trong khoảng không. Bụi trần thì dao động, hư không thì lặng yên. Theo đó mà suy nghĩ: đứng lặng gọi là hư không, lay động gọi là trần…”.
  33. Nguyên văn: Thái dương ô kê tụng 太陽烏雞頌. Chúng tôi đã rất cố gắng để tìm từ nguyên của câu này nhưng đến nay chưa chắc chắn được nguồn gốc để biết Nhận Tông đang nói từ kinh điển nào.
  34. Tam yếu tụng 三要頌: tức Tam huyền tam yếu tụng. Đây là phương pháp tiếp dẫn cho đệ tử của Lâm Tế Nghĩa Huyền; cũng là tông chỉ tu hành của tông Lâm Tế. Tam yếu – ba điều quan trọng, gồm: yếu thứ nhất là trong ngôn ngữ không phân biệt tạo tác; yếu thứ hai là nghìn thánh thẳng nhập vào huyền áo; yếu thứ ba là ngôn ngữ đạo đoạn. Đây là các nội dung cơ bản trong Lâm Tế Thiên sư ngữ lục.
  35. Nguyên văn: sổ tứ thỉnh ích 數四請益. Chúng tôi dịch thoát theo văn cảnh: nhiều lần xin chỉ dạy thêm.
  36. Nguyên văn: thất thượng bát hạ 七上八下, dịch thoát là bấn loạn bất an.
  37. Nguyên văn: Tý dạ canh thâm 子夜更深, nghĩa là đến khoảng giữa đêm giờ Tý. Giờ Tý là từ 23h đến 1h.
  38. Nguyên văn: thập nhị đầu đà hạnh 十二頭陀行 còn gọi là thập nhị thệ hạnh, thập nhị đỗ đa công đức, đầu đà thập nhị pháp hạnh. Mười hai hạnh của người tu hành này là: (1) Tại a lan nhã xứ: tức xa rời nơi tụ cư mà ở nơi thanh nhàn tĩnh lặng; (2) Thường hành khất thực: tức là đối với thức ăn khất thực được không có tâm niệm khen chê; (3) Thứ đệ khất thực: tức không chọn giàu nghèo, theo thứ tự mà hành khất thực; (4) Thụ nhất thực pháp: tức mỗi ngày chỉ ăn một lần, để tránh chuyện ăn nhiều lần gây trở ngại cho việc nhất tâm tu đạo; (5) Tiết lượng thực: tức mỗi lần ăn thì tiết chế lượng thức ăn, nếu như ăn uống phóng túng, thì bụng đầy, khí chướng, tổn hại đến đạo nghiệp; (6) Trung hậu bất đắc ẩm tương: tức quá buổi ăn trưa thì không uống nước (chỉ chung các loại thức uống nước hơi đặc, như sữa, bột…), nếu uống những thứ đó thì sẽ sinh ưa thích, không được chuyên tâm tu tập; (7) Trước tệ nạp y: nếu tham đắm y phục mới đẹp, truy cầu nhiều thì làm tổn hại đến đạo hạnh; (8) Đăn tam y: tức chỉ đắp ba y – ba loại y phục của người tu hành: an đà hội, uất đa la tăng, tăng già lê; (9) Trúng gian trụ: tức ở giữa khu mộ, thấy tử thi hôi thối, lửa thiêu, chim ria, tu tập pháp quán vô thường khổ không mà chán ghét xa lìa ba cõi; (10) Thụ hạ chỉ: Học theo đức hạnh của Phật, đến dưới gốc cây ngồi suy tư cầu đạo; (11) Lộ địa trụ: tức là ngồi ở bãi đất trống, khiến cho tâm được sáng tỏ, để nhập vào – không định; (12) Đãn tọa bất ngọa: (chỉ ngồi không nằm) nếu như nằm, thì lo sợ giặc phiền não thường rình tìm chỗ sơ hở của mình. (lược dịch theo Phật Quang đại từ điển)
  39. Thực lục cũng như văn bia Thanh Mai, cũng như bản Thực lục do Việt Nam Phật điển tùng san in, đều ghi là Hưng Long thập tam niên Ất Tỵ – năm Ất Tỵ niên hiệu Hưng Long thứ 13. Tuy nhiên, riêng Tổ bi chỉ ghi thập tam niên, thiếu hai từ Hưng Long và Ất Tỵ. Vê niên đại, Tổ bi đều lược đi niên hiệu cũng như năm can chi.
  40. Thanh văn giới 聲聞戒: tức 250 giới của một vị tì kheo. Giới Thanh văn chú trọng đến ngôn hạnh cử chỉ, tức tướng giới.
  41. Nguyên văn: Bồ Tát giới 菩薩戒: còn gọi là giới Đại thừa, giới Phật tính… Giới Bồ Tát chú trọng đến tâm giới, tính giới. Nội dung gồm ba ý nghĩa: nhiếp luật nghỉ giới, nhiếp thiện pháp giới và nhiêu ích hữu tình giới. Đây cũng chính là: giữ giới luật nghi, tu thiện pháp và phổ độ chúng sinh.
  42. Vừa mới, nguyên văn: sơ 初. Chúng tôi căn cứ khảo cứu của Cảnh Tuệ Linh, các văn bản của Thực lục đều ghi rằng: thị niên, Huyền Quang sơ xuất gia. Tuy nhiên, Tổ bi không có chữ Sơ này.
  43. Bão Phác 抱璞: đệ tử của Nhân Tông, chưa rõ lai lịch.
  44. Vĩnh tự đường 永寺堂, theo chúng tôi thấy, đây có lẽ là chỉ việc thụ giới trong chùa Vĩnh Nghiêm. Đây là cách viết tắt tên các chùa, lấy tên đầu được quán suốt trong toàn văn bản văn bia.
  45. Tổ bi ghi: thập tứ niên, thiếu niên đại Hưng Long cũng như năm can chi Bính
  46. Chùa Báo Ân ở Siêu Loại, nay thuộc huyện Thuận Thành tinh Bắc Ninh, đến nay chùa vẫn còn lại kết cấu của kiến trúc thời Lê. Gần đây, qua các đợt khảo cổ tại địa bàn chùa, đã phát hiện ra nhiều di vật của thời Lý Trần như tượng, tháp bằng đất nung v.v..
  47. Tổ bi so với Thực lục cũng như Thanh Mai không chỉ thiếu niên đại Hưng Long và năm can chi Bính Ngọ mà còn thiếu một đoạn” Điều Ngự trụ trì Siêu Loại Báo Ân tự, lập sư vi giảng chủ” và bắt đầu luôn câu tiếp: “Điều Ngự kiến Huyền Quang tùy Bão Phác đáo kì tự thính giảng, nãi dẫn vi thị giả”.
  48. Tổ bi đã lược niên đại Hưng Long và năm can chi Đinh Mùi.
  49. Nguyên văn: Thiên Bảo Quán Trụ am. Chúng tôi không rõ am – tên địa danh này ở đâu.
  50. Đại Tuệ ngữ lục 大慧語錄: tức Đại Tuệ Phổ Giác Thiền sư ngữ lục 大慧普覺禪師語錄. Đây là bộ ngữ lục của Thiền sư Đại Tuệ Tông Cảo (1089 – 1163) thời Nam Tống gồm 30 quyển. Sách còn gọi là Đại Tuệ ngữ lục. Bộ sách được chia làm các phần: Ngữ lục (quyển 1-9), tụng cổ (quyển 10), kệ tụng (quyển 11), tán Phật Tổ (quyển 12), phổ thuyết (quyển 13-18), pháp ngữ (quyển 19-24), thư (quyển 25-30). Sách do học trò của Tông Cảo biên tập lại lời giảng cũng như các tài liệu liên quan đến Tông Cảo.
  51. Nguyên văn: Ngọa Vân phong Đỉnh Trụ am, nay thuộc xã An Sinh huyện Đông Triều. Ngọa Vân phong cũng thuộc dãy núi Yên Tử, nhưng núi ở về phía tây, đường lên đi từ hướng chùa Quỳnh Lâm – Đông Triều. Ngày nay, trên núi chỉ còn tàn tích am Ngọa Vân cũng như các tháp đá trong kiến trúc thời Lê.
  52. Bố tát 布薩: Phạn ngữ là upavasatha, uposatha hoặc posatha…, dịch ý là sống thanh tịnh, trưởng dưỡng pháp thiện. Đây là một pháp sự của người xuất gia, mỗi nửa tháng (ngày 14, 29 hoặc 30), tập hợp chúng tăng lại một nơi để thuyết (đọc) giới (những giới điều đã lãnh thọ), nhắc nhở tì kheo… giữ giới thanh tịnh, tăng trưởng pháp thiện.
  53. Tổ bi lược đi niên đại Hưng Long và năm can chi Mậu Thân, chỉ ghi: thập lục
  54. Nguyên văn là chữ Lụy ĩ, tức là đánh. Văn bản Thực lục cũng như Tổ bi đều ghi thành chữ Lôi . Tuy nhiên, theo nghĩa thì hai chữ này có thể dùng như nhau.
  55.  Anh Tông 英宗: Đệ nhị đại tổ bị ghi là Anh Tôn 英尊,
  56. Nguyên văn: đàn việt: tiếng Phạn là Dānapati, dịch nghĩa là thí chủ”, tức là người làm việc bố thí, người cúng dường chư tăng.
  57. Tể chấp 宰執, là cách gọi tắt của Tể tướng với Chấp chính – nắm quyền chính trị. Đây chỉ các quan lớn đương triều.
  58.  Quan nhỏ, nguyên văn: thứ liêu 庶僚, chỉ các quan theo thứ tự thấp
  59.  Nguyên văn: Khúc lục sàng 曲彖床, là loại ghế, loại giường ngồi (tức loại ghế xếp bây giờ, có thể ngồi có thể nằm), còn gọi là khúc lục mộc, khúc lục, khúc lộc, khúc mộc… Đa phần, loại này đều bằng gỗ, có bốn chân, chân trước, chân sau tự giao thoa nhau, lại có lưng dựa, hình dạng gấp khúc, cho nên gọi là khúc lục. Ngoài ra, “tọa khúc lục sàng” còn chỉ cho vị trụ trì một chùa lớn của một sơn môn, có công lớn trong việc hoằng dương đạo pháp (lược dịch theo Phật Quang đại từ điển, có tham khảo chú thích của Cảnh Tuệ Linh, sđd.).
  60. Nguyên văn: Thính 聽, tức là nghe. Tuy nhiên, Tổ bi ghi là Cha 咱. Ở Việt Nam, trong truyền thống các thư tịch Hán Nôm thường dùng chữ Cha 咱 này với nghĩa như chữ Thính
  61. Thanh Mai, Thực lục cũng như Tổ bi ghi là” kế thế trụ trì”. Bản Cảnh Tuệ Linh hiệu chỉnh cho là Kế nhậm trụ trì.
  62. Kinh sử ngoại thư 經史外書: đây là ngoại điển”, tức không phải là các thư tịch Phật giáo.
  63. Hòm nhỏ, nguyên văn: tiểu giáp 小夾. Chúng tôi khảo cứu văn bia Thanh Mai là tiểu giáp 小夾. Thực lục cũng như Tổ bi lại ghi là” thích huyết tả Đại tạng. Tiểu giáp nhị thập hàm”, và ngắt câu sau chữ Đại tạng. Như vậy, nghĩa câu văn đã khác: chích máu viết Đại tạng, được 20 hòm nhỏ đóng liên nhau. Cảnh Tuệ Linh khảo cứu và nhận định chữ giáp 夾 thành chữ thừa 乘.
  64. Nội điển và ngoại điển: chỉ cho kinh sách Phật giáo và sách vở Nho gia… kiến thức bên ngoài.
  65. Nguyên văn: Thống Chính Thái sư 統政太師: Cảnh Tuệ Linh căn cứ văn bia để đưa ra Thống Chính Thái sư. Thực lục thì ghi là Thống Chính Đại sư. Cảnh Tuệ Linh chú: Thái sư Thống Chính tức là Đức Hóa, con thứ của Thánh Tông, căn cứ theo Đại Việt sử kí toàn thư năm 1302, ghi vào mùa xuân tháng giêng, cho Thái úy Đức Hóa làm Thái sư Thống Chính. Chúng tôi đồng quan điểm, khi khảo cứu thác bản văn bia Thanh Mai.
  66. Tân Lang trang: trang là một đơn vị hành chính thời Trần. Tổng tập văn học Việt Nam, tập 2, dịch là vườn cau, e là không đúng.
  67. Tài sản thường trụ, nguyên văn: thường trụ sản 常住產: chỉ đất để cấy trồng lấy hoa màu cho nhà chùa dùng trong sinh hoạt cũng như các lễ chạp, cũng gọi là đất công đức vào cho nhà chùa.
  68. Cắt trừ, nguyên văn: trừ đội 除隊. Văn bia Thanh Mai ghi Trừ đội, Cảnh Tuệ Linh đã căn cứ trong Thực lục cũng như Tổ bi ghi là Trừ đội. Tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh cũng cho rằng ý nghĩa của Trừ đội có phần đáng nghi ngờ. Chúng tôi cho rằng Trừ đội đã đúng theo bia Thanh Mai.
  69. Nguyên văn: canh phu: chỉ người lao động, người cày cấy.
  70. Đế cơ: Tống Huy Tông ra lệnh, để noi theo đạo thống nhà Chu, công chúa gọi là Đế cơ. Văn bản Tổ bi cũng như Thực lục đều ghi: hựu dĩ Đế cơ 又以帝姬. Chúng tôi căn cứ bia Thanh Mai ghi là: hựu Đế cơ 又帝姬.
  71. Nguyên văn: Đại Từ hương – làng Đại Từ, chúng tôi không rõ lắm về địa danh này và không biết có phải làng Đại Từ thuộc Hoàng Mai ngày nay không.
  72. Trưởng công chúa Đế cơ Thiên Trinh: tức trưởng công chúa Thiên Chân, con của Anh Tông và hoàng hậu Thuận Thánh. Năm Đại Khánh thứ 5 (1318) thời Minh Tông, bà được gả cho Huệ Chính vương. (xem Đại Việt sử kítoàn thư, quyển 6; xem chú thích 60, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2, do Cảnh Tuệ Linh chú thích).
  73. Trung thư Thị lang Vương Công Trứ. Về Trung thư Thị lang: Theo Lịch triêu hiến chương loại chí quyển 13, phần Quan chức chí thì thời Lý Thái Tông năm Thiên Thành nguyên niên (1028) đã ban ra các chức sắc, trong đó có Trung thư Thị lang. Cũng trong Lịch triều hiến chương loại chí phần Diên cách chế, mục Thị lang đã cho biết thời Lý sơ đã thiết chế chức Trung thư Thị lang, Bộ thị lang, nhưng chưa đầy đủ, nhà Trần dựa vào thể chế của nhà Lý, kiêm đặt thêm Lục bộ Thị lang. Những thông tin cũng chỉ được như thế, có thể nói đến nay quyền bính của chức Trung thư Thị lang thời Lý Trần thật khó khảo sát cụ thể.
  74. Về Vương Công Trứ, đến nay tư liệu không được rõ.
  75. Điệp 牒, chúng tôi cho rằng đây chính là độ điệp. Độ điệp 度牒: là giấy chứng nhận cho tăng lữ khi đã xuất gia do chính quyền nhà nước cấp. Chế độ cấp độ điệp bắt đầu có từ thời Bắc Ngụy (Trung Quốc). Thời Đường về sau, quy cách dần hoàn thiện. Độ điệp cũng chính là bằng chứng cho người tu hành, là sự thừa nhận mang tính quan phương, cũng là để miễn tạp dịch. Khoảng thời Tuyên Tông nhà Đường (856), giấy chứng nhận cho người thụ giới gọi là giới điệp, nhưng nếu chưa có độ điệp thì không được thừa nhận. Quy cách này còn mãi đến thời Thanh, sau mới thôi. Đến thời Dân Quốc đến nay, thống nhất còn giới điệp, mà không dùng độ điệp nữa.
  76. Có sự sai biệt với bản văn bia. Văn bia Thanh Mai ghi: Vương Công Trứ cấp sư điệp, độ thường tùy tăng 王公著給師牒,度常隨僧; còn Tổ bi cũng như Thực lục ghi: Vương Công Trứ cấp sư độ điệp, thường tùy tăng… Khác nhau về cách ngắt câu và đổi chữ độ điệp và điệp, độ.
  77. Độ, nguyên văn: độ 度. Tổ bi, Thực lục, Cảnh Tuệ Linh đều ghi là Đội 隊 Chúng tôi khảo văn bia Thanh Mai là chữ Độ.
  78. Hoàng thái hậu Tuyên Từ: là em gái của hoàng hậu Bảo Thánh vợ vua Nhân Tông. Bà là con gái của Hưng Đạo vương Trần Quốc Tuấn. (xem chú thích 59, Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2, quyển hạ)
  79. Thực lục cũng như Tổ bi cuối câu này có hai chữ vân vân 云云, khắc nhỏ, chứng tỏ câu nói được trích dừng đến đây. Bia Thanh Mai không có hai chữ này. Ngoài ra, Tổ bi còn khắc thừa chữ Phật: Tuyển Phật Phật cầu yếu tu tinh tuyển, đã viết thành hai chữ Phật dị thể (伕) nối tiếp nhau.
  80. Nguyên văn: dĩ 以. Tổ bi cũng như Thực lục đều không có chữ Dĩ này.
  81. Theo Đại Việt sử kí toàn thư, Đệ nhất tổ Đại sĩ thực lục trong Tam tổ thực lục thì Nhân Tông mất ngày 3 tháng 11 năm 1308.
  82. Xá lị 舍利: còn gọi là thực lị, thiết lợi la, thất lợi la, dịch ý là cơ thể, thân người, thân cốt, thân thể không hư hoại sau khi chết. Thông thường chỉ di cốt của Phật đà còn lại, còn gọi là Phật cốt, Phật xá lị, về sau cũng để chỉ di cốt xương tro còn lại sau khi thiêu của các cao tăng.
  83. Nguyên văn: tác Thạch thất mị ngữ niêm tụng, Thạch thất mị ngữ nãi Điều Ngự… Cảnh Tuệ Linh cho rằng văn bản là Chi tụng 指頌 và ngắt câu sau chữ mị ngữ. Trong khi Thực lục cho là Niêm tụng 拈頌 và đương nhiên ngắt câu sau chữ niêm tụng, tức câu sẽ là: “Tác Thạch thất mị ngữ niêm tụng. Thạch thất mị ngữ nãi Điều Ngự…”. Tổ bị cho là Niêm tụng. Chúng tôi căn cứ bia Thanh Mai và cho rằng ở đây là Niêm tụng mới đúng. Ngoài vấn đề ngắt câu, còn là võn truyền thống kinh tạng từng có bộ Thiên môn niêm tụng tập, thời Tống, gồm 30 quyển, ghi chép lại tất cả những đối đáp pháp ngữ từ Phật Tổ trở về sau, trong đó có cả niêm cổ, tụng cổ, phổ thuyết…, cho thấy, văn học niêm tụng Phật giáo thời Tống có ảnh hưởng đến tư tưởng Phật giáo Việt Nam.
  84. Tổ bị ghi: thập thất niên, lược bỏ niên hiệu Hưng Long cũng như năm can chi Ki Dậu.
  85. Cúng chay cho vua Nhân Tông trong ngày lễ Vu lan rằm tháng 7.
  86. Bản Cảnh Tuệ Linh khảo nhận định mất một số chữ. Tổ bi, Thực lục, cũng như thác bản văn bia Thanh Mai (dù mờ) thì không mất chữ. Nguyên do
  87. bởi các chữ được đài (sau chữ Phụng, trước chữ Điều Ngự…) cách ra làm cho Cảnh Tuệ Linh đã đếm thiếu chữ cũng như nhầm khi cho rằng chữ Cửu nguyệt 九月ở phía sau sang dòng mới, trong khi chữ Cửu 九 vẫn nằm trong dòng này rõ trên thác bản.
  88. Nguyên văn: Long Hưng phủ 龍興府. Thực lục ghi Long Hưng phủ 隆興府. Riêng Tổ bị ghi Hưng Long phủ 興隆府. Cảnh Tuệ Linh cho là Long Hưng phủ 隆興府, nhưng đến năm Hưng Long thứ 18 thì lại là Long Hưng phủ 龍興府. E là bất nhất, vì văn bản liền nhau. Chúng tôi căn cứ tự dạng bia Thanh Mai trên năm Hưng Long thứ 18 để nhận định là Long Hưng phủ 龍興府. Phủ Long Hưng, nay thuộc địa phận tỉnh Thái Bình.
  89. Bảo tạng 寶藏: đây chỉ hộp đựng xá lị của Nhân Tông, khi mở ra rồi cho xuống huyệt để an táng trong lăng.
  90. Tổ bị tiếp tục lược niên hiệu Hưng Long và năm can chi Canh Tuất so với văn bia Thanh Mai và Thực lục.
  91. An Đinh, không rõ địa danh này hiện nay ở đâu.
  92. Lục thời nghi 六時儀: chỉ nghi thức thực hiện sáu lần trong một ngày. Sáu lần được phân như sau: buổi sáng, buổi trưa, khi chiều mặt trời lặn (tức ba lần ban ngày) và đầu đêm, giữa đêm, gần sáng (ba lần trong đêm). Thời Đông Tấn, Tuệ Viễn sáng tác Lục thời hành đạo; đến thời Tùy, Tín Hành sáng tác Lục thời phát nguyện văn, Thiện Đạo sáng tác Lục thời lễ tán đều chủ trương trong một ngày có sáu lần sám hối. Ở đây, không rõ Lục thời nghi có liên quan như thế nào với Lục thời sám hối khoa nghi trong Khóa hư lục.
  93. Bồ đề 菩提: Phạn ngữ là Bodhi, dịch ý là giác ngộ, trí tuệ, hiểu biết, thông suốt. Nghĩa rộng là trí tuệ cắt hết phiền não trên thế gian mà vào cõi niết bàn. Cơ bản ngày nay hiểu theo nghĩa trí tuệ, giác ngộ.
  94. Nguyên văn: Hoa nghiêm yếu chỉ, tức yếu chỉ của kinh Hoa nghiêm. Kinh Hoa nghiêm tên đầy đủ là Đại phương quảng Phật hoa nghiêm kinh, thường gọi tắt là Hoa nghiêm kinh, là một bộ kinh lớn của Phật giáo Đại thừa.
  95. Chùa Tư Phúc, được nhắc đến trong Tam tổ thực lục, ĐVSKTT… Đây là ngôi chùa trong kinh thành Thăng Long, nhưng đến nay gần 1000 năm trôi qua, ngôi chùa này không rõ ở đâu.
  96. Chùa Phổ Từ, đến nay không rõ, theo thông tin thì ở phủ Long Hưng.
  97. Cảnh Huy, đệ tử của Pháp Loa, không rõ năm sinh năm mất.
  98. Tổ bi chỉ ghi: thập cửu niên, lược đi niên hiệu Hưng Long và năm can chi Tân
  99. Đại tạng kinh: đến nay chúng ta chỉ biết thời Lý Trần có Đại tạng kinh, tuy nhiên không rõ bản này là bản in thời nào từ Trung Quốc và gồm bao nhiêu sách kinh bản.
  100. Bảo Sát: đệ tử của Nhân Tông, không rõ năm sinh năm mất.
  101. Truyền đăng lục 傳燈錄: là tên gọi tắt của bộ Cảnh Đức truyền đăng lục. Truyền đăng lục, gồm 30 quyển, do ngài Đạo Nguyên đời Tống soạn. Là một bộ lịch sử Thiền tông Trung Quốc. Sách này thu chép pháp hệ truyền đăng từ bảy đức Phật ở quá khứ và các tổ Thiền tông các đời, tổng cộng 1701 vị, nội dung bao gồm hành trạng và cơ duyên… (Theo Phật Quang đại từ điển)Tức chùa Báo Ân ở Siêu Loại, nơi Nhân Tông truyền đăng cho Pháp
  102. Nguyên văn: thượng đường nhập trạch 上堂入宅,ý chỉ khi thì lên thuyết giảng (thượng đường), khi thì vào trong thất nghỉ (nhập trạch), chúng tôi lược dịch.
  103. Tổ bị ghi nhị thập niên, lược đi niên hiệu Hưng Long cũng như năm can chi Nhâm Tý.
  104.  Cảnh Tuệ Linh khảo thừa chữ Sư 師 so với các bản còn lại. Lí do, là bà đã đếm chữ, chữ mờ, mà không nhìn rõ đài phía trước chữ Anh Tông, nên bà đã đếm cả phần đài đó.
  105. Đại Tuệ ngữ lục 大慧語錄: Tổ bi chép là Đại Huệ ngữ lục 大慧語錄. Trong cách dùng cũ, Tuệ và Huệ thường dùng thông nhau, nhưng đúng phải là Đại Tuệ ngữ lục.
  106. Văn bia ghi: Trạo phu 棹夫; còn Thực lục, Tổ bi đều ghi Trạo phu 掉夫. Hai chữ” trạo” này khác nhau về chữ lẫn về nghĩa. Chữ” trạo phu 棹夫” này mới đúng. Tuy nhiên, về hai chữ” trạo” này trong các văn bản Hán Nôm ở Việt nam vẫn thấy dùng thông nhau.
  107. Trang Niệm Như, chúng tôi không rõ địa danh này hiện nay ở đâu.
  108. Đệ nhị đại tổ bi đã lược bỏ niên hiệu Hưng Long và năm can chi Quý
  109. Hiện chúng tôi không rõ nội dung là tổ sư Long Đàm hay là viện Long Đàm; và chùa Na Già hay sư tên là Na Già. Trong Đệ nhị đại tổ niên phả thực lục ngắt câu là: Long Đàm tổ viện, chủ Na Già. Trong khi Tổng tập văn học Việt Nam tập 2, phần dịch đã dịch nội dung câu này như sau: “Viện chủ Na Già là tổ Long Đàm” (tr. 731 – sđd.). Chúng tôi chưa dám chắc nghĩa dịch như thế nào, nên để nguyên phiên âm.
  110. Thiên lâm thiết chủy ngữ lục là tác phẩm của Điều Ngự Nhân Tông sáng tác. (dựa trên căn cứ ở phần truyện về Nhân Tông trong Tam tổ thực lục)
  111. Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục là tác phẩm của Tuệ Trung thượng sĩ được Nhân Tông biên tập khi thượng sĩ đã viên tịch. Về Tuệ Trung (khoảng 1230 – 1291), tên là Trần Tung, còn gọi là Trần Quốc Tung, hiệu Hưng Ninh vương. Ông là thầy của Nhân Tông (căn cứ Tam tổ thực lục, Thánh đăng ngữ lục) và để lại tác phẩm Tuệ Trung thượng sĩ ngữ lục.
  112. Kinh Duy Ma: còn có tên là Duy Ma Cật sở thuyết kinh 維摩詰所說經, hoặc Duy Ma Cật kinh 維摩詰經. Duy Ma kinh, gồm 3 quyển, 14 phẩm, do Cưu Ma La Thập dịch vào thời Diêu Tần, được sưu tập trong Đại chính tân tu Đại tạng kinh quyển thứ 14. Nội dung nói về sự chứng ngộ pháp môn bất khả tư nghì, cho nên còn gọi là Bất khả tư nghị giải thoát kinh.
  113. Đích thân đến, nguyên văn: thân lâm 親臨. Chúng tôi khảo cứu văn bia Thanh Mai, tuy chữ mờ, nhưng có chữ rõ, sau chữ Anh Tông còn hai chữ mà tự dạng chúng tôi cho là hai chữ thân lâm. Thực lục, Tổ bi, bản Cảnh Tuệ Linh đều không có hai chữ này. Bởi Cảnh Tuệ Linh cũng dựa vào văn bản Thực lục, vì bia Thanh Mai mờ.
  114. Vật của tam bảo, nguyên văn: Tam bảo vật 三寶物: chỉ chung cho tất cả tài sản vật chất trong chùa. Ở đây, tam bảo vật chỉ cho các vật thuộc tam bảo mà Nhân Tông để trong cung Thánh Từ, không phải vật của hoàng cung.
  115. Cung Thánh Từ, đây có lẽ là một cung trong Đại nội, đến nay không rõ. Chú thích 99 của Cảnh Tuệ Linh, trang 449, sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam tập 2, quyển hạ, ghi: Thời Trần, thượng hoàng ban chế thượng hoàng ở cung Thánh Từ, Hoàng để ở cung Quan Triều. Theo Khâm định Việt sử thông giám cương mục, Trần Thái Tông, năm Kiến Trung thứ 5 (1229), phần chú thích ghi: “Thánh Từ, Quan Triều, nhị cung danh, Thánh Từ thượng hoàng sở cư, Quan Triều hoàng thượng sở cư” nghĩa là: Thánh Từ và Quan Triều là tên của hai cung, Thánh Từ là tên cung thượng hoàng ở, Quan Triều là cung nhà vua ở. Như thế, cung Thánh Từ chính là cung để thượng hoàng ở. Như vậy, ở đây nghĩa là lấy vật tam bảo trong cung Thánh từ tức cung cũ của Nhân Tông, khi Nhân Tông đã mất.
  116. Thực lục và Tổ bi đều có thêm chữ huyện 縣 sau chữ Siêu Loại thành Siêu Loại huyện Báo Ân tự. Chúng tôi e rằng người sau thêm vào. Cảnh Tuệ Linh cũng như chúng tôi khảo văn bia thì không hề có chữ huyện mà văn là Siêu Loại Báo Ân tự.
  117. Nguyên văn: Thượng tam tứ hạnh kì tự. Thượng đây là hoàng thượng, được viết tắt.
  118. Chùa Vĩnh Nghiêm ở Lạng Giang, nay thuộc làng Đức La, xã Trí Yên, huyện Yên Dũng, tỉnh Bắc Giang.
  119. Lạng Giang: nguyên âm là Lượng Giang, trong cách đọc tiếng Việt đều đọc thành Lạng, như Lạng Sơn cũng chữ là Lượng Sơn. Lạng Giang, nay ở địa phận tỉnh Bắc Giang.
  120. Văn bia Thanh Mai mờ, còn nội dung như sau: Thiên hạ Tức là mờ mất bốn chữ. Bản Cảnh Tuệ Linh khảo thành: Thiên hạ tăng đồ giai hữu tịch hĩ 天下僧徒皆有籍矣. Thực lục ghi: thiên hạ tăng, tòng thử hữu tịch hĩ 天下僧從此有籍矣. Ở đây, chúng tôi căn cứ vào Thực lục và Tổ bi để bổ sung khi thấy phù hợp với số chữ và nội dung.
  121. Nguyên văn: độ thiên dư nhân 度千餘人, tuy nhiên Thực lục và Tổ bi ghi: độ thập dư nhân 度十餘人, cho thấy sự khác biệt trong việc” độ” (cho xuất gia) cho số người là” thiên” (nghìn người) và thập” (mười người). Chúng tôi căn cứ theo bia Thanh Mai là: độ thiên dư nhân.
  122.  Thực lục, Tổ bi ghi: tam niên nhất độ, giai giảm thiên số (ba năm một lần độ, nên số tăng giảm đi hàng nghìn) cho ý nghĩa rõ ràng khác biệt với Thanh Mai: tam niên nhất độ, tăng giai bất giảm thiên số 三年一度,僧皆不減千數(ba năm độ một lân, nhưng số tăng vẫn cả nghìn, đêu chẳng giảm đi). Chúng tôi căn cứ vào văn bia Thanh Mai khi văn bản chữ văn bia còn rõ ràng.
  123. Nguyên văn: Tuyên Từ Hoàng thái hậu 宣慈皇太后: chúng tôi chưa khảo sát được về bà. Thực lục, Tổ bi và Cảnh Tuệ Linh đều cho là Bảo Từ Hoàng thái hậu 寶慈皇太后. E là nhầm bởi thác bản hơi mờ, nhưng mặt hai phần đệ tửthì rõ.
  124. Cắt… cúng, nguyên văn: thí giáo 施校, tức tính toán ban thí. Bia Thanh Mai hơi mờ, Thực lục và Tổ bi đều là thí giáo. Cảnh Tuệ Linh cho là thí bạt 施撥. Chúng tôi căn cứ Thực lục, Tổ bi, cũng như xét tự dạng của Thanh Mai để xác quyết là thí giáo.
  125. Thực lục, Tổ bi đều không có chữ Thử 此 trong câu: Nhân dĩ thử vi ngoại tài yên 因以此為外財焉, so với văn bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi.
  126. Tài sản ngoài thân, nguyên văn: ngoại tài. Tài sản bố thí có hai loại: nội tài và ngoại tài. Nội tài chỉ cho thân thể; ngoại tài là chỉ cho tất cả tài sản mình có.
  127. Theo Đại Việt sử kí toàn thư thì tháng 3 năm Đại Khánh nguyên niên (1314) Anh Tông nhường ngôi cho con mà lên làm Thái thượng hoàng. Năm đó, cải nguyên Đại Khánh, đại xá thiên hạ.
  128. Phật tượng tam tôn: tức tượng ba ngôi Phật tôn quý. Nguồn gốc thờ Phật tam tôn có từ Ấn Độ với ở giữa là Phật Thích Ca, bên trái là Phật Dược Sư, bên phải là Phật Di Đà. Ngoài ra còn có hình thức ở giữa là một vị Phật, hai bên hai vị Bồ Tát như đức Phật Thích Ca ở giữa, hai bên là Ca Diếp và A Nan, hoặc Thích Ca với hai Bồ Tát Phổ Hiền, Văn Thù thì gọi là Thích Ca tam tôn. Phật A Di Đà ở giữa, hai bên là Bồ Tát Quán Thế Âm và Bồ Tát Văn Thù thì gọi là Di Đà tam tôn, hoặc Tây phương tam thánh; Phật Dược Sư ở giữa, hai bên hai Bồ Tát Nhật Quang, Nguyệt Quang thì gọi là Dược Sư tam tôn…
  129. Nguyên văn: thập thất xích: 17 thước, hiện rất khó biết chuẩn thước đo của thời Trần nước ta bằng bao nhiêu so với đơn vị đo ngày nay. Chúng tôi căn cứ các nghiên cứu tương đương với thước đo thời Tống Nguyên thì mỗi thước khoảng 32 cm. Như vậy, có thể tạm có số sau: 17 x 32 = 544 cm, tương đương cao khoảng 5.5 m.
  130. Nguyên văn: tàng 藏 chúng tôi dịch thành tàng kinh các, nơi chất chứa thư tịch, kinh điển.
  131. Nguyên văn cả câu: Phật điện, các, tàng, tăng đường. Tổ bi không chép chữ Các, nghĩa là gác, như kiểu tầng lầu, gác chuông. Tổ bi chỉ chép nguyên văn: Phật điện tàng tăng đường.
  132. Nhị Hương điện 菜香殿: căn cứ theo Thực lục và Tổ bi. Bia Thanh Mai đã mờ. Cảnh Tuệ Linh cho là Dược Hương điện 藥香殿. Do đó, chúng tôi theo Tổng tập văn học Việt Nam, Thực lục và Tổ bi để xác định là Nhị Hương điện.
  133. Nguyên văn: Thần hàn 宸翰, nghĩa là nét bút, bút tích của bậc đế vương.
  134. Tổ bi chỉ ghi nhị niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Ất Mão.
  135. Văn bia Thanh Mai chữ mờ, tự dạng không rõ, số chữ mờ cho thấy Thực lục, Tổ bi, Cảnh Tuệ Linh đều thiếu mấy chữ, chúng tôi để trong ngoặc phần chữ Hán và phiên âm. Ở đây dịch thoát theo tự dạng trong Thực lục, Tổ bi.
  136. Tổ bi chỉ ghi tam niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm Bính Thìn.
  137. Nguyên văn: tại gia Bồ Tát giới 在家菩薩戒: là giới Bồ Tát cho người tại gia. Xem thêm chú thích giới Bồ Tát (số 39).
  138. Nguyên văn: Anh Tông chiếu sư thụ Thái thượng hoàng tại gia Bồ Tát giới. Cảnh Tuệ Linh cho rằng, sau chữ giới còn chữ Đằng 等. Thực lục, Tổ bi không có chữ Đẳng. Chúng tôi cho rằng, Cảnh Tuệ Linh đã nhầm lẫn, bởi sau chữ giới, là đài chữ, cách ra để đến năm Đại Khánh tứ niên phía sau.
  139. Tổ bi chỉ ghi tứ niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Đinh Tỵ.
  140. Thực lục, Tổ bị, Thanh Mai đều ghi là trụ trượng 柱杖. Cảnh Tuệ Linh cho là trụ trượng 住杖. Cảnh Tuệ Linh đã nhầm. Trụ trượng là cái gậy chống, đây là cái gậy truyền thừa trong đạo, được thầy truyền lại cho đệ tử. Trụ trượng ở đây mang tính tượng trưng, có thể bằng sắt, hay gỗ. Chúng tôi dịch là tích trượng.
  141. Phất tử 拂子, thường gọi là phất trần. Trong truyền thống Phật giáo Ấn Độ, phất tử dùng để đuổi côn trùng, muỗi. Tuy nhiên, trong Phật giáo Trung Quốc, phất tử thường dùng như một pháp khí biểu trưng của bậc trưởng thượng, sư trưởng. Mật giáo thì dùng phất tử để đuổi trừ phiền não. Nó có một đầu cầm dài và phần phất là các sợi, các sợi có thể được làm bằng lông dê, lông đuôi ngựa, hoặc sợi vỏ cây, v.v…
  142. Cây bê, nguyên văn trúc bề. Văn bia Thanh Mai cũng như Tổ bi đều ghi là trúc bề 竹篦. Thực lục ghi là 竹饯, hai chữ bề này dùng thông nhau. Trúc bề là cây có hình dẹp, thường làm bằng tre hoặc gỗ, vị sư phụ thường cầm ở tay đi tới đi lui trong thiền đường để đánh thức những thiền sinh ngủ gục. Cũng chính là một công cụ để điểm tỉnh cho người học ngộ đạo của tăng nhân Thiền gia. (lược dịch từ Phật Quang đại từ điển)
  143. Huệ Quán 惠觀 Thực lục ghi là Tuệ Quán 慧觀, tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh căn cứ mặt bia âm ghi là Huệ Quán nên thống nhất là Huệ Quán.
  144. Huệ Nhiên 惠燃,Thực lục ghi là Tuệ Nhiên 慧燃,tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh căn cứ mặt bia âm ghi là Huệ Nhiên nên thống nhất là Huệ Nhiên.
  145. Huệ Chúc 惠燭, Thực lục ghi là Tuệ Chúc 慧燭, tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh căn cứ mặt bia âm ghi là Huệ Chúc nên thống nhất là Huệ Chúc.
  146. Chùa Bảo Sơn Vương ở Cổ Thành, hiện nay chúng tôi chưa tra cứu được địa danh Cổ Thành cũng như chùa Bảo Sơn ở đâu.
  147. Bia Thanh Mai ghi Triều Châu 潮州. Thực lục, Tổ bi ghi Triều Xuyên 潮川 Chữ Xuyên và Châu tự dạng tương tự, chỉ khác ba chấm. Có thể do thời gian làm phai mờ khiến người ta đã nhầm, nên khó biết đâu là chính xác.
  148. Hứa Tắc Thành, không rõ tên tuổi lai lịch, nội dung cho biết ông là người Triều Châu (Trung Quốc).
  149. Nguyên văn: Quỳnh Lâm viện, đây là thông tin đầu tiên về việc sáng lập viện Quỳnh Lâm ở Đông Triều, Quảng Ninh ngày nay, gắn liền với tên tuổi của sư và Văn Huệ vương.
  150. Văn Huệ vương, tức Trần Quang Triều. Trần Quang Triều (1286-1325) là con trai cả của Trần Quốc Tảng, cháu nội Trần Hưng Đạo, năm 14 tuổi được phong tước Văn Huệ vương. Từ nhỏ ông đã giỏi thi thơ, sau, rút về thành lập nhóm thơ văn Bích Động, gần chùa Quỳnh Lâm. Ông cũng là thí chủ đóng góp tiền để xây dựng chùa Quỳnh Lâm thành đại tổ đình Phật giáo thời Trần.
  151. Nghìn, nguyên văn trong Thanh Mai là chữ Thiên . Tổ bi ghi là Thiên 千, Thực lục ghi là Thiên 阡, Thực lục bản Việt Nam Phật điển tùng san in năm 1943 ghi là thiên 千.
  152. Xâu tiền: nguyên văn chữ Hán âm” mân “, nghĩa là xâu tiền.
  153. Nguyễn Trường, chỉ biết người Vân Động, không rõ lai lịch.
  154. Thôn Vân Động: nguyên văn Vân Động thôn 雲洞村. Thanh Mai và Tổ bi ghi Vân Động thôn. Thực lục, các bản A. 786, cũng như bản Việt Nam Phật điển tùng san in năm 1943 lại ghi là Vân Động lâm 雲洞林, tức rừng (làng) Vân Động.
  155. Tổ bi chỉ ghi ngũ niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Mậu
  156. Thiên Trường: vốn là đất ở làng Tức Mặc, là đất cố hương nhà Trần, sau đổi Thiên Trường phủ, gồm cả Thiên Trường Lộ, thời Lê gọi là phủ Thiên Trường, từ Nguyễn đến nay thuộc tỉnh Nam Định. Hiện nay không biết am Thường Lạc ở đâu.
  157. Cư sĩ Vũ Công ở trang Hoa Lưu, đến nay không rõ lai lịch vị này và địa danh Hoa Luru.
  158. Tuyết Đậu ngữ lục 雪寶語錄. Tuyết Đậu 雪寶 (980-1052), là cao tăng thời Tống, họ Lý, tên tự là Ẩn Chi 隱之, tên hiệu là Trùng Hiển 重顯. Ông là pháp tự của Trí Môn Quang Tộ 智門光祚, kế tục trụ trì chùa Tư Thánh trên núi Tuyết Đậu, chấn hưng tông phong Vân Môn và được coi là vị tổ trung hưng. Ông để lại tác phẩm Tuyết Đậu Minh Giác Thiền sư ngữ lục 雪寶明覺禪師語錄 thường gọi là Tuyết Đậu ngữ lục.
  159. Phổ Huệ tôn giả 普惠尊者: các bản Thực lục đều ghi Phổ Tuệ tôn giả 普慧尊者.
  160. Phong 封, Thực lục, Tổ bị ghi là thảo 討. Có lẽ là cách viết tắt, hoặc nhầm.
  161. Phạm tăng: là từ chỉ những tăng nhân Tây Vực hoặc tăng nhân Ấn Độ, hoặc chỉ người tu hành theo phạm hạnh giữ giới luật thanh tịnh. Sau này, cũng dùng chỉ chung cho tăng nhân xuất gia tu hành theo đạo.
  162. Ban Để Đa Ô Trá Thất Lợi 般底多烏吒室利:chúng tôi đã tra cứu nhiều tài liệu nhưng không rõ lai lịch vị Phạm tăng này. Về chữ Trá 吒, có âm đọc là Sá.
  163. Bạch tản cái thần chú kinh 白傘蓋神咒經: hiện không có quyền kinh nào tên đầy đủ như thế này. Có một số bản trong kinh Mật tông có chữ Bạch tản cái, tuy nhiên không có chữ Thần chú. Chúng tôi cho rằng văn bản về Pháp Loa đã lược bớt tên của bản kinh. Bạch tản cái thần chú kinh, có thể là bản của Đôn Hoàng hiện còn ngày nay: “Đại Phật đỉnh Như Lai đỉnh kế bạch cái đà la ni thần chú kinh” (kí hiệu P.3916). Đây là một trong những bộ trọng yếu của kinh tạng Mật tông.
  164. Vô Phương trưởng lão Trí Tuệ: đến nay không rõ lai lịch. Phần văn bia Thanh Mai mờ, phần Tổ bi chỉ có Vô Phương trưởng lão Trí chí. Thực lục ghi rõ Vô Phương trưởng lão Trí Tuệ chí. Cảnh Tuệ Linh đã bổ sung từ Thực lục. Chúng tôi căn cứ tự dạng cho rằng bản Thực lực đúng.
  165. Hồ Nam: nay là tỉnh Hồ Nam – Trung Quốc.
  166. Tổ bi chỉ ghi lục niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Kỉ Mùi.
  167. Có duyên: nguyên văn: hữu duyên 有緣. Trong Thực lục, các bản đều không có thêm chữ hữu duyên này. Tổ bi cũng có chữ hữu duyên như Thanh Mai.
  168. Đại tạng kinh: không rõ đây là bản Đại tạng kinh nào.
  169. Máu, nguyên văn: ngọc huyết, tức máu ngọc, đây là mĩ từ.
  170. Thu Tử: có lẽ là đệ tử của Pháp Loa, hoặc tăng nhân cùng thời.
  171. Quốc phụ thượng tế, chỉ các quan đứng đầu triều đình.
  172. Chùa Thiên Linh phủ Yên Hoa: chúng tôi chưa khảo cứu ra chùa này và địa danh Yên Hoa hiện nay như thế nào, ở đâu.
  173. Hội 會: Thanh Mai ghi hội rất rõ. Tổ bi ghi là hội mệnh 命. Cảnh Tuệ Linh khảo cứu nhầm là lệnh 令. Thực lục chép là
  174. Giới tại gia: nguyên văn: tại gia giới 在家戒. Tổ bi chép thành: trụ gia giới 住家戒. Chữ tại và chữ trụ, tự dạng gần giống nhau, có thể do người chép hoặc khắc nhầm. Bản Thực lục đã chép đúng.
  175. Sau câu tại gia giới, thì bia Thanh Mai chuyển sang niên hiệu Đại Khánh thứ 7. Tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh căn cứ vào văn bia để bổ sung thêm câu: 華陽,太宗第六公主,降嫁具智王-Hoa Dương là công chúa thứ 6 của Thái Tông, gả cho Cụ Trí vương. Cụ Trí vương 具智王: Thực lục, Tổ bi ghi là Bối Trí vương 貝智王. Đây là do chữ Bối 貝 và chữ Cụ 具 có nhiều điểm giống nhau, văn bản có thể nói là lộn xộn và Cảnh Tuệ Linh đã cho biết trên văn bia không có nhưng căn cứ vào Thực lục để bổ khuyết cho khảo cứu của mình. Chúng tôi căn cứ bia Thanh Mai, và không bổ sung dòng trên.
  176. Công chúa Hoa Dương: như văn bản cho biết là con gái thứ 6 của Thái Tông. Không rõ năm sinh năm mất.
  177. Tổ bi chỉ ghi thất niên, lược niên hiệu Đại Khánh và năm Canh Thân.
  178. Anh Tông mất: nguyên văn: “Anh Tông đăng hà 英宗登遐”. Tổ bi cũng ghi là Anh Tôn đăng hà 英尊登遐. Tuy nhiên Thực lục lại ghi là” Anh Tông đăng quan 英宗登棺”. Đăng hà, chỉ cho vua chết. Như vậy, chúng tôi cho rằng” đăng quan” không đúng, bởi đây chỉ việc nhà vua chết đi, và sau đó mới khâm liệm nhập quan (nhập kim quan) nên ở đây văn bia dùng” đăng hà” mới chính xác.
  179. Kim quan 金棺: chỉ cái quan tài bằng vàng. Ngày nay chỉ cho quan tài nói chung người ta cũng gọi là kim quan. Trong văn bản Thực lục – Tam tổ thực lục, bản in kí hiệu A. 786 tại Viện Nghiên cứu Hán Nôm, sau chữ kim là chữ bên trái bộ mộc 木, bên phải bộ ngôn 言. Chúng tôi không tìm ra chữ này nghĩa là gì. Tuy nhiên, bản Thực lục in trong Việt Nam Phật điển tùng san đã chỉnh lại cho đúng chữ quan 棺. Chúng tôi cho rằng, bản A.786 do người viết và khắc nhìn nhầm nên đã viết quản thành chữ như mô tả trên, vì tự dạng gần giống nhau.
  180. Táng trong đất vàng, nguyên văn bia Thanh Mai: tán hoàng thổ黃土, Nguyên nghĩa chữ Hoàng thổ có hai: (1) là chỉ đất vàng; (2) chỉ phần mộ. Đây có lẽ chỉ phần mộ. Tổ bi cũng ghi là Hoàng thổ. Tuy nhiên, Thực lục các bản in đều ghi thành Trách thổ 責土. Trong khi, Thực lục, bản in trong Việt Nam Phật điển tùng san không chắc chắn nghĩa của chữ Trách thổ nên đã phụ chú bên cạnh ba chữ Khủng thị phần 恐是境 với nghĩa chú thích cho chữ Trách chắc nhầm là chữ phần. Điều này cho thấy bản in lại sau của Việt Nam Phật điển tùng san cũng không chắc chắn về nghĩa của chữ Trách thổ.
  181. Huệ Nhân đại vương: Huệ Nhân 惠人, Tổ bi cũng ghi là Huệ Nhân. Cảnh Tuệ Linh chú thích: nghi là Nhân Huệ đại vương, tức Trần Khánh Dư, là người có công trong cuộc kháng chiến chống quân Nguyên, cho làm em kết nghĩa với nhà vua. Ông mất năm 1339 thời Hiến Tông. Bản Thực lục ghi thành Tuệ Nhân 慧人. Chúng tôi cho rằng, Thực lục các chữ Huệ đều chép thành Tuệ, nên có sự nhầm, và Huệ Nhân là đúng.
  182. Chùa ở núi Vũ Ninh, nguyên văn bia Thanh Mai là: Vũ Ninh sơn tự 武寧山寺: Thực lục ghi là Vũ Đình chỉ tự 武丁之寺. Thanh Mai ghi là Sơn rất rõ ràng. Tổ bi đã nhầm khi cho là Vũ Đinh sơn tự 武丁山寺, Cảnh Tuệ Linh đã dựa vào đây nên nhầm.
  183. Nguyên văn: Bồ đề tâm giới: tức Tam muội da giới. Lấy tự tính thanh tịnh của tâm bồ đề làm giới tính. Người thọ giới này sẽ giữ bốn giới trọng: không được bỏ chính pháp, không được lìa bỏ tâm bồ đề, không sẻn tiếc tất cả pháp, không làm điều gì bất lợi cho chúng sinh. (lược dẫn theo Phật Quang đại từ điển, Thích Quảng Độ dịch)
  184. Tổ bị chỉ ghi bát niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Tân
  185.  Hoài Ninh hầu: căn cứ đoạn văn phía dưới, thì Hoài Ninh hầu là Trịnh Trung Tử. Không rõ lai lịch vị này.
  186. Nguyên văn: Thượng phẩm Hoài Ninh hầu thỉnh sư chú thiên thủ… Trong văn bản Thực lục, Tổ bi không có chữ: thỉnh sư 請師.
  187. Nguyên văn: Chiêu Từ Hoàng thái phi: tức mẹ của Minh Tông, là con gái của Bảo Nghi đại vương Trần Bình Trọng. Trần Bình Trọng là hậu duệ của Hoàng đế Lê Đại Hành.
  188. Viết, nguyên văn: tả 寫. Trong câu: Tả Đại tạng kinh hậu bạt 寫大藏經後跋, chữ Tả không được rõ, tuy nhiên chúng tôi căn cứ vào cùng dòng có chữ Tả phía dưới, cũng là tả Đại tạng kinh, nên đã thấy rõ đường nét tự dạng để xác quyết đây chính là chữ tả 寫. Cảnh Tuệ Linh để ô trống, vì bà không nhìn ra được chữ gì. Trong khi bản Thực lục và Tổ bi đều bỏ qua chữ này.
  189. Hậu bạt, Thực lục và Tổ bị ghi là: hậu kì bạt 後岐跋. Tuy nhiên với câu này, trong Thực lục, bản Việt Nam Phật điển tùng san in nhận định chữ kì 岐 không có ý nghĩa nên đã chuyển thành chữ kì 其 và thành” hậu kì bạt 後其跋 “đồng thời chú thích bên cạnh: cựu tác kì 舊作岐- trước kia viết là kì – chữ Cựu viết dị thể. Tuy nhiên chúng tôi khảo cứu văn bản Thanh Mai cho thấy là: Hậu bạt 後跋.
  190. Chích, nguyên văn: thích 刺. Trong niên hiệu Đại Khánh thứ 6 có việc Anh Tông đích thân chích máu viết Đại tạng kinh. Thực lục và Tổ bi cũng như bản Cảnh Tuệ Linh khảo đều không có chữ Thích 刺 này.
  191. Thượng, Tổ bi thiếu chữ thượng 上 này.
  192. Hậu bạt, nguyên văn: bạt kì hậu 跋其後. Tổ bi cũng ghi bạt kì hậu, với chữ hậu giản và dị thể. Trong Thực lục ghi hậu kì bạt 後其跋. Có sự đảo vị trí vậy.
  193. Quốc phụ thượng tế: chúng tôi cho là chỉ các vị quan đầu triều.
  194. Chùa Sùng Nghiêm: hiện nay không rõ. Linh Sơn, theo chú thích của Cảnh Tuệ Linh thì là chỉ Chí Linh. Như thế chùa này ở một núi thuộc Chí Linh.
  195. Cùng truyền cho […] vương giới Bồ Tát xuất gia, nguyên văn: cập thụ phong […] vương xuất gia Bồ Tát giới. Câu này trong Thực lục, Tổ bi không có, mà chỉ có trong văn bia Thanh Mai, tuy nhiên mờ không đọc được. Bản Cảnh Tuệ Linh cũng không đọc được nên để ba ô trống.
  196. Chùa Hiển Linh Diên Quang, không rõ ở đâu.
  197. Tổ bi chỉ ghi cửu niên, lược đi niên hiệu Đại Khánh và năm Nhâm Tuất.
  198. Hoài Ninh hầu Trịnh Trung tử. Cảnh Tuệ Linh chú đại ý là Trịnh Trung Tử, sự tích trong Đại Việt sử kí toàn thư có nói đến vào năm Hưng Long thứ 18 (1310), là người giỏi giang, đa nghệ, tuy nhiên cũng không rõ lai lịch.
  199. Hoài Ninh, nguyên văn là Hoài Ninh 懷寧, thiếu chữ Hầu. Bản Thực lục, bản Cảnh Tuệ Linh, bản Tổ bi đều có chữ Hầu thành Hoài Ninh hầu. Chúng tôi khảo cứu đúng theo văn bia Thanh Mai là không có chữ Hầu.
  200. Đến, nguyên văn: tựu 就 trong câu Đề sớ thỉnh tựu Siêu Loại Báo Ân tự… Trong Thực lục không có chữ tựu này, Tổ bi thì có.
  201. Khoảng, nguyên văn: vô lự 亡慮. Tổ bi và Thanh Mai đều dùng chữ 亡. Thực lục chép thành忘
  202. Chùa Xí Thịnh Quang, không rõ chùa hiện ở đâu.
  203. Pho, nguyên văn: khu – bộ thân 身 và chữ lập 立, viết giống chữ khưu 丘. Tra Khang Hy tự điển, chữ dị thể như trên chính là chữ khu 軀. Thực lục, Tổ bi, bản Cảnh Tuệ Linh khảo đều đánh thành chữ khu 軀. Chúng tôi không đánh máy được chữ đó nên dùng chữ khu 軀.
  204.  Hoàng thái hậu Bảo Từ: vợ của Anh Tông, tức phu nhân Thánh Tư. Anh Tông xưa lấy con gái đầu của đại vương Hưng Nhượng và quốc mẫu Bảo Huệ, khi lên ngôi thì bỏ, lại lấy em gái của Văn Đức làm phu nhân Thánh Tư. Năm Hưng Long thứ 17 (1309) thì phong Thánh Tư làm hoàng hậu Thuận Thánh. Năm Hưng Long thứ 22 (1321) lại phong làm Thái thượng hoàng hậu Thuận Thánh Bảo Từ. Anh Tông mất, năm Đại Khánh thứ 8 (1321) vua Minh Tông phong bà làm Hoàng thái hậu Thuận Thánh Bảo Từ. Năm Hiến Tông Khai Hựu thứ 2 (1330) bà mất. (Lược dịch chú theo Cảnh Tuệ Linh trên căn cứ sách Hiệu hợp bản Đại Việt sử kí toàn thư)
  205. Quốc mẫu Bảo Huệ: bà là Thái hậu Bảo Từ, mẹ của Tư đồ Văn Huệ vương, vợ của Hưng Nhượng vương Quốc Tảng, xem sách Hiệu hợp bản Đại Việt sử kí toàn thư trang 413. Chúng tôi dựa chú thích của Cảnh Tuệ Linh và có kiểm duyệt.
  206. Công chúa Bảo Vân: không rõ lai lịch.
  207. Uy Huệ vương: theo Cảnh Tuệ Linh thì có hai thuyết về Uy Huệ Vương. Tuy nhiên, cũng không rõ ràng.
  208. Đái vương Quán Thượng vị Chương Nhân hầu: không rõ lai lịch. Cảnh Tuệ Linh chú thích cũng chỉ suy diễn mà chưa chứng thực được qua sử liệu.
  209. Cụ Uy hầu: Thanh Mai ghi: Đái vương Quán Thượng vị Chương Nhân hầu, Thượng vị Cụ Uy hầu. Trong khi Thực lục ghi thành Đái vương Quán Thượng vị Hưng Uy hầu, cứ như là ghép hai tên thành một. Tổ bi lại ghi thành: Đái vương Quán Thượng vị dữ Uy hầu. Về Cụ Uy hầu, thì cũng không rõ lai lịch thế nào. Chúng tôi theo bia Thanh Mai.
  210. Hoài Ninh Trịnh Trung tử. bia Thanh Mai mặt sau (rất rõ) đã ghi như thế. Nhưng Thực lục, Tổ bi, bản Cảnh Tuệ Linh khảo đều ghi là Hoài Ninh hầu, tức thêm chữ Hầu so với bia Thanh Mai. Chúng tôi căn cứ thác bản.
  211. Đoàn công Nhữ Hài, tức Đoàn Nhữ Hài, theo Lịch triều hiến chương loại chí, phần lai lịch Đoàn Nhữ Hài cho biết ông người Trường Tân, Gia Phúc, trong triều Anh Tông, làm quan Ngự sử Trung tán khi còn trẻ, có lẽ sang thời Minh Tông ông nhận chức Hữu bật. Đây là chức to trong triều, chỉ nhỏ hơn chức Tể tướng thời Trần.
  212. Đặng Thành 鄧誠: không rõ lai lịch. Tổ bi cũng ghi là Đặng Thành 鄧誠. Thực lục ghi Đặng Thành 鄧成.
  213. Tán 贊, Tổ bi dùng Tán như Thanh Mai. Riêng Thực lục đều ghi là tán 讚. Hai từ này vẫn dùng thông nhau được.
  214.  Tăng Trừng Chiếu: đến nay không rõ lai lịch.
  215. Chùa Phổ Quang ở Nghĩa Trụ: chùa Phổ Quang đến nay cũng không rõ còn hay mất. Nghĩa Trụ, có thể là địa danh gắn trước tên chùa trong văn bản thường thấy và có thể nay là xã Nghĩa Trụ huyện Văn Giang tỉnh Hưng Yên.
  216. Chủ trì việc đó, nguyên văn: Chủ kì (tri} sự 主其[知]事. Bia Thanh Mai mờ; Thực lục không có chữ tri. Tổ bi có chữ tri. Chúng tôi căn cứ Tổ bi để bổ sung, nghi vấn nên đặt trong ngoặc. Bản Cảnh Tuệ Linh khảo để ô vuông, có lẽ bà không xem Tổ bi.
  217. An Long: không rõ địa danh này nay thuộc nơi nào.
  218.  Kinh Thủ lăng, nguyên văn: Thủ lăng kinh 首楞經, đây là cách nói tắt của Thủ lăng nghiêm kinh, tên đầy đủ là Đại Phật đỉnh Như Lai mật nhân tu chứng liễu nghĩa chư Bồ Tát vạn hạnh thủ lăng nghiêm kinh 大佛頂如來密因修證了義諸菩薩萬行首楞嚴經,còn gọi là Đại Phật đỉnh thủ lăng nghiêm kinh 大佛頂首楞嚴經,Đại Phật đỉnh kinh 大佛頂經,Lăng nghiêm kinh 楞嚴經. Tổ bị nhầm thành Bách lăng kinh 百楞經, có lẽ do chữ bách với chữ thủ gần giống nhau về tự dạng.
  219. Tứ phần luật 四分律: tiếng Phạn là Dharmagupta-vinaya. Sách gồm 60 quyển, do Phật Đà Da Xá 佛陀耶舍 và Trúc Phật Niệm 竺佛念 cùng dịch ở Trường An thời Diêu Tân (410-412), được sưu tập trong sách số 22 của bộ Đại chính tân tu Đại tạng kinh.
  220. Bản 本, trong câu: Phàm ngũ thiên dư bản 凡五千餘本. Thực lục ghi là quyển 卷. Trong khi Tổ bi thì không có từ Quyển cũng như Bản, mà dừng lại nội dung: phàm ngũ thiên dư tế 凡五千餘祭, do đã nhầm chữ Tế với chữ Bản.
  221. Nguyên văn: Tiên Du sơn Quốc sư Tông Kính, không rõ về lai lịch vị sư ở Tiên Du – Bắc Ninh, có lẽ là đệ tử của Nhân Tông.
  222. Nguyên văn: Vũ Ninh sơn Quốc sư Bão Phác, cũng không rõ về lai lịch Bão Phác, chỉ biết ông là đệ tử Nhân Tông. Địa danh núi Vũ Ninh được các nhà nghiên cứu cho là núi Trâu, thuộc huyện Quế Võ, tỉnh Bắc Ninh.
  223. Nguyên văn: Đại Khánh thập niên Quý Hợi. Tổ bị ghi thập niên, lược bỏ niên hiệu Đại Khánh và năm can chi Quý Hợi. Ngay sau niên đại, Thực lục và Tổ bi đều có thêm câu: sư tử thập tuế 師四十歲,và Cảnh Tuệ Linh trong khảo sát dựa vào Thực lục để đưa vào. Như thế là không bám sát bia Thanh Mai, trong khi bia Thanh Mai không có câu này.
  224. Và Uy Huệ vương, nguyên văn: cập Uy Huệ Vương 及威惠王. Thực lục không có chữ cập này. Tổ bi không có cả cụm” cập Uy Huệ vương”.
  225. Nguyên văn: Siêu Loại Báo Ân tự 超類報恩寺,Tổ bi chỉ ghi Siêu Loại Báo, mà bỏ chữ Ân tự. Các bản khác đủ.
  226. Bồ Tát giới 菩薩戒, Thực lục và Tổ bi đều nhầm thành Bồ đề giới 菩提戒,
  227. Nhận pháp Quán đỉnh, nguyên văn: quán đỉnh thụ pháp. Đây là một nghi thức trong Mật tông. Khi có một đệ tử mới nhập môn hoặc người kế thừa pháp, vị sư phụ dùng nước có trì chú rảy lên đỉnh đầu, tượng trưng cho nước từ bi của chư Phật hộ niệm, sẽ đạt được Phật quả tối thượng. Về nghi thức thì có rất nhiều phương pháp khác nhau.
  228. Có lẽ sách này chú thích cho Kim cương tràng đà la ni kinh 金剛場陀羅尼經 do Xà Na Quật Đa 闍那崛多 dịch thời Tùy. Pháp Loa soạn chú khoa sớ cho sách trên mà thôi. Không rõ hiện nay sách còn tồn tại hay không. Thực lục không có chữ Ni尼.
  229. San khắc ấn hành, nguyên văn: san bản ấn hành 刊板印行. Thực lục ghi thành khan bản ấn hành 看板印行. Nay khảo theo thác bản bia Thanh Mai.
  230. Niết bàn đại kinh khoa sớ, không rõ là bản nào. Về Niết bàn kinh thì có nhiều bản dịch, nhưng không có bản nào ghi là Niết bàn đại kinh. Còn khoa sớ, có thể do Pháp Loa hiệu đính, san định lại. Cảnh Tuệ Linh cho rằng có thể chính là bản Niết bàn kinh trị định số khoa 涅盤經治定疏科 của Trí Viên 智圓 thời Tổng. Hiện không có chứng cứ văn bản để khảo.
  231. Định bản, nguyên văn: định 定, trong câu Định Pháp hoa kinh khoa sớ. Thực lục không có chữ định này.
  232. Pháp hoa kinh khoa sớ: Cảnh Tuệ Linh cho rằng đây là nói đến sách Diệu pháp liên hoa kinh khoa chú của Thủ Luân thời Tống, dựa trên từ điển Đinh Phúc Bảo. Như thế, Cảnh Tuệ Linh đã cho rằng Pháp Loa đã làm sớ lại cho khoa Diệu pháp liên hoa kinh, e là chưa chính xác. Chúng tôi cho rằng Pháp Loa đã soạn ra một khoa sớ riêng cho kinh Pháp hoa để người trong nước học tập. Tuy nhiên cũng chỉ là dự đoán, bởi kinh Pháp hoa, còn gọi là Diệu pháp liên hoa kinh, gồm 7 hoặc 8 quyển, do Cưu Ma La Thập dịch thời Diêu Tần đã được rất nhiều nhà chú sớ và văn bản truyền đến Việt Nam là bản nào và bản khoa sớ này đến nay chúng ta chưa từng nhìn thấy nên rất khó đoán định.
  233. Lăng Già tử quyển khoa sớ: bản khoa sớ này đến nay chưa thấy, nhưng về Lăng Già tứ quyền chính là kinh Lăng Già a bạt đa la bảo kinh 楞伽阿跋多羅寶經, 4 quyển, do Cầu Na Bạt Đa La 求那跋陀羅 thời Lưu Tống dịch. Bản diễn nghĩa, đến nay chưa biết còn hay mất.
  234. Bát nhã tâm kinh khoa sớ cùng soạn chú. Về Bát nhã tâm kinh, có rất nhiều bản dịch khác nhau, hiện nay thống kê được 12 bản dịch. Thường thì bản của Huyền Trang 玄奘 là phổ biến nhất. Bát nhã tâm kinh, tên đầy đủ là Ma ha bát nhã ba la mật đa tâm kinh 摩訶般若波羅蜜多心經,thường gọi tắt Bát nhã kinh, Tâm kinh. Các bản chú sớ cũng nhiều, nhưng cũng có thể là dùng bản lược sớ của Pháp Tạng dịch vào thời Đường. Ngoài ra, văn bản Thực lục không có chữ chú 註 trong từ soạn chú.
  235. Pháp sự khoa văn: không rõ có phải Pháp sự khoa nghi không?
  236. Độ môn trợ thành tập: không rõ sách này còn không.
  237. Năm Khai Thái nguyên niên là năm đầu niên hiệu Trần Minh Tông.
  238. Phủ Kiến Xương, nay thuộc địa phận huyện Kiến Xương tỉnh Thái Bình.
  239. Hội thứ 6: nguyên văn là đệ lục hội 第六會. Tổ bi, Thực lục đều ghi là: đệ ngũ hội 第五會, tức hội thứ 5. Căn cứ bia Thanh Mai, giữ nguyên là hội thứ 6.
  240. Lễ hội Khánh tán đạo tràng điểm nhãn cho, nguyên văn bia Thanh Mai: khánh tán đạo tràng điểm nhãn hội 慶讚道場點眼會 là hội tổ chức ở chùa mừng lễ an vị tượng Phật, đồng thời các lễ hô thần nhập tượng v.v… mà ngày nay vẫn thịnh hành ở các chùa chiền. Tổ bi, Thực lục đều ghi là: Khánh tán điểm nhãn đạo hội.
  241.  Phủ đệ Dưỡng Phúc, nguyên văn: Dưỡng Phúc đệ. Đây là phủ đệ của bà Bảo Huệ. Chúng tôi không khảo cứu được thêm.
  242. Đa Mạn, gọi theo tên chữ Nôm, không rõ địa danh này nay ở đâu. Thực lục khuyết chữ Mạn.
  243. Thượng vị Chương Văn hầu, không rõ lai lịch, có thể cùng thế hệ với các vị Thượng vị Cụ Uy hầu… như đã chú thích ở trên.
  244. Chùa Kinh Hào, chưa rõ chùa này hiện nay là chùa nào.
  245. Điện Động Thiên, chưa rõ điện này ở đâu.
  246. Thu Tử: trong văn bia Thanh Mai, chữ thu khi thì viết là 鶩, khi thì viết là 秋. Bản Tổ bị đều ghi là thu . Còn bản Thực lục thì ghi thành Thứu Tử 鷲子. Bản Thực lục in do Việt Nam Phật điển tùng san in thì chú bên cạnh chữ Thứu Tửnghi ngờ là chữ vụ 6, e là càng nhầm.
  247. Thái thượng hoàng đế, đây chỉ Minh Tông Hoàng đế. Tháng 9 năm 1325, đây là giai đoạn Minh Tông tại vị, tuy nhiên, Anh Tông đã mất từ năm 1320. Đến năm 1329, Minh Tông mới nhường ngôi cho Hiến Tông. Bia này dựng năm 1362, thời cháu của Minh Tông là Dụ Tông, nên phần nội dung trong bia, khi viết Thái thượng Hoàng đế là chỉ Minh Tông.
  248. Thái thượng hoàng để chiếu chỉ cho sư đến, nguyên văn: Thái thượng Hoàng để chiếu tựu 太上皇帝詔就. Thực lục thêm hai chữ cơ thỉnh 姬請,thành: Thái thượng Hoàng đế cơ thỉnh tựu 太上皇帝姬請就, rõ ràng có sự sai biệt với bia Thanh Mai cũng như Tổ bi.
  249. Nguyên văn: Khai Thái tứ niên Đinh Mão, Tổ bị ghi tứ niên, lược đi niên hiệu Khai Thái và năm can chi Đinh Mão.
  250. Yên Mã, Vĩnh Khê, Hạc Lai, hiện không rõ các am này ở đâu. Vĩnh Khê 永溪, Tổ bi, Thực lục ghi thành Thị Khê 示溪.
  251. Nguyên văn: Khai Thái ngũ niên Mậu Thìn, Tổ bi ghi ngũ niên, lược đi niên hiệu Khai Thái và năm can chi Mậu Thìn.
  252. Nguyên văn: chuyển tạng đại trai. Chuyển tạng là đọc sơ qua ý nghĩa trong Đại tạng kinh. Nghĩa của cụm từ là lập trai đàn lớn thỉnh chư tăng khắp nơi về cúng dường, cầu nguyện rồi chuyển tạng.
  253. Thái thượng hoàng, chỉ Minh Tông Hoàng đế, như đã chú thích ở trên.
  254. Nhân vương hộ quốc nghi quỹ, đây chính là cách gọi tắt của Nhân vương hộ quốc bát nhã ba la mật đa kinh đạo tràng niệm tụng nghi quỹ 仁王護國般若波羅蜜多經道場念誦儀軌, còn gọi là Nhân vương hộ quốc bát nhã nghi quỹ, Nhân vương niệm tụng nghi quỹ, do Bất Không dịch vào thời Đường. Sách là nghi quỹ Mật giáo, chia làm 5 khoa nghi, dùng phổ biến trong các nghi lễ của Phật giáo.
  255. Khai Hựu nguyên niên Kỷ Tỵ: đây là niên hiệu của Trần Hiến Tông (1329-1341).
  256. Côn Sơn, tức chùa ở Côn Sơn, còn gọi Thiên Tư Phúc tự, chùa Hun, ở phường Cộng Hòa, Chí Linh, Hải Dương.
  257. Thanh Mai sơn: núi Thanh Mai, chỉ chùa trên núi Thanh Mai có bia Thanh Mai Viên Thông tháp bi này. Chùa ở xã Hoàng Hoa Thám – Chí Linh – Hải Dương.
  258. Quốc phụ thượng tế, tức Trần Quốc Chân, là cha của hoàng hậu Lệ Thánh vợ vua Minh Tông, ông là con của Trần Nhân Tông, là em của Anh Tông, năm Hưng Long nguyên niên (1293) ông được phong Huệ Vũ đại vương, năm 1324 được liệt vào vị trí Quốc phụ thượng tể.
  259. Công chúa Tuyên Chân, không rõ lai lịch.
  260. Chiêu Huân vương, không rõ lai lịch.
  261. Công chúa Lệ Bảo, không rõ lai lịch.
  262. Dẫn 引, Thực lục, Tổ bi đều ghi là thăng 升.
  263. Tháp Thắng Tư Thiên, tức tháp Đại Thắng Tư Thiên, tức Báo Thiên tháp, là tháp ở chùa Báo Thiên được Lý Thánh Tông cho xây dựng vào năm 1057, và tồn tại trong gần như toàn quá trình lịch sử thời phong kiến.
  264. Thành lập đoàn thể tăng hơn 200 nơi, độ hơn 1 vạn 5 nghìn tăng ni, nguyên văn: lập tăng nhị bách dư danh, độ tăng ni nhất vạn ngũ thiên dư nhân. Thực lục đã có sự sai lệch khi chép thành: lập tăng nhị bách dư sở các, độ tăng ni nhất vạn ngũ thiên dư nhân. Cho thấy đã nhầm chữ danh 名 thành chữ Các 各, và đành thêm vào chữ Sở 所 cho phù hợp. Trong khi Tổ bị đã ghi đúng như Thanh Mai.
  265. Một bộ Đại tạng kinh, nguyên văn Đại tạng kinh nhất bộ 大藏經一部. Thực lục, Tổ bi đều thiếu chữ kinh, chỉ ghi Đại tạng nhất bộ 大藏一部.
  266. Hơn 30 người, nguyên văn: tam thập dư nhân 三十餘人. Thực lục ghi thành tam thiên dư nhân – hơn 3000 người, cho thấy sự sai biệt với văn bia Thanh Mai và Tổ bi.
  267. Đã, nguyên văn: dĩ E. Thực lục ghi thành đĩ以, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  268. Huệ Nhiên, Huệ Chúc, Hải Ấn: Thực lục ghi thành Tuệ Nhiên, Tuệ Chúc, Hải Ân, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  269. Văn Kiến 文見, Thực lục ghi thành Kiến, và chấm câu trước chữ kiến, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai Viên Thông tháp bi và Đệ nhị đại tổ bì.
  270. Tổ bi chỉ ghi nhị niên trong câu Khai Hựu nhị niên Canh Ngọ.
  271. An Lạc Kiên Đức, không rõ lai lịch.
  272. Nguyên văn: An Lạc tàng viện, không rõ địa điểm này ở đâu.
  273. Hoa nghiêm kinh, Thực lục ghi thiểu 3 chữ này mà ghi luôn giảng các hội, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  274. Đà giang 沱江, sông Đà, đây chỉ việc vua đi chinh phạt man di ở miền thượng sông Đà. Thực lục chép nhầm thành Nê Giang 泥江.
  275. An Lạc, chính là An Lạc tàng viện như chú thích là địa điểm của An Lạc Kiên Đức. Tổ bị ghi nhầm thành An Dưỡng 安養.
  276. Bích Phong trưởng lão, không rõ lai lịch. Thực lục ghi 碧 thành .
  277. Bệnh cảm gió, nguyên văn: phong tật 風疾. Thực lục ghi nhầm tự dạng thành: phàm tật 凡疾.
  278.  Gió thổi qua, nguyên văn: phong quá 風過. Thực lục, Tổ bi đều thiếu chữ quá .
  279. Không khỏi: nguyên văn: bất sưu 不瘳. Đệ nhị tổ niên phả thực lục ghi thành: bất liệu 不療, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  280. Huyền Quang liền đi ra ngoài, nguyên văn: Huyền Quang tiện xuất khứ 玄光便出去. Thực lục ghi thiểu chữ khứ 去. Tổ bi thì ghi thừa chữ viết và thiếu chữ khứ, thành ra: Huyền Quang viết tiện xuất khứ.
  281. Dưỡng bệnh, nguyên văn: ngọa bệnh 臥病. Thực lục, Tổ bi đều thiếu chữ bệnh.
  282. Bệnh lại trở nặng, nguyên văn: tật phục cức 疾復亟. Thực lục ghi thành bệnh phục cức 病復亟, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  283. Giữ gìn, nguyên văn: hộ trì 護持. Thực lục ghi thành: hộ đặc 護特,cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  284. Sau đó, nguyên văn: thị hậu 是後、Thực lục, Tổ bi đều ghi thành tiên hậu 先後.
  285. Viết cho hết, nguyên văn nhất nhất, từng người một đều được viết cho. Tổ bi không ghi hai chữ nhất nhất này.
  286. Và, nguyên văn: cập 及. Thực lục, Tổ bi đều ghi thành: nhược 若.
  287. Hơn 30 vị, nguyên văn: tam thập dư nhân. Thực lục ghi thành: tam thiên dư nhân – hơn 3000 người, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  288. Tháng 3, nguyên văn: tam nguyệt 三月. Tổ bị bị thiếu.
  289. Nếu nói, nguyên văn: nhược vị 若謂. Thực lục ghi thành: vi 為
  290. Như xem sắc mặt, nguyên văn: nhược sát sắc 若察色. Tổ bi, Thực lục đều thiếu chữ sắc.
  291. Chẩn trị, nguyên văn: chẩn trị 診治. Tổ bi ghi thành: ư trị 於治. Thực lục ghi thành: lai trị 來治.
  292. Đều, nguyên văn: giai 皆. Thực lục ghi thành: gia 加, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  293. Uống thuốc, nguyên văn: phục kì dược 服其藥. Thực lục ghi thành: phục kì dược 復其藥 cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  294. Y tía vua ban, nguyên văn: tứ tử 賜紫. Đây là áo của người có đức độ danh vọng trong triều đại phong kiến, được triều đình ban áo màu tía như một vinh dự. Đây chỉ cho cà sa màu tía vua ban cho các cao tăng đức độ. Pháp Loa bảo Thu Tử đắp y tía đi gặp vua, để dâng bài kệ là đúng triều phục.
  295. Nguyên văn: di tấu 遺奏: tờ tâu vua của bề tôi trước lúc chết.
  296. Thượng phẩm phụng ngự: là chức quan trong triều đình, ở đây là chức quan về y học, thái y, chuyên chữa bệnh. Đàm Côi 譚檜, không rõ lai lịch. Chữ Đàm trong Thực lục ghi thành Đàm罩.
  297. Xem mạch: nguyên văn: chẩn mạch 胗脈. Thanh Mai, Thực lục và Tổ bị đều dùng từ chẩn 胗. Bản Cảnh Tuệ Linh khảo dùng chẩn 診. Tuy rằng nghĩa có thể thông nhau, nhưng văn đúng phải là chẩn 胗.
  298. Triệu chứng sắp chết, nguyên văn: cấp tử chứng 及死證. Tổ bị viết chữ chứng giản thể, nhưng đã nhầm thành: chú 註
  299. Giờ Hợi, nguyên văn: Hợi thời 亥時. Tổ bị viết chữ hợi đã nhầm thành huyền thành Huyền thời 玄時.
  300. Cổ nhân đến đây thì buông đi là tốt hay nắm ở lại là tốt, nguyên văn: Cổ nhân đáo giá lí phóng hành hảo, bả trụ hảo. Tổ bị viết thiếu, chỉ còn: Cổ nhân đáo giá lí phóng hành hảo bả. Thực lục cũng viết thành: Cổ nhân đáo ngôn lí phóng hành hảo, bả trụ hảo.
  301. Tiến đến hỏi, nguyên văn: tiến vân. Tổ bi bị mờ, thực chất là người viết lại văn bia đã dựa vào bản bị mờ, nên chép vào không đủ đoạn này. Bắt đầu từ sư viết, thì mất chữ và mất một đoạn so với văn bản Thực lục cũng như Thanh Mai. Tổ bị chép: Sư viết: bất… bất can thời (thìn) như hà? Trong khi nội dung của văn bia Thanh Mai: Tổng bất can. Tiến vân: Tổng bất can thời như hà, thì cho thấy Tổ bi đã thiếu phần đầu câu trên chữ Tổng, và phần sau chữ Bất là 4 chữ: can. Tiến vân: Tổng. Ngoài ra, Thực lục đã chép thành: tiến vân vân 進云云, so với văn bia Thanh Mai và nội dung hợp lí của câu văn thì đã thừa một chữ: vân.
  302. Tát bà ha 薩婆訶: câu này thường dùng cuối câu thần chú. Tát bà ha nghĩa là thành tựu, cát tường, viên tịch, tiêu tai tăng lợi ích,… chỉ cảnh giới viên mãn của việc đạt đến ngộ thiền. Đây cũng chỉ cho việc giờ viên tịch đã đến. (lược dịch từ Phật Quang đại từ điển)
  303. Tổ bị thiếu chữ bà 婆, trong câu: tùy xứ tát bà ha 隨時薩婆訶.
  304. Viết lớn rằng: nguyên văn: tả vân 寫云. Thực lục ghi: tả vân vân 寫云云, cho thấy sự sai biệt với Thanh Mai và Tổ bi.
  305. Bài thơ này, Tổ bi thiểu: Vạn duyên tiệt… nhất thân khổn (), Tứ thập dư niên…… Trân trọng chư nhân hưu tá vấn, Na biên phong nguyệt cánh tiếu (更諧) khoan. E là văn bản Tổ bi đã chép nhầm. Thực lục thì chép câu cuố lài: Na biên phong nguyệt cánh mại khoan, nhưng viết chữ mại không rõ ràng, như chữ mãn ở trong lòng bộ quai xước 辵.
  306. Toàn thân 全身, Thực lục ghi thành Tiền thân 前身. Tổ bi chép: Môn…từ dĩ nguyên thân 原身, vừa thiếu vừa khác. Ba bản có ba cách viết khác nhau.
  307. Vấn đáp 問答, Thực lục ghi thành: 間答,Tổ bi cũng ghi là vấn đáp như bia Thanh Mai.
  308. Bốn chúng, nguyên văn: tứ chúng 四衆. Đây chỉ cho bốn chúng đệ tửcủa đức Phật là: tỳ khiêu, tỳ khiêu ni, ưu bà tắc, ưu bà di; hoặc chỉ bốn chúng xuất gia, gồm tỳ khiêu, tỳ khiêu ni, sa di, sa di ni…
  309. Bốn chúng đảnh lễ rồi về, nguyên văn: tứ chúng lễ tạ nhi quy. Thực lục, Tổ bi đều ghi thành: tứ chúng tứ bái tạ nhi quy.
  310. Thực lục, Tổ bi đều ghi thành: Tịnh Trí tôn giả. Tổ bị bị mờ chữ giả, hoặc là không có chữ khi tác giả không khảo được.
  311. Và, nguyên văn: tịnh #, Tổ bi hoặc mờ mất hoặc không khắc chữ tịnh này. Chúng tôi căn cứ trên thác bản Thanh Mai.
  312. Tổ bi, mất chữ thùy thủ, chỉ còn trần hoàn dĩ liễu duyên.
  313. Y vàng, nguyên văn: kim lũ 金縷, tức y bằng lụa màu vàng, chỉ áo cà sa vua ban. Tổ bi ghi là: kim lâu 金樓.
  314.  Điều Ngự, nguyên văn Giác vương 覺王: tức vị vua giác ngộ, còn gọi là Giác hoàng, đây chỉ cho Điều Ngự Giác Hoàng.
  315.  Câu này chỉ Nhân Tông truyền cho Pháp Loa, và Pháp Loa truyền cho Huyền Quang. Đều có người để truyền thừa kim lũ.
  316.  Chôn giày, nguyên văn: tàng lí 藏履. Đây là điển tích Đạt Ma tổ sư sau khi viên tịch, đã an táng xong, khi đó có hai đệ tử đi Thiên Trúc thỉnh kinh về, khi qua sa mạc, gặp Đạt Ma vai quảy một chiếc giày, đi như bay. Trở về, hai người kể lại cho triều đình và tiến hành khai mộ. Quả nhiên chỉ còn một chiếc giày. Đây ý chỉ đã chứng ngộ, thăng siêu cõi Phật như Đạt Ma, còn dấu để lại là hình tướng như chiếc giày mà thôi.
  317. Ve thoát xác, nguyên văn: xác thuế thiên 殼蛻蟬. Ý nói giải thoát thành tiên. Ở đây chỉ sự ra đi giải thoát của ngài Pháp Loa.
  318. Nhân duyên hội ngộ đặc biệt, nguyên văn: tương đâu châm giới 相投針芥 . Đây vốn là thành ngữ: Châm giới tương đầu 針芥相投. Duyên kim cải, nghĩa là hột cải ném ra ghim trúng đầu mũi kim, là một chuyện khó xảy ra. Nhà thiền mượn cụm từ này để chỉ nhân duyên thầy trò khế hợp thật đặc biệt hiếm thấy. (Từ điển Thiền tông).
  319.  Lệ tràn đầy, nguyên văn: lệ huyễn nhiên 淚泣然. Thực lục ghi thành: thế lệ huyền 涕淚紘. Đồng thời thêm chữ nhiên phía sau chữ huyền để vào câu mới. Đồng thời bỏ qua câu: Hơn 30 đệ tử được liệt kê trong biểu đồ mà chuyển luôn vào nội dung. Vào nội dung với chữ Nhiên 然, mặc nhiên thành tên người và kết cấu của câu đoạn này đã bị lẫn. Tổ bi đã ghi thành lệ huyễn nhiên, nhưng cũng không có câu: Hơn 30 đệ tử mà vào thảng nội dung giống với phần nội dung bia Thanh Mai.
  320. Tổ bi, Thực lục đều thiếu câu này.
  321. Côn Sơn là Quang, nguyên văn: Côn Sơn Quang. Đây chỉ Thiền sư tên Quang tức Huyền Quang, ở Côn Sơn. Phía sau, trong phần ghi đệ tử này, đều ghi tên địa danh trước, ghi tên người sau.
  322. Diễn 演, Thực lục chép thành Diễn 衍. Tổ bi chép Diễn 演 như bia Thanh Mai.
  323. Ngân 銀, Tổ bị chép thành Nhãn 眼.
  324. Khai 開, Thực lục chép thành Nhãn 眼.
  325. Nguyên: Tổ bị bị mờ chữ.
  326. Quán 觀, Thực lục chép thành Quản 管.
  327. Khoáng 曠, chữ trên thác bản Tổ bi mờ, tuy nhiên chỉ có một chữ, có thể là Khoáng. Thực lục ghi thành Quỳnh Lâm Sáng 瓊林創.
  328. Thánh Am, tức chùa Thánh Am 聖庵, nay thuộc xã Thanh Thủy, huyện Thanh Oai, Hà Nội. Chùa có tấm bia thời Trần, cũng như hệ thống tượng pháp cổ. Đây có thể coi là một trong những chùa dòng Trúc Lâm Yên Tử còn đến ngày nay. Tổ bi, Thực lục đều nhầm chùa Thánh Am thành chùa Tuyết Am 雪庵. Vấn đề ở chỗ Thực lục đã chép nối tên Khoáng của Quỳnh Lâm Khoáng vì chèn chữ Sáng thành Quỳnh Lâm Sáng nên đấy chữ Khoáng xuống dòng tiếp thành Khoáng Tuyết Am và ngắt câu, vô hình trung Am thành tên một người, rồi đẩy tiếp chữ Quang xuống dòng tiếp, và bỏ trống một chữ mà đáng ra sẽ là chữ Không trong câu Không Am Tính và tạo thành Quang Am Tính. Đây là sự lộn xộn của người làm văn bản. Tổ bi thì nhầm chùa là Tuyết Am, thành ra Tuyết Am Khoáng.
  329. Chữ Quang của Thánh Am Quang bị Thực lục đẩy xuống dòng tiếp nên dẫn đến để phù hợp đã khuyết chữ trong tên của người tiếp theo là Không Am Tính đã dẫn đến Quang Am Tính mà bỏ trống chữ Không, làm mất chữ Không. Trong khi văn bản Thực lục thì chữ Tính bị mờ hoặc mất chữ.
  330. Phổ Minh Chi: Phổ Minh tức chùa Phổ Minh, còn gọi là chùa Tháp, ở thôn Tức Mặc, thành phố Nam Định. Chùa Phổ Minh là một chùa nổi tiếng trong lịch sử Phật giáo Việt Nam, vậy mà tác giả phần văn bản Thực lục đã chép Phổ 普 thành Phả 頗.
  331. Thực lục chép là Thiên Trinh trưởng công chủ, nhưng thêm bộ ngọc bên
  332. Tố Am là Dụ, nguyên văn: Tố Am Dụ. Thực lục ghi thành Tố Am Khuếch. Như thế vô hình chung đã làm mất chữ Dụ trong câu Tố Am Dụ, và đưa chữ Khuếch của dòng sau vào.
  333. Khuếch Sơn là Khôi, nguyên văn: Khuếch Sơn Khôi. Thực lục, như chú thích phía phía trên về Tổ Am Dụ, đã thành Tố Am Khuếch, dẫn đến, phần Khuếch Sơn Khôi đã thiếu nội dung mà chỉ còn Sơn Khôi.
  334. Tri Sơn là Nhãn, nguyên văn: Tri Sơn Nhân 菑山眼. Đệ nhị tổ niên phả thực lục cũng như Đệ nhị đại tổ bi đều chép thành Tích Sơn Nhân 昔山眼.
  335. Di 頤, Tổ bị chép thành chữ quý 貴 bên phải, một bộ bên trái như chữ thần 臣, ghép lại thật khó đọc ra chữ gì!
  336. Hư Đường là Triệt, nguyên văn Hư Đường Triệt 虛堂徹. Thực lục ghi Hư Đường Tiệt 虛堂截.
  337. Đại tôn giả 大尊者,Thực lục chép bỏ trống giữa Đại và Giả, thành Đại giả 大者. Điều này cho thấy tác giả văn bản đã không đọc, kiểm duyệt được hoặc người viết người khắc đã bỏ trống. Trong khi Tổ bi chép thành Thiên Tôn giả 天尊者.
  338. Ban hàng quan, nguyên văn: quan tứ 官賜. Thực lục ghi thành: quán tứ 觀賜. Trong khi Tổ bi cũng đã chép đúng là quan tứ 官賜,
  339. Cửa nhà, nguyên văn: hộ xá 戶舍. Tổ bi cũng như bia Thanh Mai đều ghi là Hộ xá 戶舍. Thực lục ghi thành Hộ kim 戶金. Có lẽ Hộ kim là do nhìn nhầm tự dạng chữ Kim và chữ Xá có nét tương đồng.
  340. Quan hộ 官戶: con cháu trong nhà quan viên thì gọi là quan hộ. Ở đây là con cháu ruột thịt trong họ nhà Pháp Loa. Thực lục viết Quan hộ 官戶 thành
  341. Quan hộ 官護. Tổ bi cũng viết thành Hộ, nhưng đã viết bộ ngôn cộng với chữ hộ, một cách viết mang tính chất dị thể.
  342. Đại hình 代形: chúng tôi không rõ nghĩa của Đại hình là gì, theo chú thích của Cảnh Tuệ Linh thì Đại hình nghĩa là người thay thế để làm công việc.
  343. Đến đây thì nội dung của Thực lục đã cắt sang nội dung như sau: Hậu di thí điền nhất sở bát mẫu, nhất nhất điều chương, cụ tại kì nội văn 後遺施田一所八畝一一條章具在其内文, sau đó đến niên đại và kết thúc văn bản. Trong khi văn bia Tổ bị đã chép thành: di thí điền công mẫu hữu dư tại Nam Sách 施田公畝有餘在南策… và cũng như Thanh Mai còn có thêm phần các đệ tử cúng phụng mua bia đá khắc soạn v.v. Tuy rằng có sự xuất nhập nhưng cho thấy Tổ bi chép theo văn bia Thanh Mai, bởi nội dung từ đoạn sau này giống với văn bia Thanh Mai, chỉ thứ tự khác nhau mà thôi.
  344. Thiệu Tuệ 紹慧: Đệ nhị đại tổ bi chép thành Thiệu Huệ 紹惠. Ở Việt Nam vẫn thường dùng chung hai chữ này.
  345. Tổ bi đã bỏ qua dòng này. Cảnh Tuệ Linh trong phần khảo cứu của mình đã nhầm khi đưa đoạn này lên phía trên, xem, dòng thứ 4 từ dưới lên, sách Văn khắc Hán Nôm Việt Nam, tập 2, thời Trần, tập hạ, trang 436, mà đáng ra phải đẩy xuống dưới 2 dòng, như phần khảo cứu của chúng tôi.
  346. Nguyên văn: Trúc Lâm đệ tam đại tự pháp trụ trì Tông Huyên Kim Sơn tấu khắc. Tổ bi ghi thành” Trúc Lâm đệ nhị đại tự pháp trụ trì Tôn Huyền Sơn phụng tuyên”. Ghi là” Đệ nhị đại”: e là nhầm! Lại thiểu chữ Kim, chỉ ghi Tôn Huyền Sơn. E là do văn bản tham chiếu bị đọc thiếu. Tôn cũng là cách viết thay cho Tông trong các văn bản thời Nguyễn. Cảnh Tuệ Linh chú thích rằng Tông Huyền chính là Huyền Quang, cũng là cách phán đoán không đúng.
  347. Từ sau phần niên đại, nội dung phần cuối này trong Thực lục không có, nhưng Tổ bi có đầy đủ. Điều này cho thấy Tổ bi khắc lại từ một phiên bản tương tự Thanh Mai, tuy nhiên, do phần cuối của Thanh Mai có sự lộn xộn nên Tổ bi đã sắp xếp không đúng thứ tự của văn bản. Về niên đại, trong phần cuối cùng của Đệ nhị tổ niên phả thực lục ghi là: Thời Đại Trị Nhâm Dần niên tuyên niên phả tất 皆大治壬寅年鐫年譜畢, cho thấy đã giản lược đi so với văn bia Thanh Mai và thêm vào chữ Thời 昔 dị thể. Tổ bi cũng có sự cải đổi nội dung khi ghi niên đại thành: Nhâm Dần tuế thập ngũ nhật tuyên niên phả tất và bỏ qua một khoảng trống ở phần tháng. Điều này cho thấy có thể bia được khắc vào ngày 15 tháng 11 năm Nhâm Dần niên hiệu Đại Trị.
  348. Sau còn để lại, nguyên văn: hậu di 後遺. Tổ bị ghi là: Hựu di 又遺. Thực lục lại ghi là: Hậu di 後遺. Do chữ trong Thanh Mai bị mờ, tự dạng như chữ Hậu. Tuy nhiên, Cảnh Tuệ Linh đã cho rằng là hai chữ Nguyễn Di 阮遺 chúng tôi cho rằng Thực lục đã đúng. Và cũng bởi Tổ bi trong đoạn trên đã chép sai nhiều, như chữ bát mẫu chép thành công mẫu… do đó, chỉ tham khảo mà thôi.
  349. 8 mẫu, nguyên văn: bát mẫu 八畝. Tổ bi chép nhầm thành công mẫu 公畝. Thực lục chép đúng bát mẫu.
  350. Sào, nguyên văn viết: cao 高. Trong thư tịch Hán Nôm Việt Nam, cao高, được dùng như sào trong sào ruộng, có khi viết cao là chữ cao 篙.
  351. Thửa Đống Mỗi xã Sơn Cù huyện Chí Linh thượng lộ Nam Sách: có lẽ nay thuộc huyện Chí Linh tỉnh Hải Dương. Địa chỉ, địa danh cụ thể ngày nay chúng tôi chưa thể khảo được.
  352. Cụ Cù Cự, nguyên văn: Cù Cự câu 瞿巨俱. Chữ Câu, đọc âm Nôm là Cụ. Cảnh Tuệ Linh đọc là Cù Cự điền. Tổ bi khắc là Cù Cự câu. Chúng tôi cho là Tổ bi đã đọc đúng, bởi tư dạng của chữ không phải chữ điền mà có bộ nhân đứng bên trái là chữ Câu, âm nôm là Cụ.
  353. Nguyễn Diên, Tổ bi ghi thành Nguyễn Văn Diên 阮文延, thừa chữ Văn so với văn bia Thanh Mai.
  354. Và chùa Khánh Lai, nguyên văn: cập Khánh Lai, trong văn bia Tổ bị bị mờ. Chùa Khánh Lai có thể là chùa Khánh Lai xã Tây Đô huyện Hưng Hà tỉnh Thái Bình ngày nay.
  355. Lại gần, nguyên văn: tịnh cận 並近. Cảnh Tuệ Linh đánh máy thành chữ Tịnh . Cùng nghĩa, nhưng không chính xác theo văn bản văn bia.
  356. Hai khóm, nguyên văn: hai khảm 哈坎. Hai là chữ Hán, nhưng âm Nôm, khảm là âm Hán, nhưng đọc Nôm là Khóm.
  357. Vách núi, nguyên văn: nhai. Tổ bi không có chữ nhai này. Trong văn bia Thanh Mai chữ này bị mờ, trông như chữ Phong, âm nôm là Bông. Ở đây chúng tôi đọc theo Cảnh Tuệ Linh.
  358. Nham Đa, không rõ địa danh này ngày nay ở đâu. Tổ bi không có chữ Nhai phía sau chữ Đa, mà ghi luôn Nham Đa điền.
  359. Nam Sách, trong văn bản đều ghi là Nam Sách 南策. Tuy nhiên, ở đây ghi là Nam Sách 南柵. Có thể đây vẫn là cách dùng thông nhau.
  360. Hai, nguyên văn: hai 哈, đây là chữ Nôm.
  361. Chúng tôi căn cứ tự dạng, đọc Đầm Khảm, e đây là âm Nôm, nên không chắc chắn về âm chính xác thời đó.
  362. Chữ này mờ, Cảnh Tuệ Linh đoán là chữ Nguyễn . Chúng tôi tạm để nguyên là chữ mờ chưa khảo cứu được.
  363. Nguyễn Chiếu 阮照: Đệ nhị đại tổ bi chép thành Nguyễn Chiêu 阮昭.
  364. Nguyễn Hạt 阮核, Đệ nhị đại tổ bi chép thành Cách Hạt 格核.
  365. Khóm, nguyên văn trong câu: ương điền nhất khảm 秧田壹坎. Khảm âm Nôm là Khóm. Tổ bi ghi là ương điền nhất 秧田壹 rồi bỏ chữ phía sau.
  366. Dương Thị Đạm 楊氏憺, Tổ bi ghi thành Mã Thảm, chỉ còn hai chữ. Cảnh Tuệ Linh cho là Lưu Thị Đạm 留氏惟,nhưng họ Lưu không dùng chữ này, như thế không đúng.
  367. Dương Nhậm 楊任, Tổ bi ghi thành Dương Dụng 楊用.
  368. Tổ bi ghi là vi hương cúng dường.
  369. Đoạn cuối không đọc được hai chữ trước chữ cố thí. Tổ bi cũng đọc là cố thí. Chúng tôi tạm đọc là Thích Pháp Thuận đề nội dung
Chấm điểm
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)