Phan Thanh Giản (1796–1867)

Phan Thanh Giản (1796–1867)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Phan Thanh Giản, tự Tịnh Bá, Đạm Như, hiệu Lương Khê, biệt hiệu Mai Xuyên, sinh vào giờ Thìn, ngày 12 tháng 10 năm Bính Thìn (1796), tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn, trấn Vĩnh Thanh (nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre).

Tổ phụ ông, Phan Thanh Tập (có nơi chép là Chỉnh), hiệu Ngẫu Cừ, vốn là người Hoa Nam đời nhà Minh. Khi nhà Minh bị nhà Thanh lật đổ, gia đình ông di cư sang Việt Nam, định cư tại làng Hội Trung, tổng Trung An, tỉnh Bình Định. Ở đây, Phan Thanh Tập kết hôn với Huỳnh Thị Học và sinh ra Phan Thanh Ngạn. Năm Tân Mão (1771), khi nhà Tây Sơn nổi dậy chống lại chúa Nguyễn, Phan Thanh Tập cùng gia đình di cư về phía Nam.

Ban đầu, gia đình họ Phan sống tại Trang Tông (Định Tường, nay là Mỹ Tho), sau chuyển xuống Mân Thít (Vĩnh Long), rồi đến huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, và cuối cùng định cư tại làng Tân Thạnh, huyện Vĩnh Bình, phủ Định Viễn (sau đổi tên thành làng Bảo Thạnh, huyện Bảo An, phủ Hoằng Trị, Vĩnh Long; nay là xã Bảo Thạnh, huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre). Tại đây, Phan Thanh Ngạn cưới Lâm Thị Bút, sinh ra Phan Thanh Giản. Sau kết hôn, Thanh Ngạn làm chức Thư Lại tại tỉnh Vĩnh Long.

Năm Mậu Ngọ (1798), khi Phan Thanh Ngạn thực hiện nhiệm vụ vận chuyển lương thực trên thuyền “Hồng Nhật”, gặp bão trôi dạt đến đảo Hải Nam, ông may mắn sống sót và trở về quê hương. Nhờ nhiều công lao, ông được thăng chức Thủ Hợp, tòng bát phẩm.

Năm Nhâm Tuất (1802), mẹ ruột Phan Thanh Giản, Lâm Thị Bút, qua đời ở tuổi 26. Năm Gia Long thứ hai (Quý Hợi, 1803), Phan Thanh Ngạn tái hôn với Trần Thị Dưỡng. Người mẹ kế này không nghiêm khắc với Giản, cho phép ông học với sư Nguyễn Văn Noa tại chùa làng Phú Ngãi.

Năm Ất Hợi (1815), khi Phan Thanh Ngạn bị kết án một năm tù, Giản, lúc 20 tuổi, đã đến yết kiến quan Hiệp trấn Lương, nhưng quan không thể thay đổi quyết định. Quan khuyên Giản cần tự lo tương lai và hỗ trợ ông trong việc học hành. Sau khi Thanh Ngạn mãn hạn tù, quan Hiệp trấn khuyên để Giản ở lại Vĩnh Long học tập thuận tiện. Từ đó, Phan Thanh Giản theo học tại tỉnh, thọ giáo một người họ Võ (không phải Võ Trường Toản, vì ông mất năm 1792, trước khi Giản ra đời).

Thi cử và làm quan

Năm 1825, Phan Thanh Giản đậu Cử nhân khoa Ất Dậu, và một năm sau, năm 1826, ông đỗ Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ khoa Bính Tuất dưới triều vua Minh Mạng, khi 30 tuổi. Theo Lê Thọ Xuân, khoa thi Đình năm 1826 ban đầu chỉ có 9 tiến sĩ, nhưng vì không có thí sinh từ Thừa Thiên Huế vào Nam, vua Minh Mạng chỉ thị bổ sung thêm vài người, nhờ đó Phan Thanh Giản trở thành tiến sĩ đầu tiên của Nam Kỳ.

Sau khi đỗ Tiến sĩ, ông làm quan trải qua ba triều đại: Minh Mạng, Thiệu Trị và Tự Đức, đảm nhận nhiều chức vụ và từng bị giáng cấp nhiều lần. Tháng 8 năm 1826, ông được triệu về kinh giữ chức Biên tu Hàn Lâm Viện. Năm 1827, thăng Lang trung bộ Hình; 1828, Tham hiệp Quảng Bình kiêm giám khảo thi Hương Thừa Thiên. Năm 1829, ông làm Quyền nhiếp Tham hiệp Nghệ An, sau đó Phủ doãn Thừa Thiên. Khoảng 1831, ông giữ chức Hiệp trấn Quảng Nam nhưng bị giáng một lần do thất bại trong việc dẹp loạn Cao Gồng (Chiên Đàn).

Năm 1832, ông trở về kinh giữ các chức vụ: Hàn Lâm viện kiểm thảo, Nội các hành tẩu, Viên ngoại lang bộ Hộ, quyền ấn phủ Thừa Thiên, Hồng lô tự khanh, đồng thời được cử làm phó sứ sang nhà Thanh. Trở về năm 1834, ông thăng Đại lý tự khanh Cơ mật viện đại thần; 1835 làm Kinh lược trấn Tây và Bố chính Quảng Nam.

Năm 1836, vì dâng sớ can vua Minh Mạng không tuần thú Quảng Nam, ông bị giáng từ tòng nhị phẩm xuống chánh lục phẩm, đảm trách công việc hành chính cơ bản. Cùng thời gian, ông nhiều lần bị giáng cấp vì các lỗi hành chính hoặc sơ suất trong công tác kiểm tra, chấm thi, như năm 1838, 1839 và 1840. Trong giai đoạn này, ông cũng được giao nhiệm vụ khai thác mỏ vàng, mỏ bạc tại Quảng Nam và Thái Nguyên.

Năm 1840, khi vua Thiệu Trị lên ngôi, ông được thăng Binh bộ tả thị lang, Tham tri bộ Binh và là Chánh chủ khảo trường thi Hà Nội (1841). Năm 1843, ông về quê chịu tang cha. Từ 1844 đến 1851, ông đảm nhiệm các chức vụ quan trọng: Tả Đô Ngự Sử, Hình bộ thượng thư, Kinh lược sứ các tỉnh Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa, Bình Thuận, lãnh Nam Kỳ Kinh lược phó sứ và Gia Định tuần vũ. Năm 1852, vua Tự Đức ban thưởng tấm kim khánh ghi bốn chữ “Liêm, Bình, Cần, Cán”.

Từ 1853, Phan Thanh Giản giữ nhiều chức vụ cao cấp: Hiệp biện đại học sĩ, Binh bộ thượng thư, Chánh tổng tài Quốc sử quán, trực tiếp chỉ đạo biên soạn bộ Khâm định Việt Sử thông giám cương mục (1856–1859), đồng thời đảm nhiệm các vị trí quản lý Hộ bộ, Quốc Tử Giám và Cơ mật viện.

Ký hiệp ước Nhâm Tuất (1862)

Năm 1858, liên quân Pháp–Tây Ban Nha đổ bộ vào cửa biển Đà Nẵng, sau đó chiếm các tỉnh miền Đông Nam Kỳ. Triều đình Huế cử Phan Thanh Giản làm Chánh sứ, Lâm Duy Hiệp làm Phó sứ, Aubaret làm thông ngôn để thương lượng với tướng Pháp Bornad và tướng Tây Ban Nha Planca. Ngày 5/6/1862, hai ông đại diện triều đình ký Hòa ước Nhâm Tuất tại Sài Gòn.

Hòa ước gồm 12 điều khoản, nổi bật: nhượng 3 tỉnh Biên Hòa, Gia Định, Định Tường và đảo Côn Lôn cho Pháp (Điều 3); triều đình phải trả 4 triệu piastre chiến phí trong 10 năm (Điều 8); đổi lại Pháp trả lại tỉnh Vĩnh Long, nhưng yêu cầu triều đình ngăn chặn các cuộc khởi nghĩa chống Pháp (Điều 11). Chi tiết này dẫn đến câu dân gian: “Phan, Lâm mãi quốc; triều đình khí dân”, tuy chưa được xác thực, có thể dựa vào bài thơ của vua Tự Đức: “Khí dân triều đình cữu, mãi quốc thế gian bình”.

Dù vua Tự Đức cho phép Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp tùy tình hình quyết định, nhà vua dặn nếu có thể chuộc lại 3 tỉnh thì phải trả 1.300 vạn lạng; nếu Pháp yêu cầu cắt đất ngay thì kiên quyết không chấp thuận. Tuy nhiên, Phan Thanh Giản đồng ý cả việc cắt đất lẫn bồi thường, dẫn đến việc trở về bị quở trách.

Sau thất bại, Phan Thanh Giản bị cách chức làm Tổng đốc Vĩnh Long, nhưng sau đó được cử sang Pháp (1863) cùng Phó sứ Phạm Phú Thứ và Ngụy Khắc Đản để thương lượng chuộc lại 3 tỉnh miền Đông. Ban đầu, đàm phán thuận lợi: 18/19 điều khoản dự thảo Hòa ước Aubaret được đồng ý, bao gồm quyền chuộc lại 3 tỉnh, đổi lại triều đình phải cho Pháp bảo hộ 6 tỉnh Nam Kỳ. Tuy nhiên, chính phủ Pháp ra lệnh hủy đàm phán, giữ nguyên Hòa ước 1862. Nỗ lực chuộc đất thất bại, Phan Thanh Giản bị cách chức và vua Tự Đức tức giận.

Năm 1865, ông được phục chức Hiệp biện đại học sĩ, Hộ bộ thượng thư, và Kinh lược sứ 3 tỉnh miền Tây (Vĩnh Long, An Giang, Hà Tiên). Khi Pháp chiếm Vĩnh Long ngày 20/6/1867, ông gửi mật thư yêu cầu các thành An Giang và Hà Tiên đầu hàng. Nhận thấy không thể kháng cự, Phan Thanh Giản quyết định bàn giao 3 tỉnh miền Tây mà không chống cự, yêu cầu Pháp bảo đảm an toàn cho dân, và chỉ trong 5 ngày (20–24/6/1867), 3 tỉnh này rơi vào tay Pháp mà không nổ súng.

Mất thành Vĩnh Long và qua đời

Ngày 20 tháng 6 năm 1867, Pháp đánh chiếm Vĩnh Long (vốn đã được trao trả triều đình Huế ngày 25 tháng 5 năm 1863), yêu cầu ông gửi mật thư cho thủ thành An Giang và Hà Tiên buông súng đầu hàng. Trước sức mạnh áp đảo của Pháp về mặt quân sự, cho rằng không thể giữ nổi, Phan Thanh Giản đã quyết định giao thành, không kháng cự, với yêu cầu người Pháp phải bảo đảm an toàn cho dân chúng. Thế là chỉ trong 5 ngày (20-24 tháng 6 năm 1867) thực dân Pháp chiếm gọn 3 tỉnh miền Tây không tốn một viên đạn.

Sau khi thành mất, Phan Thanh Giản gói mũ áo, phẩm hàm, kèm theo sớ tạ tội và gửi về triều. Song chờ nửa tháng vẫn không thấy triều đình hồi âm. Lo lắng rồi thất vọng, Phan Thanh Giản uống thuốc phiện hòa với giấm thanh tự sát và qua đời vào nửa đêm ngày 5 tháng 7 năm Đinh Mão, tức ngày 4 tháng 8 năm 1867, hưởng thọ 72 tuổi.

Soái phủ Pháp là Pierre-Paul de La Grandière sai đưa linh cữu ông với đoàn binh hộ tống về Bảo Thạnh an táng. Mộ ông rất khiêm nhường, đề 7 chữ Nho: Lương Khê Phan lão nông chi mộ (梁溪潘老農之墓), giao cho Phan Đôn Hậu và Phan Đôn Khải chăm nom.

Di cảo 

Phan Thanh Giản là một nhà văn lớn với nhiều tác phẩm giá trị

  • Lương Khê thi thảo
  • Lương Khê văn thảo
  • Sứ Thanh thi tập
  • Tây phù nhật ký
  • Ước Phu thi tập
  • Tích Ung canh ca hội tập
  • Sứ trình thi tập
  • Việt sử thông giám cương mục (Chủ biên)
  • Minh Mạng chính yếu (Chủ biên)

Gia đình

Phan Thanh Tập (nội tổ phụ – ông nội), Huỳnh Thị Học (nội tổ mẫu – bà nội).

Phan Thanh Ngạn (thân phụ – cha ruột), Lâm Thị Búp (thân mẫu – mẹ ruột), Trần Thị Dưỡng (kế mẫu – mẹ kế), Phan Thanh Diệu (bào đệ – em ruột cùng mẹ).

Phan thanh Giản kết hôn với người vợ đầu tiên là bà Nguyễn Thị Mỹ, người làng Mỹ An, huyện Phước Lộc, Gia Định. Bà Mỹ mất sớm, có một người con gái (1822) nhưng chết yểu khi mới sinh.

Năm 1825, Phan thanh Giản kết hôn với người vợ thứ hai là bà Lê, người làng Long Hồ. Bà Lê không có con và bị xuất thê (bỏ vợ).

Năm 1828, khi đang là Tham Hiệp Quảng Bình, Phan thanh Giản cưới bà Trần Thị Hoạch, con gái Án Sát Trần Công Án làm chính thất. Bà Hoạch sinh được ba người con trai là Phan Hương, Phan Tòng (Liêm) và Phan Tuyển (Tôn).

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Phan Thanh Gian (1796–1867)

Biography

Phan Thanh Gian, courtesy name Tinh Ba, birth name Dam Nhu, pseudonym Luong Khe, and nickname Mai Xuyen, was born at the hour of the Dragon on the 12th day of the 10th lunar month of the Binh Thin year (1796) in Tan Thanh Village, Vinh Binh District, Dinh Vien Prefecture, Vinh Thanh Province (present-day Bao Thanh Commune, Ba Tri District, Ben Tre Province).

His paternal ancestor, Phan Thanh Tap (sometimes recorded as Chinh), with the pseudonym Ngau Cu, was originally from southern China during the Ming Dynasty. When the Ming Dynasty was overthrown by the Qing, his family migrated to Vietnam, settling in Hoi Trung Village, Trung An Commune, Binh Dinh Province. There, Phan Thanh Tap married Huynh Thi Hoc and had a son, Phan Thanh Ngan. In the year Tan Mao (1771), during the Tay Son uprising against the Nguyen Lords, Phan Thanh Tap and his family moved southward.

The Phan family initially settled at Trang Tong (Dinh Tuong, present-day My Tho), then moved to Man Thit (Vinh Long), followed by Bao An District, Hoang Tri Prefecture, and finally to Tan Thanh Village, Vinh Binh District, Dinh Vien Prefecture (later renamed Bao Thanh Village, Bao An District, Hoang Tri Prefecture, Vinh Long; present-day Bao Thanh Commune, Ba Tri District, Ben Tre). Here, Phan Thanh Ngan married Lam Thi But and had Phan Thanh Gian. Thanh Ngan later served as a clerk (Thu Lai) in Vinh Long Province.

In 1798 (Mau Ngo), while transporting rice on the ship Hong Nhat, Phan Thanh Ngan encountered a storm and drifted to Hainan Island. He survived and returned home. Due to his contributions, he was promoted to Thủ Hợp, eighth rank.

In 1802 (Nhâm Tuất), Phan Thanh Gian’s biological mother, Lam Thi But, passed away at age 26. In 1803 (Quý Hợi, the second year of Gia Long), Phan Thanh Ngan remarried Tran Thi Duong, who was lenient with Gian and allowed him to study under Master Nguyen Van Noa at Phu Ngai Village Pagoda.

In 1815 (Ất Hợi), when Phan Thanh Ngan was sentenced to one year in prison, 20-year-old Gian petitioned the district magistrate (Hiep Tran Luong), who could not overturn the decision but advised Gian to manage his own future and continue his studies. After Thanh Ngan completed his sentence, the magistrate recommended that Gian remain in Vinh Long to continue his education. Subsequently, Gian studied under a teacher surnamed Vo (not Vo Truong Toan, who had died in 1792, before Gian’s birth).

Examination Success and Official Career

In 1825, Phan Thanh Gian passed the regional Cử nhân examination (Ất Dậu), and in 1826, he passed the national Đệ tam giáp đồng Tiến sĩ (Binh Tuất) examination under Emperor Minh Mang at age 30. According to Le Tho Xuan, the 1826 examination initially produced only nine successful candidates, but because no candidates from Thua Thien Hue traveled south, the emperor added several candidates, making Phan Thanh Gian the first Tiến sĩ from Nam Ky.

After becoming Tiến sĩ, he served under three emperors—Minh Mang, Thieu Tri, and Tu Duc—holding multiple positions and enduring several demotions. In August 1826, he was summoned to the capital as a compiler at the Han Lam Institute. In 1827, he was promoted to Lang Trung, Ministry of Justice; in 1828, Deputy Supervisor of Quang Binh and Examiner for the Thua Thien Provincial Examination. In 1829, he served as Acting Deputy Supervisor of Nghe An and later Prefect of Thua Thien. Around 1831, he was appointed Governor of Quang Nam but was demoted once for failing to suppress the Cao Gong rebellion (Chien Dan).

In 1832, he returned to the capital, holding posts such as Han Lam Inspector, Imperial Cabinet official, Assistant Minister of the Ministry of Revenue, Acting Chief of Thua Thien Prefecture, Hong Lo Senior Official, and was sent as Vice Envoy to the Qing Dynasty. Returning in 1834, he was promoted to Senior Official of the Privy Council; in 1835, he became Imperial Commissioner of the Western Provinces and Governor of Quang Nam.

In 1836, he was demoted from Second Rank to Sixth Rank for submitting memorials criticizing Emperor Minh Mang’s lack of oversight in Quang Nam. He suffered further demotions in 1838, 1839, and 1840 due to administrative errors or examination oversight. During this period, he also oversaw gold and silver mining operations in Quang Nam and Thai Nguyen.

Under Emperor Thieu Tri (1840), he was promoted to Left Deputy Minister of War, participated in the Ministry of War, and served as Chief Examiner for the Hanoi Examination (1841). From 1844 to 1851, he held key positions: Left Imperial Commissioner, Minister of Justice, Imperial Commissioner of Binh Dinh, Phu Yen, Khanh Hoa, Binh Thuan, Deputy Governor of Nam Ky, and Garrison Commander of Gia Dinh. In 1852, Emperor Tu Duc awarded him a golden plaque inscribed with “Integrity, Fairness, Diligence, Responsibility.”

From 1853 onward, Phan Thanh Gian held senior positions: Grand Scholar, Minister of War, Chief Editor of the National History Bureau, overseeing the compilation of the Khâm Định Việt Sử Thông Giám Cương Mục (1856–1859), while concurrently managing the Ministry of Revenue, Imperial Academy, and Privy Council.

Signing of the 1862 Nhâm Tuất Treaty

In 1858, the French-Spanish allied forces landed at Da Nang and occupied the eastern provinces of Nam Ky. The Hue court appointed Phan Thanh Gian as Chief Envoy, Lam Duy Hiep as Deputy Envoy, with Aubaret as interpreter, to negotiate with French General Bornad and Spanish General Planca. On June 5, 1862, they signed the Nhâm Tuất Treaty in Saigon.

The treaty contained 12 clauses, notably: ceding three provinces—Bien Hoa, Gia Dinh, and Dinh Tuong—and Con Lon Island to France (Clause 3); the court had to pay 4 million piastres in war reparations over 10 years (Clause 8); in return, France returned Vinh Long Province but required the court to suppress anti-French uprisings (Clause 11). Popular saying: “Phan, Lam mai quoc; trieu dinh khi dan,” possibly inspired by Tu Duc’s poem: “Khí dân triều đình cữu, mãi quốc thế gian bình.”

Although Emperor Tu Duc allowed Gian and Lam Duy Hiep discretion, instructing that redeeming the three provinces required 13 million taels, Gian accepted both land cession and compensation, resulting in public criticism.

After the setback, he was removed as Governor of Vinh Long but sent to France in 1863 with Deputy Envoys Pham Phu Thu and Nguy Khac Dan to negotiate the redemption of the three provinces. Negotiations were initially favorable; 18 of 19 draft clauses in the Aubaret Treaty were agreed upon, including the redemption plan. However, the French government canceled the talks, maintaining the 1862 Treaty. Gian’s efforts failed, and he was dismissed.

In 1865, he was reinstated as Grand Scholar, Minister of Revenue, and Imperial Commissioner of the three western provinces (Vinh Long, An Giang, Ha Tien). When the French occupied Vinh Long on June 20, 1867, he ordered the An Giang and Ha Tien garrisons to surrender. Realizing resistance was futile, Gian handed over the three provinces without fighting, demanding French guarantees for civilian safety; within five days (June 20–24, 1867), the French seized all three provinces without firing a shot.

Death

After the fall of Vinh Long, Phan Thanh Gian packed his robe and official insignia, sent a memorial of apology to the court, but received no response for half a month. In despair, he took opium mixed with vinegar and committed suicide on the night of July 4, 1867, at age 72. French Admiral Pierre-Paul de La Grandière ordered his funeral escorted to Bao Thanh for burial. His modest grave bore a seven-character inscription in Han script: Luong Khe Phan Lao Nong Chi Mo (梁溪潘老農之墓) and was entrusted to Phan Don Hau and Phan Don Khai.

Writings

Phan Thanh Gian was a distinguished writer, authoring:

  • Luong Khe Thi Thao
  • Luong Khe Van Thao
  • Su Thanh Thi Tap
  • Tay Phu Nhat Ky
  • Uoc Phu Thi Tap
  • Tich Ung Canh Ca Hoi Tap
  • Su Trinh Thi Tap
  • Viet Su Thong Giam Cuong Muc (Chief Editor)
  • Minh Mang Chinh Yeu (Chief Editor)

Family

  • Paternal ancestor: Phan Thanh Tap; paternal grandmother: Huynh Thi Hoc
  • Father: Phan Thanh Ngan; biological mother: Lam Thi But; stepmother: Tran Thi Duong; younger brother: Phan Thanh Dieu
  • Wives:
    1. Nguyen Thi My (first wife, one daughter born in 1822, died in infancy)
    2. Second wife, Le (childless, later divorced)
    3. Tran Thi Hoach (third wife, daughter of Tran Cong An, had three sons: Phan Huong, Phan Tong [Liem], Phan Tuyen [Ton])

References

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục

Tiếng Pháp

Phan Thanh Giản (1796–1867)

Biographie

Phan Thanh Giản, surnom Tinh Bá, Dam Nhu, pseudonyme littéraire Luong Khe, sobriquet Mai Xuyen, est né à l’heure du Dragon, le 12 octobre 1796 (année Binh Thin), dans le village de Tan Thanh, district de Vinh Binh, province de Dinh Vien, sous la juridiction de Vinh Thanh (aujourd’hui Bao Thanh, district de Ba Tri, province de Ben Tre).

Son aïeul, Phan Thanh Tap (ou Chinh), pseudonyme Nguu Cu, était originaire de Chine du Sud sous la dynastie Ming. Après la chute des Ming face aux Qing, sa famille émigra au Vietnam, s’installant dans le village de Hoi Trung, canton de Trung An, province de Binh Dinh. Là, Phan Thanh Tap épousa Huynh Thi Hoc et eut un fils, Phan Thanh Ngan. En 1771 (année Tan Mao), lors de la révolte des Tay Son contre les seigneurs Nguyen, Phan Thanh Tap et sa famille migrèrent vers le Sud.

La famille Phan s’installa d’abord à Trang Tong (Dinh Tuong, aujourd’hui My Tho), puis à Man Thit (Vinh Long), ensuite dans le district de Bao An, province de Hoang Tri, et enfin dans le village de Tan Thanh, district de Vinh Binh, province de Dinh Vien (renommé plus tard village de Bao Thanh, district de Bao An, province de Hoang Tri, Vinh Long ; aujourd’hui Bao Thanh, district de Ba Tri, Ben Tre). Là, Phan Thanh Ngan épousa Lam Thi But, donnant naissance à Phan Thanh Giản. Après son mariage, Thanh Ngan fut nommé secrétaire provincial à Vinh Long.

En 1798, alors qu’il transportait des vivres sur le bateau Hong Nhat, Phan Thanh Ngan fut pris dans une tempête et dériva jusqu’à l’île de Hainan ; il survécut miraculeusement et retourna dans sa région natale. Pour ses services, il fut promu Thu Hop, rang bat pham.

En 1802, la mère de Phan Thanh Giản, Lam Thi But, mourut à 26 ans. En 1803 (2e année de Gia Long), Phan Thanh Ngan se remaria avec Tran Thi Duong, une belle-mère indulgente qui permit à Giản d’étudier auprès de maître Nguyen Van Noa au temple de Phu Ngai.

En 1815, lorsque Phan Thanh Ngan fut condamné à un an de prison, Giản, alors âgé de 20 ans, alla plaider auprès du gouverneur de Luong, qui ne put modifier la décision mais l’encouragea à poursuivre ses études et à subvenir à ses besoins. Giản resta à Vinh Long pour étudier auprès d’un maître de la famille Vo (non Vo Truong Toan, décédé en 1792).

Carrière et examens

En 1825, Phan Thanh Giản réussit l’examen Cử nhân, puis en 1826, il obtint le titre de Tiến sĩ (3e rang) à 30 ans sous le règne de Minh Mang. Il fut le premier Tiến sĩ du Sud du Vietnam grâce à un décret complétant la liste des candidats.

Sous les règnes de Minh Mang, Thieu Tri et Tu Duc, il occupa divers postes : en 1826, membre de la Han Lam Vien ; 1827, Lang trung du ministère de la Justice ; 1828, examinateur à Quang Binh ; 1829, Quyền nhiếp à Nghe An, puis Phủ doãn à Thua Thien. En 1831, Hiệp trấn Quang Nam (réduit de grade pour échec dans la répression de Cao Gong).

De 1832 à 1840, il occupa divers postes administratifs, diplomatiques et d’inspection, et fut chargé de l’exploitation des mines d’or et d’argent à Quang Nam et Thai Nguyen. Sous Thieu Tri (1840–1851), il occupa des postes élevés : Binh bo ta thi lang, Tham tri, Chanh chu khao, Kinh luoc su, Nam Ky Kinh luoc, et reçut la médaille “Liêm, Bình, Cần, Cán” en 1852.

De 1853, il devint Hiep bien dai hoc si, ministre de la Guerre, directeur de la compilation du Kham Dinh Viet Su Thong Giam Cuong Muc (1856–1859), et géra des postes clés à la Ho bo, au Quoc Tu Giam et au Co mat vien.

Traité de Nhâm Tuất (1862)

En 1858, face à l’invasion franco-espagnole de Da Nang, Phan Thanh Giản fut nommé principal négociateur avec le général français Bornad et l’Espagnol Planca, signé le 5 juin 1862 à Saigon. Le traité cédait trois provinces (Bien Hoa, Gia Dinh, Dinh Tuong) et l’île de Con Lon aux Français, imposait 4 millions de piastres sur 10 ans, et stipulait la surveillance des révoltes anti-françaises. Phan Thanh Giản accepta la cession et l’indemnité, ce qui lui valut des critiques à son retour.

En 1863, il tenta de racheter les provinces mais les négociations furent annulées par la France, maintenant le traité de 1862.

Perte de Vinh Long et décès

En juin 1867, les Français occupèrent Vinh Long. Considérant qu’une résistance était impossible, Phan Thanh Giản remit les trois provinces de l’Ouest sans combat, demandant la protection des habitants. Déçu par le silence de la cour impériale après son rapport, il se suicida à l’opium et au vinaigre dans la nuit du 4 août 1867, à 72 ans. Son cercueil fut escorté par Pierre-Paul de La Grandière à Bao Thanh pour être inhumé. Sa tombe porte l’inscription : Luong Khe Phan lao nong chi mo (梁溪潘老農之墓).

Œuvres et écrits

  • Luong Khe thi thao
  • Luong Khe van thao
  • Su Thanh thi tap
  • Tay phu nhat ky
  • Uoc Phu thi tap
  • Tich Ung canh ca hoi tap
  • Su trinh thi tap
  • Viet Su Thong Giam Cuong Muc (chef de projet)
  • Minh Mang chinh yeu (chef de projet)

Famille

  • Grand-père : Phan Thanh Tap / Huynh Thi Hoc
  • Père : Phan Thanh Ngan / mère : Lam Thi But ; belle-mère : Tran Thi Duong
  • Frère : Phan Thanh Dieu
  • Épouses : Nguyen Thi My (1re), Lê (2e, sans enfant, répudiée), Tran Thi Hoach (3e, mère de Phan Huong, Phan Tong, Phan Tuyen).

Références

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục

Tiếng Trung

潘清簡(1796–1867)

生平
潘清簡,字净伯,淡如,号梁溪,别号梅川,生于丙辰年十月十二日辰时(1796),出生在永平镇定远府永平县新盛乡(今槟椥省巴芹县保盛社)。

祖父潘清集(或作整),号偶屨,原籍明末华南人。明亡后,家族迁居越南,定居平定省会中总安乡会中村。潘清集娶黄氏学为妻,生潘清衍。1771年(辛卯),西山起兵反对阮主,潘清集携家南迁。

最初潘氏家族居于庄宗(定祥,今美拖),后迁至茂室(永隆),再至保安县,最终定居新盛乡(后更名保盛乡,今巴芹县保盛社)。潘清衍娶林氏笔,生潘清簡。婚后,清衍任永隆省书吏。

1798年(戊午),潘清衍运粮于“红日”船遭风漂至海南岛,幸存返乡,因功被升任守合,从八品。

1802年(壬戌),潘清簡生母林氏笔去世,享年26岁。1803年(嘉隆二年,癸亥),潘清衍再婚,妻为陈氏养。继母对潘清簡不严苛,允许他在富艾村寺庙随师阮文诺学习。

1815年(乙亥),潘清衍被判一年徒刑,20岁的清簡前往梁巡守处上书求情,但官员无法改变判决,只劝他自立并辅导学业。清衍刑满后,巡守官建议清簡留在永隆省学习,以方便求学。从此潘清簡在省城受业于姓吴者(非吴长纂,因其1792年已逝)。

科举与仕途

1825年,潘清簡考中举人(乙酉科),1826年中廷试第三甲同进士(丙戌科),时年30岁。根据黎寿春,1826年廷试最初仅有九名进士,但因阮朝未有承天顺化考生,明命帝下令增录数名,潘清簡由此成为南圻首位进士。

登科后,潘清簡历仕明命、绍治、嗣德三朝,任职多处,曾多次降职。1826年8月,被召入京任翰林院编修。1827年升为刑部郎中;1828年兼任广平参协、承天乡试监考。1829年,署理摄参协乂安,后任承天府尹。约1831年任广南协镇,因镇压高公乱(阡坛)失败被降职一次。

1832年回京,任翰林院检讨、内阁行走、户部员外郎、署理承天印,兼任鸿胪寺卿,同时被派为副使出使清朝。1834年回国,升任机密院大理寺卿,1835年任经略镇西、布政广南。

1836年因上疏劝明命帝巡行广南不被采纳,被降为正六品从事行政事务。同时期因行政或监察失误,多次降职(1838、1839、1840年)。期间亦负责广南、太原金银矿开采事务。

1840年绍治帝即位,升兵部左侍郎、兵部参知、河内监考官(1841)。1843年回乡守父丧。1844–1851年,任左都御史、刑部尚书、经略平定、富安、庆化、平顺各省,兼领南圻经略副使及嘉定巡抚。1852年,嗣德帝赐金匾“四字:廉、平、勤、谨”。

自1853年起,潘清簡历任协办大学士、兵部尚书、国史馆正总裁,直接主持编撰《钦定越史通鉴纲目》(1856–1859),同时管理户部、国子监及机密院事务。

签署壬戌条约(1862)

1858年,法西联军登陆岘港,后占东南圻各省。朝廷派潘清簡为正使,林维协为副使,奥巴雷为通译,与法国将军博尔纳、 西班牙将军普兰卡谈判。1862年6月5日,两人代表朝廷在西贡签署《壬戌和约》。

条约共12条,主要内容:割让边和、嘉定、定祥三省及龟伦岛予法国(第三条);朝廷十年内支付400万银币战费(第八条);法国返还永隆省,但要求朝廷制止抗法起义(第十一条)。此事引民间谚语“潘、林卖国,朝廷欺民”,可能源嗣德帝诗:“朝廷欺民久,卖国世间平”。

尽管嗣德帝授权潘清簡与林维协酌情决定,但若可赎回三省,则需支付一千三百万两;若法国要求立即割地,则坚决不允。然而,潘清簡同意割地与赔款,因此回国遭谴责。

失败后,潘清簡被撤永隆总督职,但1863年被派往法国与副使范福蜀、魏克端商讨赎回三省事宜。起初谈判顺利:奥巴雷和约草案19条中18条获同意,包括赎回三省,条件为朝廷让法国保护南圻六省。然法国政府下令取消谈判,维持1862年和约,赎地失败,潘清簡被免职,嗣德帝愤怒。

1865年复职与西三省失守

复任协办大学士、户部尚书、三省经略使(永隆、安江、河仙)。1867年6月20日法国占领永隆,他密令安江、河仙城投降。因无法抵抗,潘清簡决定交出三省,不战而降,要求法国保障民众安全。20–24日,三省无一枪一弹落入法国手中。

去世

1867年6月20日,法国攻占永隆(1863年5月25日曾归还朝廷),要求潘清簡密函安江、河仙城投降。鉴于军事劣势,潘清簡决定交城,要求法国保障民众安全。5日内,三省落入法国手中。

城失后,他将冠服、品秩及谢罪奏章送回朝廷,但半月未获回应。潘清簡失望后,于**1867年8月4日(丁卯年7月5日午夜)**服鸦片醋自尽,享年72岁。法国司令皮埃尔-保罗·德拉格兰迪尔派兵护送灵柩至保盛安葬。墓碑简朴,题七字:“梁溪潘老农之墓”,由潘敦厚、潘敦启照料。

遗稿

潘清簡文学家,著作颇丰:

  • 《梁溪诗草》
  • 《梁溪文草》
  • 《使清诗集》
  • 《西赴日记》
  • 《约夫诗集》
  • 《积雍庚歌会集》
  • 《使呈诗集》
  • 《越史通鉴纲目》(主编)
  • 《明命正要》(主编)

家庭

祖父:潘清集,祖母:黄氏学。

父:潘清衍,生母:林氏笔,继母:陈氏养。

胞弟:潘清曜。

潘清簡首妻阮氏美(美安村,嘉定县),早亡,育一女(1822)夭折。1825年再娶黎氏(龙湖村),无子,被逐。1828年任广平参协,娶陈氏学(审案官陈公案之女),育三子:潘香、潘从(廉)、潘选(尊)。

参考资料

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)