Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Lăng Minh Mạng có tên chữ là Hiếu lăng (孝陵), do hoàng đế Thiệu Trị thời nhà Nguyễn cho xây dựng, nằm trên núi Cẩm Kê, ấp An Bằng, phường Long Hồ, quận Phú Xuân, thành phố Huế, gần ngã ba Bằng Lãng là nơi hội lưu của hai dòng Hữu Trạch và Tả Trạch hợp thành sông Hương, cách trung tâm thành phố Huế 12 km.

Lịch sử và nhân vật

Lịch sử xây dựng

Tháng 2 năm 1820, vua Gia Long băng hà. Hoàng tử thứ tư là Nguyễn Phúc Đảm lên ngôi, lấy niên hiệu Minh Mạng. Ngay từ những năm đầu trị vì, Minh Mạng đã đặc biệt quan tâm đến việc tìm đất xây dựng Sơn lăng cho mình, coi đây không chỉ là nơi an táng mà còn là công trình thể hiện tư tưởng chính trị, đạo hiếu và quan niệm vũ trụ của một bậc đế vương.

Sau nhiều lần khảo sát, quan Địa lý Lê Văn Đức đã chọn được một vùng đất được đánh giá là cát địa, nằm tại núi Cẩm Kê, gần ngã ba Bằng Lãng, hợp lưu của hai nhánh Tả Trạch và Hữu Trạch để hình thành sông Hương. Khu vực này hội đủ các yếu tố phong thủy quan trọng: núi sông bao bọc, thế đất cao ráo, cảnh quan khoáng đạt nhưng vẫn trầm mặc.

Tuy nhiên, phải trải qua gần 14 năm cân nhắc kỹ lưỡng, đến năm 1840, vua Minh Mạng mới chính thức quyết định xây dựng lăng tẩm tại đây. Nhà vua đổi tên núi Cẩm Kê (thuộc ấp An Bằng, huyện Hương Trà) thành Hiếu Sơn, đồng thời đặt tên lăng là Hiếu Lăng. Minh Mạng đích thân xem xét và phê chuẩn bản họa đồ thiết kế do các đại thần Bùi Công Huyên, Trương Đăng Quế và Giám thành vệ dâng trình, thể hiện sự quan tâm sát sao của nhà vua đối với từng chi tiết của công trình.

Tháng 4 năm 1840, công cuộc xây dựng Hiếu Lăng chính thức khởi công. Vua sai các quan Lê Đăng Danh, Nguyễn Trung Mậu và Lý Văn Phức chỉ huy binh lính và thợ thuyền tiến hành đào hồ, đắp La thành. Tuy nhiên, đến tháng 8 cùng năm, trong một lần thân chinh đến kiểm tra, Minh Mạng nhận thấy việc đào hồ Trừng Minh chưa đạt yêu cầu nên đã giáng chức các quan phụ trách và ra lệnh đình chỉ công trình.

Sau một thời gian ngắn, việc xây dựng vừa được nối lại thì vua Minh Mạng lâm bệnh nặng và băng hà vào ngày 28 tháng Chạp năm Canh Tý (20/1/1841).

Vua Thiệu Trị kế vị, chỉ một tháng sau đã lập tức cho tiếp tục công trình theo đúng đồ án mà vua cha để lại. Các đại thần Tạ Quang Cự, Hà Duy Phiên và Nguyễn Tri Phương được giao chỉ huy gần 10.000 binh lính và thợ thủ công khẩn trương thi công.

Ngày 20 tháng 8 năm 1841, linh cữu vua Minh Mạng được an táng tại Bửu Thành. Công việc xây dựng Hiếu Lăng tiếp tục được hoàn thiện và đến đầu năm 1843 thì chính thức kết thúc. Từ một vùng núi đồi hoang sơ, Hiếu Lăng đã trở thành một quần thể lăng tẩm đồ sộ, uy nghi, kết hợp hài hòa giữa kiến trúc nhân tạo và cảnh quan thiên nhiên, đồng thời hàm chứa chiều sâu tư tưởng và mỹ học đặc trưng của triều Nguyễn.

Nhân vật thờ tự

Hiếu Lăng là nơi an táng và thờ phụng vua Minh Mạng (1791 – 1841), vị hoàng đế thứ hai của triều Nguyễn. Ông là con trai thứ tư của vua Gia Long, người có công lớn trong việc củng cố nền thống nhất quốc gia, xây dựng bộ máy nhà nước quân chủ tập quyền chặt chẽ và đặt nền móng vững chắc cho sự ổn định của triều Nguyễn trong nửa đầu thế kỷ XIX.

Trong khu tẩm điện của Hiếu Lăng, long vị của vua Minh Mạng được thờ phụng trang nghiêm, thể hiện đạo lý “sinh vi minh quân, tử vi thần chủ” theo quan niệm Nho giáo truyền thống.

Kiến trúc cảnh quan

Lăng Minh Mạng là một quần thể kiến trúc có diện tích 18ha còn tổng diện tích cấm địa xung quanh lên đến 475 ha, gồm nhiều công trình lớn nhỏ được nằm trên một trục đường thẳng chính gọi là đường thần đạo, cách xây dựng rất đặc biệt khi bố cục các công trình được nằm cân bằng, đối xứng 2 bên tạo nên vẻ trang nghiêm và trật tự nghiêm ngặt. Kiến trúc làm theo mô hình nhà rường hay còn gọi là nhà cột, các cột kèo gỗ được nối chặt chẽ với nhau theo mô hình chữ đinh, chữ công, được chạm khắc tỉ mỉ, nhà rường thường được làm mái thấp dốc thoải xuống, và lớp mái được chồng lên nhau, cấu trúc nhà rường được coi là di sản đặc trưng của kiến trúc Cố đô Huế. 

Tất cả các công trình kiến trúc trong khuôn viên lăng được bao bọc bởi bức la thành cao 3m, lăng bao gồm hai phần: phần mộ và nơi thờ. 

Cổng tam quan Đại Hồng Môn

Cổng tam quan là lối dẫn đường đi vào trong lăng, cổng có 3 cửa lớn nhỏ đây là kiến trúc điển hình truyền thống của dân gian thường được xây dựng ở các chùa, đình. Tam quan thường sẽ có một cửa to rộng nhất ở giữa, hai bên là 2 cửa diện tích nhỏ hơn.

 Cửa rộng lớn nhất ở giữa gọi là Đại Hồng Môn là lối đi chính được mở duy nhất một lần để đưa quan tài của vua vào trong lăng sau đó được đóng lại, hai cửa nhỏ hơn nằm ở hai bên gọi là Tả Hồng Môn và Hữu Hồng Môn đây là 2 cửa phụ để ra vào, cổng được xây bằng gạch có diện tích rộng 12m và cao 9m. Phần mái cổng được xây theo nhiều lớp mái ngói, có trang trí long vân và cá chép hoá Rồng. 

Sân chầu Bi Đình

Sau khi đi qua cổng Đại Hồng Môn là sân chầu rất rộng và thoáng được lát gạch bát tràng , hai bên sân được đặt tượng đá, tượng kỳ lân bằng đồng hai bên,  văn quan võ tướng và voi ngựa hầu chầu. Đây là khoảng sân rộng dành cho những người theo hầu vua khi còn sống thường đứng trong những buổi hầu chầu. 

 Nhà Bia (Phụng Thần Sơn)

Cuối sân chầu tiến vào trong một chút ta thấy xuất hiện nhà Bia được xây theo khối hình vuông, xây theo kiến trúc 3 khối, tầng đầu tiên được tạo thành nhiều bậc thang lên xuống, hai bên thành bậc thang được đắp hình rồng , gạch ốp xung quanh, những bức tường được gắn liền với các khối trụ chạm khắc hoa văn rất cầu kỳ.

Tầng thứ 2 là nhà hình vuông với 4 cửa rộng mở ra 4 hướng có thể đi thông qua nhau, ở tầng thứ 2 này kiến trúc rất đơn giản không trang trí hoa văn mà chỉ được sơn màu vàng, có lớp 4 lớp mái và các góc có gắn đầu Rồng. 

Tầng thứ 3 la tầng trên cùng diện tích nhỏ nhất trong 3 tầng nhưng được trang trí hoa văn bao quanh, trên mái có hình Long chầu và quả hồ hô ở giữa. 

Tổng thể 3 tầng nhìn rất giống với cấu trúc kim tự tháp, Bên trong nhà bia được đặt tấm bia Ngự chế Thánh Đức thần công bi cao 3m được bao quanh bởi hàng rào sắt để bảo vệ, gồm 35 dòng chữ Hán có Nôm, toàn văn ước khoảng 1800 chữ, có hoa văn, không có chữ húy, nội dung bia ca ngợi thân thế sự nghiệp vua Minh Mệnh. Minh Mệnh là con thứ 4 của vua Cao Hoàng đế. Hoàng tổ mẫu là Nhân Tuyên Từ Khánh thái hoàng thái hậu, sinh ra Minh Mệnh vào giờ Dậu ngày 23 tháng 4 năm Tân Hợi tại đất Tân Lộc Gia Định. Lúc bấy giờ Gia Long bắt đầu di chuyển về phái Nam tiến đánh thành Phú Xuân, từ đó khôi phục được thiên hạ. Minh Mệnh đi theo phò tá, trèo đèo lội suối, trải qua bao gian lao, thật là người trí dũng, lập nhiều chiến công hiển hách. Năm Gia Long thứ 15 (1817) được phong làm Thái Tử, năm thứ 18 (1820) vâng di chiếu lên ngôi vua. Minh Mệnh tại vị chuyên cần vào việc chính sự, yêu dân như con, đặt ra kỷ cương cho triều Nguyễn sau này. Đây là văn bia do vua Thiệu Trị soạn thảo. 

Khu vực Tẩm Điện 

 Hiển Đức Môn 

Khoảng sân rộng tiếp theo được chia làm 4 cấp bậc cao dần, mỗi cấp được nâng cao hơn 1 bậc, đi qua 4 khoảng sân như thế sẽ đến cửa Hiển Đức Môn, đây là cửa mở lối để dẫn đến Sùng Ân Điện. 

Hiển Đức Môn được xây trên 5 bậc thang lên xuống, ở cầu thang được chia làm 4 ngăn mỗi ngăn xây thành ngăn cách, mỗi thành lại được gắn với hình rồng lượn, trên bậc cầu thang có 3 cổng gồm 1 cổng chính và 2 cổng phụ, giống ngôi nhà có 3 gian có 2 cột ở giữa. Xung quanh ngôi nhà được chạm khắc vẽ nhiều hoa văn, hoạ tiết rất tỉ mỉ và chi tiết tạo nên hiệu ứng rất đẹp, tầng dưới và tầng trên được lợp mái ngói vàng, các đỉnh nhọn của nóc mái được gắn các hình Rồng chầu mặt nguyệt. 

 Điện Sùng Ân

Đây là điện thờ chính nằm trong giữa trung tâm khu tẩm điện, bên trong là nơi thờ vua Minh Mạng và bà tá Thiên Nhân Hoàng Hậu, vì thế đây được coi là nơi cư ngụ linh hồn, hai bên có Đông phối điện và Tây phối điện (là hai dãy điện phụ trước mặt chính điện, mỗi dãy có 3 gian, lợp ngói lưu ly vàng). 

Công trình này được đặt trên nền cao, cấu trúc hình vuông tượng trưng cho mặt đất, dựng nhiều cột gỗ chạy quanh vòng điện tổng có 64 cột, Tiền điện có nóc cao 6m, kiến trúc hai mái chồng được sơn son thếp vàng gồm 6 vì kèo tạo nên 5 gian 2 trái. 

Hậu điện có 6 vì kèo với 4 cột đưa nóc nhà lên cao 7,36m, trần của hậu điện cao 4m được gắn thành từng ô vuông và chữ nhật, bên trong là vẽ chạm khắc trang trí phong phú và màu sắc thu hút đây là những hình trang trí chạm nổi theo quy định nghệ thuật của cung đình và lăng tẩm.

Bên ngoài được che bởi mái hiên được nối với các cột nhỏ làm trụ làm nổi phong cách riêng biệt kiến trúc các điện thành ở Huế. 

Mái ngói chồng diêm được lợp ngói men vàng, điện Sùng Ân chia làm 2 lớp mái tầng dưới tầng trên, trên nóc điện được gắn những hình rồng uốn lượn, chính giữa có hình con vật đội bình hồ lô. 

 Hoàng Trạch Môn

Cuối sân Điện Sùng Ân là cổng Hoằng Trạch Môn, đây là cổng kết thúc khu vực Tẩm Điện, với kiến trúc cổ điển duy nhất một cổng chính, cửa ra vào hình vòm, trên còn 3 tầng diện tích thu hẹp dần ở phía trên. Tầng trên cùng là có diện tích nhỏ nhất trên mái được kết thúc bằng hình quả bầu ở chính giữa, 3 tầng đều được làm thêm mái ngói, các diềm mái cong vút lên theo kiểu “đầu đao lá mái”. 

Cầu Trung Đạo 

Qua  cửa Hoằng Trạch Môn là lối dẫn đến cầu Trung Đạo, cầu được nối dài bắc qua hồ Trừng Minh đây là hồ tự nhiên do con suối chảy từ núi Cẩm Khê ra sông Hữu Trạch, hồ gồm hai nửa nối thông với nhau ở phía sau Điện Sùng Ân. Cầu Trung Đạo ở giữa 2 cây cầu hai bên là cầu Tả Phù và cầu Hữu Bật, cả 3 cây cầu này đều là đường dẫn đến tòa Minh Lâu và đều có xây thành bảo vệ trên mỗi chiếc cầu. Khi đứng trên cây cầu này ta thấy dưới có hồ nước, xung quanh có cây cối mát mẻ, cây cỏ hoa thơm. 

 Minh Lâu

Đi qua cây cầu dài là đến sân nghỉ chân, đây là khoảng sân phía trước tòa Minh Lâu, muốn tiến vào trong ta phải bước qua 33 bậc cầu thang, Tòa Minh Lâu gồm 2 tầng 8 mái được dựng trên đồi Tam Tài, trên nền đất cao bao quanh là được xây các thành bảo vệ. Vị trí của Minh Lâu được quy hoạch tương đồng với khu Tẩm Điện, ở vị trí này ta có thể nhìn bao quát được tất cả các hướng của Lăng Minh Mạng.

Mặt trước và mặt sau của toà đều có 3 cửa ra vào làm bằng gỗ, tường bao xây bằng gạch tạo nên độ chắc chắn cho tòa nhà, cũng như kiến trúc giống với các toà khác trong khu, tòa Minh Lâu cũng được xây dựng rất nhiều cột chống đỡ. Trên tầng hai từ toà chính tới lan can đều được làm hoàn toàn bằng gỗ sơn thếp đỏ, cả 2 tầng đều được lợp ngói men vàng, những góc mái không cong vút như những kiến trúc khác mà thoải xuống đất. 

Hai Tháp trụ biểu 

Phía sau Minh Lâu nổi bật nhất là hai Tháp Hoa trụ biểu dựng trên 2 ngọn núi Bình Sơn và Thành Sơn được thiết kế cao nhất trong tất cả các khu lăng tẩm của triều Nguyễn ở Huế. Vị trí của tháp trụ biểu nằm giữa Bửu Thành và phần Tẩm điện, được xem như là trạm dừng chân cuối cùng của thực tại trong thế giới duy độ vật chất để bước qua cánh cổng sang cõi vĩnh hằng. 

Cầu Chính Đại Quang Minh

Qua tòa Minh Lâu ta sẽ thấy có một cổng trụ biểu trên cổng đó có khắc 4 chữ “ Chính Đại Quang Minh” đây là cây cầu bắc qua hồ Tân Nguyệt (hồ có hình mặt trăng), để dẫn đến toà Bửu Thành. 

Bửu Thành

Khi đi qua cầu Thông Minh Chính Trực ta phải bước qua 33 bậc thang để vào được bên trong tòa Bửu Thành. Bửu Thành là nơi đặt phần mộ của vua Minh Mạng, nơi cư ngụ phần xác của vua được bao bọc bởi hồ Tân Nguyệt, trong cấu trúc hình tròn tượng trưng cho mặt trời, toà nằm ở giữa hồ, và khuôn viên hồ và toà Bửu Thành nằm trên một quả đồi có tên Khải Trạch Sơn. 

Hiện vật

Tài liệu tham khảo

  1. LĂNG HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG (Hiếu Lăng) – hueworldheritage.org.vn 
  2. Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) – Trang thông tin điện tử phường Vỹ Dạ. 
  3. Lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) – khamphahue.com.vn

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh (English)

Name and Geographic Location

The Minh Mang Tomb (also spelled Minh Menh) bears the formal name Hieu Lang (孝陵). It was built under the Nguyen dynasty by Emperor Thieu Tri and is located on Cam Ke Mountain, An Bang hamlet, Long Ho Ward, Phu Xuan District, Hue City, near the Bang Lang junction where the Huu Trach and Ta Trach branches converge to form the Huong River. The site lies about 12 km from the center of Hue.

History and Historical Figures
Construction History

In February 1820, Emperor Gia Long died. His fourth son, Nguyen Phuc Dam, ascended the throne, taking the reign title Minh Mang. From the early years of his rule, Minh Mang paid special attention to finding a site for his own son lang (imperial mausoleum). He viewed it not only as a burial place, but also as a work embodying an emperor’s political vision, filial piety, and cosmological worldview.

After many surveys, the court geomancer Le Van Duc selected a site judged to be an auspicious land (cat dia) on Cam Ke Mountain, near the Bang Lang junction where the Ta Trach and Huu Trach meet to form the Huong River. The area was considered ideal in feng shui terms: mountains and waterways encircle it, the terrain is elevated, the landscape is open yet solemn.

However, after nearly fourteen years of careful deliberation, Minh Mang only made the formal decision in 1840 to build the mausoleum there. He renamed Cam Ke Mountain (in An Bang hamlet, Huong Tra district) to Hieu Son, and named the tomb complex Hieu Lang. Minh Mang personally reviewed and approved the design blueprint submitted by senior officials Bui Cong Huyen, Truong Dang Que, and the Giam thanh ve, demonstrating his close attention to each detail of the project.

In April 1840, construction of Hieu Lang officially began. The emperor appointed officials Le Dang Danh, Nguyen Trung Mau, and Ly Van Phuc to command troops and laborers to excavate lakes and build the enclosing walls (la thanh). Yet in August of the same year, during an inspection visit, Minh Mang found that the excavation of Trung Minh Lake did not meet requirements; he demoted the responsible officials and ordered the work suspended.

Shortly after construction resumed, Minh Mang fell gravely ill and died on the 28th day of the twelfth lunar month of Canh Ty (January 20, 1841).

His successor, Emperor Thieu Tri, ordered the project resumed only one month later, strictly following the plan left by his father. Senior officials Ta Quang Cu, Ha Duy Phien, and Nguyen Tri Phuong were tasked with directing nearly 10,000 soldiers and artisans to accelerate construction.

On August 20, 1841, Minh Mang’s coffin was interred within the Buu Thanh. The remaining works continued and were officially completed in early 1843. From a once-wild mountain region, Hieu Lang became a monumental and imposing mausoleum complex, harmoniously combining built architecture with natural scenery and expressing the distinctive intellectual and aesthetic depth of the Nguyen court.

Figures Worshipped

Hieu Lang is the burial and worship site of Emperor Minh Mang (1791–1841), the second emperor of the Nguyen dynasty. He was the fourth son of Gia Long and played a major role in consolidating national unity, building a tightly centralized monarchical state apparatus, and laying a firm foundation for Nguyen stability in the first half of the 19th century.

In the worship precinct of Hieu Lang, Minh Mang’s spirit tablet is enshrined with solemn rites, reflecting the traditional Confucian ideal that one is “a wise ruler in life, and a sacred ancestral lord in death.”

Architecture and Landscape

The built area of the tomb is about 18 hectares, while the entire protected restricted zone surrounding it reaches 475 hectares, forming a vast, secluded, and dignified ecological–architectural space. Encircling the complex is an enclosing wall system (la thanh) about 1,750 m long, serving both defensive purposes and the delineation of sacred boundaries.

From the outer approach inward, the tomb is organized as a complete architectural ensemble of palaces, pavilions, halls, and terraces, arranged symmetrically along three parallel axes. The central axis is the spirit path (than dao), extending more than 700 m. Along this axis, buildings rise and fall in elevation in a rhythmic sequence, strictly adhering to yin–yang principles to create a unified and highly symbolic spatial cadence.

Interwoven among the structures are clear lakes fragrant with lotus and rolling pine-covered hills, producing a landscape that is both lyrical and majestic. The symmetry of the major elements conveys imperial solemnity and order, while subsidiary structures placed along winding paths around lakes and slopes create a softer, more leisurely, graceful experience—allowing the whole complex to blend naturally with its environment.

The overall massing has been likened to a human figure reclining at rest: the head leaning on Kim Phung Mountain, the feet extending toward the river junction in front, and the two halves of Trung Minh Lake resembling arms relaxed at the sides. This is a philosophically charged expression of harmony between the human being and the cosmos.

The Stele Pavilion Precinct

At the beginning of the spirit path stands the Dai Hong Mon, the main gate into the tomb, built of brick and lime mortar, over 9 m high and 12 m wide. It has three passages and a multi-tiered roofline, decorated with motifs such as carp transforming into a dragon and dragon-and-cloud patterns, considered a model example of Nguyen dynasty triple-gate architecture. Dai Hong Mon was opened only once—to admit the imperial coffin; thereafter, access was through the two side gates, Ta Hong Mon and Huu Hong Mon.

Beyond Dai Hong Mon lies the Bai dinh, a ceremonial courtyard paved with Bat Trang bricks, measuring 45 m × 45 m. Stone statues of civil mandarins, military mandarins, elephants, and horses line both sides, creating a solemn, quiet atmosphere.

At the end of the courtyard is the Bi dinh, situated on Phung Than Hill. Inside stands a Thanh-stone stele inscribed with the text “Thanh duc than cong”, composed by Emperor Thieu Tri in praise of his father’s life and merits. Next comes the Trieu le courtyard, divided into four large terraces, which both structure spatial rhythm and reduce the sense of being overwhelmed by the monumental scale.

The Worship Precinct

The worship precinct lies within a square, double-walled enclosure with gates opening on all four sides. The main gate is Hien Duc Mon, a wooden triple gate topped with an upper pavilion.

At the center is Sung An Hall, built in a double-structure style; in front stand the East and West Side Halls (Dong, Tay Phoi dien), and behind are the Left and Right Service Courtyards (Ta, Huu Tong vien). Inside, the spirit tablets of the emperor and Ta Thien Nhan Hoang Hau are worshipped.

Behind Sung An Hall is Trung Minh Lake, composed of two connected halves with three stone bridges spanning them, embracing the worship precinct like two “green lungs.” This space is both functional and deeply symbolic, representing the regulation and circulation of vital energy.

The worship zone ends at Hoang Trach Mon, a brick-built arched gate that marks the boundary between the worldly realm and the transcendent space beyond.

The Burial Precinct

Past the worship area, the space becomes more open, serene, and still. Seventeen Thanh-stone steps lead to three bridges—Ta Phu, Trung Dao, and Huu Bat—crossing Trung Minh Lake to reach Minh Lau. Minh Lau is a two-story pavilion with eight roof planes, built on Tam Tai Hill, symbolizing Eastern philosophical notions of the universe and human life. It is regarded as the dwelling place of the former emperor’s spirit and as the terminus of the finite world.

Behind Minh Lau lies Tan Nguyet Lake, shaped like a crescent moon embracing the Buu Thanh. The lake symbolizes the yin element surrounding the yang element of the tomb, expressing a cosmology of generation and cosmic operation.

Crossing the Thong Minh Chinh Truc Bridge and ascending 33 steps, one reaches the Buu Thanh, circular in form, with a perimeter of 273 m and a height of 3.5 m, enclosing the Huyen cung—the underground chamber where the emperor is buried. Behind it stretches a deep pine forest, intensifying the sense of seclusion and sacredness.

Auxiliary Structures

Along the two left and right axes parallel to the spirit path once stood many auxiliary buildings—Truy Tu Trai, Quan Lan So, Linh Phuong Cac, Nghenh Luong Quan, Hu Hoai Ta, Dieu Ngu Dinh, and others—serving the emperor’s rest and enjoyment. Most have now collapsed, leaving only foundations.

Notably, the complex preserves nearly 600 carved poetry panels on the Bi dinh, Hien Duc Mon, Sung An Hall, and Minh Lau—often described as a precious “poetry museum” of early 19th-century Vietnamese verse.

Objects and Remains

Courtyard attendant statues at the Bai dinh

The “Thanh duc than cong” stone stele

The altar table inside Sung An Hall

Ceremonial marker pillars (tru bieu) of the Minh Mang Tomb

References

  1. LĂNG HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG (Hiếu Lăng) – hueworldheritage.org.vn 
  2. Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) – Trang thông tin điện tử phường Vỹ Dạ. 
  3. Lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) – khamphahue.com.vn

Tiếng Pháp (Français’)

Appellation et localisation geographique

Le tombeau de Minh Mang (egalement appele Minh Menh) porte comme nom sino-vietnamien Hieu lang (孝陵). Il fut construit sous la dynastie Nguyen a l’initiative de l’empereur Thieu Tri. Le complexe est situe sur le mont Cam Ke, a An Bang, quartier Long Ho, arrondissement Phu Xuan, ville de Hue, pres du carrefour fluvial de Bang Lang, point de confluence des deux cours Huu Trach et Ta Trach formant la riviere Huong. Il se trouve a environ 12 km du centre de la ville de Hue.

Histoire et figures honorees
Histoire de la construction

En fevrier 1820, l’empereur Gia Long mourut. Son quatrieme fils, Nguyen Phuc Dam, monta sur le trone sous le nom de regne Minh Mang. Des les premieres annees de son regne, Minh Mang attacha une importance particuliere a la recherche d’un site pour son Son lang (mausolee imperial), considerant qu’il ne s’agissait pas seulement d’un lieu de sepulture, mais aussi d’une oeuvre exprimant une conception politique, la piete filiale, ainsi qu’une vision cosmologique propre a un souverain.

Apres de nombreuses reconnaissances, le geometre-geomancien Le Van Duc choisit un terrain juge favorable, situe au mont Cam Ke, pres de Bang Lang, la ou Ta Trach et Huu Trach se rejoignent pour former la riviere Huong. La zone reunissait les conditions geomantiques essentielles : montagnes et cours d’eau enveloppants, relief eleve et sec, paysage ample tout en demeurant grave et meditatif.

Toutefois, apres pres de quatorze ans de reflexion, ce n’est qu’en 1840 que Minh Mang decida officiellement d’y edifier son mausolee. Il renomma le mont Cam Ke (alors situe a An Bang, district de Huong Tra) en Hieu Son, et donna au tombeau le nom de Hieu Lang. Le souverain examina et valida personnellement les plans presentes par les grands dignitaires Bui Cong Huyen, Truong Dang Que et le corps Giam thanh ve, preuve de son attention minutieuse a chaque detail du projet.

En avril 1840, les travaux de Hieu Lang commencerent officiellement. Minh Mang chargea les mandarins Le Dang Danh, Nguyen Trung Mau et Ly Van Phuc de diriger soldats et ouvriers pour creuser les bassins et edifier l’enceinte (la thanh). Cependant, en aout de la meme annee, lors d’une inspection, Minh Mang jugea que le creusement du lac Trung Minh ne repondait pas aux exigences : il retrograda les responsables et ordonna la suspension du chantier.

Peu apres, alors que les travaux reprenaient, Minh Mang tomba gravement malade et mourut le 28e jour du 12e mois de l’annee Canh Ty (soit le 20/1/1841).

Son successeur Thieu Tri, un mois seulement apres son accession, ordonna la reprise immediate du chantier conformement au projet laisse par son pere. Les grands dignitaires Ta Quang Cu, Ha Duy Phien et Nguyen Tri Phuong furent charges de commander pres de 10 000 soldats et artisans, mobilises pour accelerer l’execution.

Le 20 aout 1841, le cercueil de Minh Mang fut inhume dans le Buu thanh. La construction de Hieu Lang se poursuivit et fut officiellement achevee au debut de 1843. D’un paysage montagneux initialement sauvage, le site devint un ensemble monumental et solennel, combinant harmonieusement architecture construite et environnement naturel, tout en portant une profondeur ideologique et esthetique caracteristique de la dynastie Nguyen.

Personnage honore

Hieu Lang est le lieu d’inhumation et de culte de l’empereur Minh Mang (1791–1841), deuxieme souverain de la dynastie Nguyen. Quatrieme fils de Gia Long, il joua un role majeur dans la consolidation de l’unite du pays, l’edification d’un Etat monarchique centralise fortement structure, et l’etablissement de bases stables pour la dynastie Nguyen durant la premiere moitie du XIXe siecle.

Dans le sanctuaire du mausolee, la tablette (long vi) de Minh Mang est honoree avec solennite, conformement a l’ethique confucianiste resumee par l’idee : « vivant, souverain eclaire ; mort, maitre tutelaires des esprits ».

Architecture et paysage

Le complexe architectural couvre environ 18 hectares, tandis que l’ensemble de la zone interdite entourant le mausolee atteint environ 475 hectares, formant un espace ecologique et architectural vaste, isole et sacralise. Autour du site, l’enceinte (la thanh) s’etend sur environ 1 750 m, assurant a la fois protection et delimitation du territoire sacre du mausolee imperial.

Du dehors vers le dedans, le mausolee se presente comme un ensemble architectural complet — palais, pavillons, belvederes, kiosques — dispose de maniere symetrique selon trois axes paralleles. L’axe central, le Than dao (voie sacree), depasse 700 m. Le long de cet axe, les batiments s’ordonnent selon des variations de niveau soigneusement cadencees, obeissant aux principes du yin et du yang, et produisant un rythme spatial coherent et hautement symbolique.

Entre les edifices s’inserent des lacs aux eaux claires, des etendues de lotus odorants et des collines couvertes de pins, composant un paysage a la fois poetique et grandiose. La symetrie des composantes majeures confere au site la dignite normative d’un tombeau imperial, tandis que les constructions secondaires, disposees le long de chemins sinueux autour des lacs et sur les pentes, introduisent une sensation de douceur et de detente, permettant a l’ensemble de se fondre dans la nature.

Le volume general du mausolee est souvent compare a la silhouette d’un etre humain allonge au repos : la tete appuyee sur le mont Kim Phung, les pieds etendus vers la confluence fluviale a l’avant, et les deux moities du lac Trung Minh evoquant des bras reposant naturellement. Cette metaphore traduit une conception philosophique de l’harmonie entre l’homme et l’univers.

Zone du Bi dinh

Au debut de la voie sacree se dresse le Dai Hong Mon, porte principale du mausolee, construite en briques et mortier de chaux, haute de plus de 9 m et large de 12 m. Elle comporte trois passages ; sa toiture se compose de niveaux superposes de hauteurs variees, ornes de motifs tels que la carpe se transformant en dragon, et des arabesques de dragons et de nuages. Le Dai Hong Mon n’aurait ete ouvert qu’une seule fois, lors du passage du cercueil imperial ; par la suite, l’acces se fit par les deux portes laterales Ta Hong Mon et Huu Hong Mon.

Derriere la porte s’etend le Bai dinh, cour ceremonielle pavee de briques de Bat Trang, de 45 m × 45 m. De chaque cote se dressent des statues de pierre representant mandarins civils et militaires, elephants et chevaux, creant une atmosphere silencieuse et solennelle.

Au fond de la cour se trouve le Bi dinh, installe sur le mont Phung Than. A l’interieur est placee une stele en pierre de Thanh, portant le texte “Thanh duc than cong” compose par l’empereur Thieu Tri, louant l’origine et les merites de son pere. Vient ensuite la cour de ceremonie Trieu le, divisee en quatre grandes terrasses, qui instaurent un rythme spatial tout en atténuant l’effet d’ecrasement du monumental.

Zone du sanctuaire (tam tho)

La zone cultuelle est contenue dans une enceinte double de plan carre, ouverte par des portes sur les quatre faces. La porte principale est Hien Duc Mon, une porte en bois de type tam quan, surmontee d’un petit pavillon. Le centre du sanctuaire est le pavillon Sung An, construit selon le type de maison double ; a l’avant se trouvent les Dong et Tay Phoi dien, et a l’arriere les Ta et Huu Tong vien. A l’interieur sont veneres les tablettes de l’empereur ainsi que de Ta Thien Nhan Hoang hau.

Derriere le pavillon Sung An s’etend le lac Trung Minh, compose de deux bassins communiquant et franchis par trois ponts de pierre. Il enveloppe la zone cultuelle comme deux « poumons verts », combinant une fonction concrete d’amenagement et une forte valeur symbolique liee a la regulation du souffle vital.

La zone du sanctuaire se termine par Hoang Trach Mon, une porte voutee en brique, marquant la limite entre le monde ordinaire et l’espace de detachement situe a l’arriere.

Zone sepulcrale (khu lang mo)

Au-dela du sanctuaire, l’espace devient plus ouvert, plus calme. Dix-sept marches en pierre de Thanh conduisent a trois ponts — Ta Phu, Trung Dao et Huu Bat — jetes au-dessus du lac Trung Minh et menant au Minh Lau. Cet edifice, tour a deux niveaux et huit toitures, est bati sur la colline Tam Tai Son ; il porte une signification cosmologique et anthropologique dans la philosophie orientale. Le Minh Lau est considere comme le lieu de sejour de l’ame de l’empereur defunt et comme un point d’aboutissement du monde fini.

Derriere le Minh Lau se trouve le lac Tan Nguyet, en forme de croissant, qui enlace le Buu thanh. Il symbolise l’element Yin enveloppant l’element Yang represente par la sepulture, exprimant une conception de la generation et du fonctionnement de l’univers.

En franchissant le pont Thong Minh Chinh Truc puis 33 marches, on atteint le Buu thanh, de forme circulaire, d’un perimetre de 273 m et d’une hauteur de 3,5 m, entourant le Huyen cung, chambre funeraire ou repose l’empereur. A l’arriere s’etend une foret de pins denses, renforcant l’impression de recueillement et de sacralite.

Ouvrages secondaires

Le long des deux axes lateraux paralleles a la voie sacree se trouvaient autrefois de nombreux ouvrages annexes — Truy Tu Trai, Quan Lan So, Linh Phuong Cac, Nghe nh Luong Quan, Hu Hoai Ta, Dieu Ngu Dinh… — destines au repos et a la contemplation du souverain. La plupart ont aujourd’hui disparu ou ne subsistent qu’a l’etat de fondations.

On remarque en outre, dans l’ensemble du complexe, pres de 600 compartiments de caracteres portant des poemes graves sur le Bi dinh, Hien Duc Mon, le pavillon Sung An et le Minh Lau, souvent consideres comme un veritable « musee de la poesie » de la premiere moitie du XIXe siecle vietnamien.

Objets et elements remarquables

Statues de gardiens sur le Bai dinh

Stele Thanh duc than cong

Table d’offrandes a l’interieur du pavillon Sung An

Colonnes ceremonielle (tru bieu) du tombeau de Minh Mang

References

  1. LĂNG HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG (Hiếu Lăng) – hueworldheritage.org.vn 
  2. Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) – Trang thông tin điện tử phường Vỹ Dạ. 
  3. Lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) – khamphahue.com.vn

Tiếng Trung (中文)

名称与地理位置

明命陵(亦称“明命”)其字名为孝陵(孝陵)。该陵由阮朝绍治帝下令营建,位于顺化市富春郡隆湖坊安邦邑锦鸡山(Cẩm Kê)上,近槟朗(Bằng Lãng)三岔口——右泽(Hữu Trạch)与左泽(Tả Trạch)两水汇流成香江(Hương)之处,距顺化市中心约12公里。

历史与人物
营建历史

1820年2月,嘉隆帝崩。第四皇子阮福胆即位,改元明命。即位之初,明命帝便格外重视为自身择地营建“山陵”,视其不仅为安葬之所,更是体现帝王政治思想、孝道观念与宇宙秩序观的象征性工程。

经多次踏勘,堪舆官黎文德选定锦鸡山一带为“吉地”,地处槟朗三岔口附近,为左泽与右泽两支汇合形成香江之处。此地具备重要风水要素:山水环抱、地势高爽,景观开阔而不失沉静肃穆。

然而,明命帝经过近十四年的审慎权衡,至1840年方正式决定在此营建陵寝。帝将锦鸡山(原属香茶县安邦邑)改名为孝山,并定陵名为孝陵。明命帝亲自审阅并批准由诸大臣裴公瑄、张登桂及监城卫呈进的设计图样,显示其对工程细节的高度关注。

1840年4月,孝陵正式动工。帝命黎登名、阮忠茂与李文馥统率军士工匠开凿湖泊、修筑罗城。然而同年8月,明命帝亲临稽察,认为澄明湖开掘不合要求,遂降黜相关官员并下令停工。

停工不久,工程方复续,明命帝即重病,庚子年腊月二十八日(1841年1月20日)崩逝。

绍治帝继位后,仅一月便即命按先帝遗留图案继续施工,并委谢光巨、何维藩与阮知方统率近一万名军士与工匠加紧营建。

1841年8月20日,明命帝灵柩葬入宝城。孝陵工程继续完善,至1843年初正式竣工。自一片荒山丘陵之地,孝陵遂成规模宏大、气势庄严的陵寝群,人工建筑与自然景观相互融合,并蕴含阮朝特有的思想深度与审美体系。

奉祀对象

孝陵为明命帝(1791—1841)之安葬与奉祀之地。明命帝为阮朝第二位皇帝,嘉隆帝第四子,在巩固国家统一、建立严密的中央集权君主官僚体系方面功绩卓著,并为19世纪上半叶阮朝政局稳定奠定坚实基础。

在孝陵寝殿区,明命帝龙位被庄严奉祀,体现传统儒家“生为明君,死为神主”的伦理观念。

建筑与景观

陵区建筑面积约18公顷,而环绕陵寝的禁地范围达475公顷,构成一处广阔、独立且肃穆的生态—建筑空间。外围罗城全长约1,750米,既具防护功能,又确立皇家陵寝的神圣边界。

由外而内,陵区组织为一套完备的建筑群体系,包括宫殿、楼阁、亭榭等,整体对称布置于三条平行轴线上,其中神道为中轴,延伸逾700米。沿神道的建筑按高程起伏有序排列,严守阴阳原理,使空间节奏统一且富象征意味。

建筑之间穿插清澈湖泊、荷香弥漫的水面与覆满松林的丘陵,营造出兼具柔美与雄浑的景致。主体建筑的对称格局呈现帝王陵寝的威严与规范;而附属建筑沿湖畔与山坡曲径布置,又使整体更显闲雅、舒展,使陵区与自然相融。

陵区整体形态常被比拟为一位安卧休憩之人:头枕金凤山,足伸向前方三岔河口,两半澄明湖如双臂自然垂放。这是一种富于哲学意味的表达,象征人—宇宙之和谐统一。

碑亭区

神道起点为大红门——陵区正门,灰砖石灰砌筑,高逾9米、宽12米。门设三道通行口,屋顶多层高低错落,饰以“鲤鱼化龙”、龙云等纹样,被视为阮朝三关门(“三门”)建筑的典范。大红门仅开启一次,用以迎送先帝灵柩入陵;其后出入改由左右两侧附门——左红门与右红门通行。

大红门后为拜亭庭院,铺八场砖,面积约45×45米。庭院两侧列立文官、武官、象与马之石像,营造庄严静肃之氛围。

庭院尽端为碑亭,坐落于凤神山。亭内置青石碑,刻《圣德神功》文,由绍治帝撰写,以颂扬先帝身世与功业。其后为朝礼院,分四大级台阶,既形成空间节奏,也缓解宏大建筑带来的压迫感。

寝殿奉祀区

寝殿区位于方形双重城墙围合之内,四面开门。正门为显德门,为木构三关门,上有古楼。其中心为崇恩殿,为重屋建筑,前置东、西配殿,后设左、右从院。殿内奉祀皇帝与佐天仁皇后之牌位。

崇恩殿后为澄明湖,由相通的两半湖组成,其上架三座石桥,环抱寝殿区,如两片“绿色肺叶”,既具现实的生态调节意义,也蕴含深层象征——调和生气、涵养灵境。

寝殿区末端为弘泽门,为砖砌拱门,标示尘俗世界与后方超脱空间之间的界限。

陵墓区

越过寝殿区,空间更显开阔与寂静。十七级青石台阶引向三座桥:左扶、中道、右弼,横跨澄明湖通往明楼。明楼为两层八顶楼阁,建于三才山之上,象征东方哲学的宇宙与人生观。明楼被视为先帝神魂所居之处,亦象征有限世界的终点。

明楼之后为新月湖,呈弯月形环抱宝城。湖象征“阴”,包裹作为墓域的“阳”,体现宇宙生化运行之理。

经“聪明正直桥”与三十三级台阶抵达宝城。宝城呈圆形,周长273米,高3.5米,环护玄宫——安葬皇帝之所。其后松林深翠,愈增幽寂与神圣之感。

附属建筑

神道左右两条平行轴线上曾布置多处附属建筑,如追思斋、观澜所、灵芳阁、迎凉馆、虚怀榭、钓鱼亭等,供皇帝休憩与游赏之用。今多已倾圮,仅余基址。

尤为重要的是,陵区现存近600格刻诗题刻,分布于碑亭、显德门、崇恩殿与明楼等处,被视为19世纪初越南诗歌艺术的珍贵“诗歌博物馆”。

现物

拜亭庭院石像群(朝立官像)

《圣德神功》青石碑

崇恩殿内供案(祭案)

明命陵表柱(阙表、标柱)

参考资料

  1. LĂNG HOÀNG ĐẾ MINH MẠNG (Hiếu Lăng) – hueworldheritage.org.vn 
  2. Lăng Minh Mạng (Hiếu Lăng) – Trang thông tin điện tử phường Vỹ Dạ. 
  3. Lăng vua Minh Mạng (Hiếu Lăng) – khamphahue.com.vn
5/5 (1 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)