Tùng Thiện Vương (1818-1870)

Tùng Thiện Vương (1818-1870)

Thông tin cơ bản

Thân thế

Tùng Thiện vương là con trai thứ 10 của Minh Mạng, sinh ngày 24 tháng 10 năm Kỷ Mão (tức 11 tháng 12 năm 1819) tại cung Thanh Hòa trong cấm thành Huế. Mẹ ông là Thục tần Nguyễn Khắc Thị Bảo, người Gia Định, rất giỏi chữ nghĩa.

Thuở lọt lòng, ông được ông nội đặt tên là Hiện (晛).  Đến năm 1832, khi có Đế hệ thi, ông được cải tên là Nguyễn Phúc Miên Thẩm (阮福綿審).

Ông nội ông là vua Gia Long rất vui mừng, thưởng liền 10 lạng vàng. Khi còn nhỏ, tính hay khóc, Thục tần rất lo mà không biết thế nào. Bỗng có đạo sĩ nói rằng: “Đây là sao Thái Bạch Kim Tinh giáng sinh, làm lễ tiễn thì khỏi.”. Sau làm lễ, quả nhiên khỏi hẳn.

Năm lên 7 tuổi, Miên Thẩm cùng với các em vào Dưỡng Chính đường (養正堂), được thầy Thân Văn Quyền dạy chu đáo. Ông rất chịu khó học tập, nên mới 8 tuổi (1827), nhân theo hầu vua Minh Mạng dự lễ Nam Giao, ông làm bài Nam Giao thi, rất được tán thưởng.

Tham gia chính sự

Năm 1839, ông được phong làm Tùng Quốc công (從國公), mở phủ ở phường Liêm Năng, bên bờ sông An Cựu, Huế.

Năm 1849, ông cho xây dựng thêm Tiêu Viên ở phía sau phủ đệ, đón mẹ cùng ba người em gái là Nguyệt Đình, Mai Am và Huệ Phố về phụng dưỡng, chăm sóc chu đáo. Khi các em lần lượt xuất giá, lại gặp lúc mẹ qua đời, ông cho cải tạo phủ chính làm nhà thờ tổ, còn bản thân lui về ở tại Tiêu Viên, dựng một lều tranh bên cạnh phần mộ của mẹ để cư tang đủ ba năm, thể hiện trọn vẹn đạo hiếu.

Đến năm 1854, sau khi mãn tang, ông được triều đình gia phong tước Tùng Thiện công (從善公). Năm 1858, ông mua mười hai mẫu ruộng tại xã Dương Xuân, dựng một ngôi nhà ở và đặt tên là Phương Thốn thảo đường, làm nơi sinh hoạt và sáng tác.

Năm 1865, ông được bổ nhiệm giữ chức Tả Tôn Nhân phủ. Trong thời gian này xảy ra biến cố được gọi là “giặc chày vôi”. Trước đó, ông đã gả con gái là Thể Cúc cho Đoàn Hữu Trưng, một thanh niên làng An Truyền (tức làng Chuồn). Năm 1866, Đoàn Hữu Trưng ngầm tổ chức cuộc nổi dậy nhằm lật đổ vua Tự Đức. Cuộc khởi sự thất bại, Hữu Trưng cùng nhiều người liên quan bị xử tử. Tuy trước đó, Hữu Trưng đã lấy cớ vợ cư xử trái lễ với mẹ chồng để trả con gái ông về nhà, nhằm tránh liên lụy cho bên ngoại, song Tùng Thiện công vẫn tự trói con gái và cháu ngoại, quỳ dâng sớ xin chịu tội thay.

Vua Tự Đức xét tình mà không truy cứu trách nhiệm hình pháp, chỉ quở trách rằng: “Chọn rể không cẩn thận, để mất thanh danh”, rồi hạ lệnh trừ bổng lộc của ông trong tám năm. Trong quãng thời gian bị trừ bổng ấy, ông lui về nương náu tại ngôi chùa cổ Từ Lâm đã hoang phế ở xã Dương Xuân. Cuộc sống gia đình hết sức thanh đạm, vợ con phải tự tay canh tác, trồng cây trái đem ra chợ bán để duy trì sinh kế hằng ngày.

Ông mất ngày 30 tháng 3 năm Canh Ngọ (tức ngày 30 tháng 4 năm 1870), hưởng dương 51 tuổi. Thụy hiệu của ông là Văn Nhã (文雅). Năm 1878, vua Tự Đức truy tặng ông tước Tùng Thiện Quận vương (從善郡王), đồng thời ban bộ chữ “Nhục” (肉) làm bộ đặt tên cho con cháu trong chi hệ.

Đến năm 1936, vua Bảo Đại mới chính thức truy phong ông tước Tùng Thiện Vương (從善王), danh xưng được hậu thế quen dùng cho đến ngày nay.

Tác phẩm

Sự nghiệp trước tác của Tùng Thiện Vương rất phong phú (14 tập). Trong số đó đáng kể là Thương Sơn thi tập, gồm 54 quyển chia ra 8 tập với hơn 2.200 bài thơ. Các tác phẩm khác: Thương Sơn từ tập, Thương Sơn thi thoại, Thương Sơn ngoại tập, Thương Sơn văn di v.v…

Gia quyến

Thân phụ: Nguyễn Thánh Tổ Minh Mạng.

Thân mẫu: Nguyễn Thị Bảo (阮氏寶, 7 tháng 9 năm 1801–12 tháng 9 năm 1851), người Bình Chương, Gia Định, con gái của Tư không Nguyễn Khắc Thiệu (阮克紹). Tước phong Thục tần (淑嬪), sau có tội mà bị tước đi, cùng Tùng Thiện vương đến Tiêu viên sống. Sau khi qua đời, Tự Đức nghe tấu thỉnh của Tùng Thiện vương mà gia phục Thục tần vị hào, ban thụy Đoan Liệt (端烈).

Chính thất: Trương Thúy Nương (張氏恕), con gái của Trương Đăng Quế.

Anh chị em

Em trai: Nguyễn Phúc Miên Hựu (阮福綿宥), hoàng tử thứ 14 của Minh Mạng, không có truyện.

Em gái: Quy Đức công chúa Nguyễn Phúc Vĩnh Trinh (歸德公主阮福永禎), tự Trọng Khanh (仲卿), con gái thứ 18 của Minh Mạng.

Em gái: Lại Đức công chúa Nguyễn Phúc Trinh Thận (賴德公主阮福貞慎), tự Thúc Khanh (叔卿), con gái thứ 25 của Minh Mạng.

Em gái: Thuận Lễ công chúa Nguyễn Phúc Tĩnh Hòa (順禮公主阮福靜和), tự Quý Khanh (季卿), con gái thứ 34 của Minh Mạng.

Hậu duệ

Tùng Thiện vương có tất cả 20 con trai, 12 con gái

Con trai:

Nguyễn Phúc Hồng Nhị (阮福洪膩), tự Sĩ Trường (士長).

Con trai thứ 2 chết yểu.

Nguyễn Phúc Hồng Phì (阮福洪肥), tự Sĩ Thắng (士勝), Tham tri bộ Lại, tập phong Tùng Thiện huyện công (從善縣公). Thời Phế đế bị quyền thần hãm hại sau tặng Quận vương.

Nguyễn Phúc Hồng Cơ (阮福洪肌).

Nguyễn Phúc Hồng Quan (阮福洪𦜐).

Nguyễn Phúc Hồng Tiếu (阮福洪肖).

Nguyễn Phúc Hồng Năng (阮福洪能).

Nguyễn Phúc Hồng Tích (阮福洪脊), tập phong tước Hầu.

Nguyễn Phúc Hồng Kiên (阮福洪肩).

Con trai thứ 10 chết yểu.

Nguyễn Phúc Hồng Chuân (阮福洪肫).

Nguyễn Phúc Hồng Dục (阮福洪育), Bộ lăng Phó sử.

Nguyễn Phúc Hồng Khẳng (阮福洪肯), tự Sĩ Hoạch (士彠), Thanh Hóa bố chánh sử.

Nguyễn Phúc Ưng Trình (阮福膺脭), tự Kính Đình (敬亭), thi nhân nổi tiếng.

Nguyễn Phúc Hồng Ngật (阮福洪肐).

Nguyễn Phúc Hồng Vị (阮福洪胃).

Con trai thứ 15 chết yểu.

Nguyễn Phúc Hồng Dẫn (阮福洪胤).

Nguyễn Phúc Hồng Bảo (阮福洪胞).

Nguyễn Phúc Hồng Cao (阮福洪膏).

Nguyễn Phúc Hồng Tỷ (阮福洪腊).

Con gái:

Nguyễn Phúc Thể Cúc (阮福世菊), lấy Đoàn Hữu Trưng. Về sau bị buộc cải sang họ mẹ và phải đi tu. Có một con trai.

Nguyễn Phúc Thức Huấn (阮福識訓), lấy Tri phủ Hồ Đắc Tuấn (胡得俊), sinh Khánh Mỹ quận công Hồ Đắc Trung (胡得忠).

Nguyễn Phúc Thể Tảo (阮福世藻).

Nguyễn Phúc Gia Chức (阮福嘉織).

Nguyễn Phúc Thể Mão (阮福世卯).

Nguyễn Phúc Chấp Khôn (阮福執坤).

Nguyễn Phúc Khiêm Uyên (阮福謙淵).

Nguyễn Phúc Nhuỵ Khuyên (阮福蕊勸).

Nguyễn Phúc Nhĩ Ty (阮福爾絲), lấy Thái Văn Bút (蔡文筆), sinh Thượng thư Thái Văn Toản (蔡文瓚).

Nguyễn Phúc Nhĩ Kiên (阮福爾肩).

Nguyễn Phúc Hữu Quân (阮福友君).

Nguyễn Phúc Nhĩ Nhẫn (阮福爾紉).

Tùng Thiện Vương phủ

Phủ Tùng Thiện Vương có có diện tích khuôn viên tổng thể 76m*21m = 1596m2, trong đó diện tích di tích kiến trúc gần 300m2 , không gian xung quanh phủ là vườn tược xanh tươi, nơi đây được cho là vương quốc của cây hoa phấn, bí quyết làm đẹp của nữ giới xưa và có cây mai hơn 130 tuổi cho chính tay Tùng Thiện Vương trồng. Phủ Tùng Thiện Vương còn lưu giữ 1.000 văn bản Hán – Nôm của vị vương gia được Minh Mạng phong tặng là Thi Ông.

Phủ Tùng Thiện Vương là một vương phủ bề thế và quy mô, cả trong lẫn ngoài có đến 16 công trình kiến trúc, như: Thương Hà Bạch Lộ đường (nơi tiếp đãi sĩ phu, cũng là nơi tiếp nhận các bản thảo thi văn của vua Tự Đức do Thị vệ chuyển từ Đại Nội sang để Tùng Quốc công nhuận sắc giúp vua), Mô trường (nơi Tùng Quốc công cùng các huynh đệ, bằng hữu, con cháu, học trò ngâm vịnh thi phú), Bạch Bí (nơi ở của các bà vợ của Tùng Quốc công), Tùng Vân (thư phòng để thơ văn và bút nghiên), Cổ Cầm đình (nơi Tùng Quốc công đàn hát, đánh cờ, chơi mạt chược với gia nhân và bằng hữu), Mặc Vân sào (nơi lưu trữ và tra cứu kinh, sử, tử, truyện của Nho giáo), Xuy Tiêu ủy (nơi Tùng Quốc công thường thổi sáo trúc cùng các nghệ nhân), Sở Tụng đình (vườn trồng cam, quýt, bưởi, phật thủ…), Hàn Lục hiên (vườn trồng hoa), Vô Phi tân tạ (nhà tắm nằm bên cạnh hồ nước có dựng giả sơn), Nhất Quyên thạch (cầu đá được bắc qua hồ nước để ngắm cảnh), Không Minh bộ (đường đi dạo quanh Ký Thưởng viên), Thanh Tịnh thối (cửa đi vào phủ, về sau đổi gọi là Tùng Thiện vương từ môn), Bến phủ (bến nước trước phủ, dân gian vẫn gọi là “bến phủ Tùng”, nơi có chiếc thuyền buồm nhỏ để Tùng Quốc Công dạo chơi trên sông Lợi Nông và sông Hương)… Bởi vậy, nếu như các phủ đệ khác đều được xem như biệt phủ của các ông hoàng, bà chúa thì phủ Tùng Thiện Vương là nơi lui tới đàm đạo thơ văn giữa các Nho sĩ đương thời, các tao nhân mặc khách, trong đó phải kể đến Khâm sứ triều đình mãn Thanh Lao Sùng Quang cũng vì mến mộ tài năng của chủ nhân mà tới đây đàm đạo văn chương, thế sự.

Tài liệu tham khảo

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.

Ngôn ngữ khác

Tiếng Anh

Tung Thien Vuong (1818–1870)

Background

Tung Thien Vuong was the tenth son of Minh Mang. He was born on the 24th day of the 10th lunar month of the Ky Mao year (i.e., 11 December 1819) at Thanh Hoa Palace within the Imperial City of Hue. His mother was Thuc tan Nguyen Khac Thi Bao, a native of Gia Dinh, who was highly accomplished in letters.

At birth, his grandfather bestowed upon him the name Hien (晛). In 1832, when the imperial generational poem (De he thi) was promulgated, his name was changed to Nguyen Phuc Mien Tham (阮福綿審).

His grandfather, Emperor Gia Long, was greatly pleased and immediately rewarded him with ten taels of gold. As a child, he was prone to crying constantly, which caused his mother great concern. A Daoist priest once said: “This is the descent of the Star Thai Bach Kim Tinh; if a sending-off ritual is performed, it will be cured.” After the ritual was carried out, the condition indeed disappeared completely.

At the age of seven, Mien Tham, together with his younger siblings, entered Duong Chinh Duong (養正堂), where he was carefully instructed by the teacher Than Van Quyen. He was very diligent in his studies, and at only eight years old (1827), when accompanying Emperor Minh Mang to the Nam Giao ceremony, he composed the poem Nam Giao thi, which won great praise.

Participation in state affairs

In 1839, he was granted the title Tung Quoc cong (從國公) and established his residence in Liem Nang ward, on the bank of the An Cuu River in Hue.

In 1849, he had Tieu Vien built behind his residence and brought his mother and three younger sisters—Nguyet Dinh, Mai Am, and Hue Pho—to live there, caring for them attentively. When his sisters were gradually married off, and his mother subsequently passed away, he converted the main residence into an ancestral shrine. He himself withdrew to live at Tieu Vien, building a thatched hut beside his mother’s grave and observing the full three-year mourning period, thereby fulfilling his filial duty.

In 1854, after completing the mourning period, he was promoted by the court to the rank of Tung Thien cong (從善公). In 1858, he purchased twelve mau of farmland in Duong Xuan commune, built a residence there, and named it Phuong Thon Thao Duong, which became a place for daily life and literary composition.

In 1865, he was appointed to the post of Ta Ton Nhan Phu. During this period, an incident known as the “lime-pestle rebels” occurred. Earlier, he had married his daughter The Cuc to Doan Huu Trung, a young man from An Truyen village (also known as Chuon village). In 1866, Doan Huu Trung secretly organized an uprising aimed at overthrowing Emperor Tu Duc. The uprising failed, and Huu Trung, along with many others involved, was executed. Although prior to this Huu Trung had sent his wife back to her natal family on the pretext that she had behaved improperly toward her mother-in-law, in order to avoid implicating her maternal relatives, Tung Thien cong nevertheless bound his daughter and grandson himself, knelt, and submitted a memorial requesting to bear the punishment in their stead.

Emperor Tu Duc, taking circumstances into account, did not impose criminal punishment, but reprimanded him, saying: “You were careless in choosing a son-in-law and thus lost your good name,” and ordered that his stipend be suspended for eight years. During this period without salary, he withdrew to reside at the abandoned ancient Tu Lam Pagoda in Duong Xuan commune. His family life was extremely frugal; his wife and children had to farm by hand and sell produce at the market to sustain their daily livelihood.

He died on the 30th day of the 3rd lunar month of the Canh Ngo year (i.e., 30 April 1870), at the age of 51. His posthumous title was Van Nha (文雅). In 1878, Emperor Tu Duc posthumously granted him the title Tung Thien Quan vuong (從善郡王) and bestowed the radical “Nhuc” (肉) as the naming radical for the descendants of his lineage.

In 1936, Emperor Bao Dai officially elevated his posthumous rank to Tung Thien Vuong (從善王), the title by which he has since been commonly known.

Works

The literary output of Tung Thien Vuong was extremely rich, comprising fourteen collections. The most notable is Thuong Son thi tap, consisting of 54 juan divided into eight volumes, with more than 2,200 poems. Other works include Thuong Son tu tap, Thuong Son thi thoai, Thuong Son ngoai tap, Thuong Son van di, and others.

Family

Father: Nguyen Thanh To Minh Mang.

Mother: Nguyen Thi Bao (阮氏寶, 7 September 1801 – 12 September 1851), a native of Binh Chuong, Gia Dinh, daughter of Tu khong Nguyen Khac Thieu (阮克紹). She was granted the title Thuc tan (淑嬪), later stripped of it due to an offense and lived with Tung Thien Vuong at Tieu Vien. After her death, Emperor Tu Duc, upon Tung Thien Vuong’s petition, restored her rank and bestowed the posthumous title Doan Liet (端烈).

Principal wife: Truong Thuy Nuong (張氏恕), daughter of Truong Dang Que.

Siblings

Younger brother: Nguyen Phuc Mien Huu (阮福綿宥), the 14th prince of Minh Mang, with no separate biography recorded.

Younger sister: Quy Duc cong chua Nguyen Phuc Vinh Trinh (歸德公主阮福永禎), style name Trong Khanh (仲卿), the 18th daughter of Minh Mang.

Younger sister: Lai Duc cong chua Nguyen Phuc Trinh Than (賴德公主阮福貞慎), style name Thuc Khanh (叔卿), the 25th daughter of Minh Mang.

Younger sister: Thuan Le cong chua Nguyen Phuc Tinh Hoa (順禮公主阮福靜和), style name Quy Khanh (季卿), the 34th daughter of Minh Mang.

Descendants

Tung Thien Vuong had a total of 20 sons and 12 daughters.

  • Sons:
    Nguyen Phuc Hong Nhi (阮福洪膩), style name Si Truong (士長).
    The second son died young.
  • Nguyen Phuc Hong Phi (阮福洪肥), style name Si Thang (士勝), Tham tri of the Ministry of Personnel, inherited the title Tung Thien huyen cong (從善縣公); during the reign of the Deposed Emperor he was framed by powerful officials and later posthumously promoted to Quan vuong.
  • Nguyen Phuc Hong Co (阮福洪肌).
  • Nguyen Phuc Hong Quan (阮福洪𦜐).
  • Nguyen Phuc Hong Tieu (阮福洪肖).
  • Nguyen Phuc Hong Nang (阮福洪能).
  • Nguyen Phuc Hong Tich (阮福洪脊), inherited the rank of Marquis.
  • Nguyen Phuc Hong Kien (阮福洪肩).
  • The tenth son died young.
  • Nguyen Phuc Hong Chuan (阮福洪肫).
  • Nguyen Phuc Hong Duc (阮福洪育), Deputy Historian of the Mausoleum Office.
  • Nguyen Phuc Hong Khang (阮福洪肯), style name Si Hoach (士彠),
  • Administration Commissioner of Thanh Hoa.
  • Nguyen Phuc Ung Trinh (阮福膺脭), style name Kinh Dinh (敬亭), a famous poet.
  • Nguyen Phuc Hong Ngat (阮福洪肐).
  • Nguyen Phuc Hong Vi (阮福洪胃).
  • The fifteenth son died young.
  • Nguyen Phuc Hong Dan (阮福洪胤).
  • Nguyen Phuc Hong Bao (阮福洪胞).
  • Nguyen Phuc Hong Cao (阮福洪膏).
  • Nguyen Phuc Hong Ty (阮福洪腊).
  • Daughters:
    Nguyen Phuc The Cuc (阮福世菊), married Doan Huu Trung; later forced to change to her mother’s surname and become a nun; she had one son.
    Nguyen Phuc Thuc Huan (阮福識訓), married Ho Dac Tuan (胡得俊), Prefect, and gave birth to Ho Dac Trung (胡得忠), Khanh My Quan cong.
    Nguyen Phuc The Tao (阮福世藻).
  • Nguyen Phuc Gia Chuc (阮福嘉織).
  • Nguyen Phuc The Mao (阮福世卯).
  • Nguyen Phuc Chap Khon (阮福執坤).
  • Nguyen Phuc Khiem Uyen (阮福謙淵).
  • Nguyen Phuc Nhuy Khuyen (阮福蕊勸).
  • Nguyen Phuc Nhi Ty (阮福爾絲), married Thai Van But (蔡文筆), and gave birth to Thai Van Toan (蔡文瓚), Minister.
  • Nguyen Phuc Nhi Kien (阮福爾肩).
  • Nguyen Phuc Huu Quan (阮福友君).
  • Nguyen Phuc Nhi Nhan (阮福爾紉).

Tung Thien Vuong Residence

The Tung Thien Vuong Residence covers a total area of 76 m × 21 m, equivalent to 1,596 m², of which nearly 300 m² consist of architectural structures. The surrounding space is a lush garden, regarded as a “kingdom of four-o’clock flowers,” once considered a beauty secret of women in the past, and it also contains a mai tree over 130 years old, planted by Tung Thien Vuong himself. The residence preserves around 1,000 Han–Nom documents by the prince, who was bestowed by Minh Mang with the sobriquet Thi Ong.

The Tung Thien Vuong Residence was a grand and well-organized princely estate, with as many as sixteen architectural structures both inside and outside, including: Thuong Ha Bach Lo Duong (a reception hall for scholars and the place where drafts of Emperor Tu Duc’s poetry, delivered from the Imperial City by guards, were revised by Tung Quoc cong on the emperor’s behalf); Mo Truong (where Tung Quoc cong and his brothers, friends, descendants, and students recited and composed poetry); Bach Bi (residences of his wives); Tung Van (a study for poetry, writing, and calligraphy); Co Cam Dinh (where he played the zither, sang, played chess, and mahjong with family members and friends); Mac Van Sao (a repository and reference library for Confucian classics, histories, and philosophical works); Xuy Tieu Uy (where he often played the bamboo flute with musicians); So Tung Dinh (an orchard of oranges, mandarins, pomelos, and Buddha’s hand citrons); Han Luc Hien (a flower garden); Vo Phi Tan Ta (a bathhouse beside a pond with artificial rockeries); Nhat Quyen Thach (a stone bridge over the pond for viewing scenery); Khong Minh Bo (a walkway around Ky Thuong Garden); Thanh Tinh Thoi (the entrance gate to the residence, later renamed Tung Thien Vuong Tu Mon); and Ben Phu (the landing stage in front of the residence, popularly called “Ben Phu Tung,” where a small sailboat was kept for Tung Quoc cong’s excursions along the Loi Nong River and the Perfume River).

Thus, while other princely residences were regarded mainly as private estates of princes and princesses, the Tung Thien Vuong Residence became a center for literary discussion among contemporary Confucian scholars and men of letters. Notably, Lao Sung Quang, the Qing court’s imperial commissioner, also visited here out of admiration for the host’s talent, engaging in discussions on literature and current affairs.

References

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.

Tiếng Pháp

Tung Thien Vuong (1818–1870)

Origines
Tung Thien vuong etait le dixieme fils de Minh Mang. Il naquit le 24e jour du 10e mois de l’annee Ky Mao, soit le 11 decembre 1819, au palais Thanh Hoa, dans la Cite interdite de Hue. Sa mere etait Thuc tan Nguyen Khac Thi Bao, originaire de Gia Dinh, femme tres lettrée et d’un grand savoir.

A sa naissance, son grand-pere, l’empereur Gia Long, lui donna le prenom de Hien (晛). En 1832, lors de l’etablissement du poeme genealogique imperial (De he thi), son nom fut change en Nguyen Phuc Mien Tham (阮福綿審).

L’empereur Gia Long se rejouit grandement de cette naissance et accorda aussitot une recompense de dix taels d’or. Dans son enfance, l’enfant pleurait frequemment, ce qui inquietait beaucoup Thuc tan, sans qu’elle sache comment y remedier. Un jour, un daoiste declara : « Cet enfant est l’incarnation descendue de l’etoile Thai Bach Kim Tinh ; s’il est procede a un rite d’envoi, le mal cessera. » Le rituel fut accompli et, effectivement, l’enfant cessa de pleurer.

A l’age de sept ans, Mien Tham entra, avec ses freres cadets, au Duong Chinh duong (養正堂), ou il fut soigneusement instruit par le maitre Than Van Quyen. D’un naturel studieux et assidu, il se distingua tres tot. A l’age de huit ans seulement (1827), accompagnant l’empereur Minh Mang lors de la ceremonie du Nam Giao, il composa le poeme Nam Giao thi, qui fut vivement loue.

Participation aux affaires de l’Etat

En 1839, il fut investi du titre de Tung Quoc cong (從國公) et autorise a etablir sa residence dans le quartier de Liem Nang, sur la rive de la riviere An Cuu, a Hue.

En 1849, il fit edifier le Tieu Vien a l’arriere de sa residence et y installa sa mere ainsi que ses trois sœurs cadettes, Nguyet Dinh, Mai Am et Hue Pho, afin de les servir et de les soigner avec devouement. Lorsque ses sœurs se marierent successivement et que sa mere deceda, il transforma la residence principale en sanctuaire ancestral. Lui-meme se retira au Tieu Vien, ou il construisit une simple hutte de chaume a cote de la tombe maternelle afin d’observer rigoureusement les trois annees completes de deuil, manifestant ainsi une pieté filiale exemplaire.

En 1854, a l’issue de la periode de deuil, la cour le promut au rang de Tung Thien cong (從善公). En 1858, il acquit douze mau de terres agricoles dans la commune de Duong Xuan, y fit batir une demeure et la nomma Phuong Thon thao duong, lieu de residence, de creation litteraire et de vie quotidienne.

En 1865, il fut nomme au poste de Ta Ton Nhan phu. C’est durant cette periode que survint l’episode connu sous le nom de « revolte des pilons a chaux ». Auparavant, il avait marie sa fille The Cuc a Doan Huu Trung, un jeune homme du village d’An Truyen (egalement appele village Chuon). En 1866, Doan Huu Trung organisa secretement une insurrection visant a renverser l’empereur Tu Duc. Le soulevement echoua et Huu Trung, ainsi que de nombreux complices, furent executes. Bien qu’il eut auparavant renvoye son epouse chez ses parents sous pretexte d’un manquement aux convenances envers sa belle-mere, afin d’eviter toute implication de la famille maternelle, Tung Thien cong se lia volontairement les mains, entraina sa fille et son petit-fils et se mit a genoux pour presenter une requete demandant a subir lui-meme la peine en lieu et place des siens.

L’empereur Tu Duc, tenant compte des circonstances, ne prononca aucune sanction penale, mais le reprimanda en ces termes : « Avoir choisi un gendre sans suffisamment de prudence et ainsi terni sa reputation », puis ordonna la suppression de ses emoluments pendant huit ans. Durant cette periode de privation, il se retira dans l’ancien temple abandonne de Tu Lam, situe dans la commune de Duong Xuan. La vie familiale y fut d’une grande austerite : son epouse et ses enfants durent cultiver eux-memes la terre et vendre les produits au marche afin d’assurer leur subsistance quotidienne.

Il deceda le 30e jour du troisieme mois de l’annee Canh Ngo, soit le 30 avril 1870, a l’age de cinquante et un ans. Son nom posthume fut Van Nha (文雅). En 1878, l’empereur Tu Duc lui confera a titre posthume le rang de Tung Thien Quan vuong (從善郡王) et attribua le radical « Nhuc » (肉) comme radical genealogique pour la denomination des descendants de sa lignee.

Ce n’est qu’en 1936, sous le regne de l’empereur Bao Dai, qu’il fut officiellement eleve au rang de Tung Thien Vuong (從善王), titre par lequel la posterite le designe communement jusqu’a nos jours.

Œuvres
L’œuvre litteraire de Tung Thien Vuong est d’une grande richesse, comprenant quatorze recueils. Le plus important est le Thuong Son thi tap, compose de cinquante-quatre volumes repartis en huit ensembles, totalisant plus de deux mille deux cents poemes. Parmi ses autres ouvrages figurent notamment Thuong Son tu tap, Thuong Son thi thoai, Thuong Son ngoai tap, Thuong Son van di, etc.

Famille

– Pere : Nguyen Thanh To Minh Mang.

– Mere : Nguyen Thi Bao (阮氏寶, 7 septembre 1801 – 12 septembre 1851), originaire de Binh Chuong, Gia Dinh, fille de Tu khong Nguyen Khac Thieu (阮克紹). Elle porta le titre de Thuc tan (淑嬪), qui lui fut ensuite retire a la suite d’une faute, avant de vivre avec Tung Thien vuong au Tieu Vien. Apres sa mort, l’empereur Tu Duc, sur requete de Tung Thien vuong, lui restitua son rang et lui accorda le nom posthume Doan Liet (端烈).

– Epouse legitime : Truong Thuy Nuong (張氏恕), fille de Truong Dang Que.

Fratrie
– Frere cadet : Nguyen Phuc Mien Huu (阮福綿宥), quatorzieme prince de Minh Mang.
– Sœurs cadettes :

  • Quy Duc cong chua Nguyen Phuc Vinh Trinh (歸德公主阮福永禎), nom social Trong Khanh.
  • Lai Duc cong chua Nguyen Phuc Trinh Than (賴德公主阮福貞慎), nom social Thuc Khanh.
  • Thuan Le cong chua Nguyen Phuc Tinh Hoa (順禮公主阮福靜和), nom social Quy Khanh.

Descendance
Tung Thien vuong eut au total vingt fils et douze filles.

(La liste detaillee des fils et des filles, avec leurs noms, titres et fonctions, est conservee conformement aux sources historiques.)

Residence de Tung Thien Vuong

La residence de Tung Thien Vuong s’etend sur une superficie totale de 1 596 m² (76 m × 21 m), dont pres de 300 m² consacres aux vestiges architecturaux. L’ensemble est entoure de jardins luxuriants, reputes comme un veritable royaume de l’arbre hoa phan, jadis utilise comme secret de beaute feminin, et conserve egalement un prunier de plus de cent trente ans plante de la main meme de Tung Thien Vuong. La residence abrite encore environ mille documents en Han–Nom de ce prince, que Minh Mang avait honore du surnom de « Thi Ong ».

Il s’agissait d’un vaste complexe princier comprenant seize edifices, tant a l’interieur qu’a l’exterieur, parmi lesquels : Thuong Ha Bach Lo duong, Mo truong, Bach Bi, Tung Van, Co Cam dinh, Mac Van sao, Xuy Tieu uy, So Tung dinh, Han Luc hien, Vo Phi tan ta, Nhat Quyen thach, Khong Minh bo, Thanh Tinh thoi, ainsi que le ben phu. Ainsi, contrairement aux autres residences princières generalement considerees comme de simples demeures aristocratiques, la residence de Tung Thien Vuong constituait un centre d’echanges intellectuels et poetiques frequente par les lettrés, les poetes et les hommes de lettres de l’epoque. Meme le commissaire imperial de la cour des Qing, Lao Sung Quang, s’y rendit par admiration pour le talent de son hote afin d’y debattre de litterature et des affaires du monde.

Bibliographie

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.

Tiếng Trung

從善王(Tung Thien Vuong,1818-1870)

身世

從善王為明命帝(Minh Mang)第十子,生於己卯年十月二十四日(農曆),即1819年12月11日,出生於順化皇城禁中清和宮。其母為淑嬪阮克氏寶(Nguyen Khac Thi Bao),嘉定人,博通文學。

甫生之時,其祖嘉隆帝(Gia Long)為其取名晛(晛)。至1832年,因制定「帝系詩」,改名為阮福綿審(Nguyen Phuc Mien Tham)。嘉隆帝聞之大喜,賞賜黃金十兩。幼時性情多啼哭,淑嬪甚為憂慮,適有道士言其為太白金星下凡,需行送星之禮;禮畢,其疾果癒。

七歲時,綿審與諸弟入養正堂(養正堂)受學,由申文權(Than Van Quyen)悉心教導。其勤學好問,八歲(1827)隨侍明命帝親臨南郊祭典,作《南郊詩》,深得嘉許。

參與政事

1839年,受封從國公(Tung Quoc Cong),開府於順化安舊河畔廉能坊。
1849年,於府第後增建蕭園,迎奉母親及三位妹妹——月亭(Nguyet Dinh)、梅庵(Mai Am)、慧圃(Hue Pho)同住,奉養周至。及諸妹出嫁、母親去世後,乃改正府為宗祠,自居蕭園,並於母墓旁結草廬守制三年,以盡孝道。

1854年,服喪期滿,朝廷進封為從善公(Tung Thien Cong)。1858年,購得楊春社田地十二畝,築屋居住,名曰方寸草堂,以為起居與著述之所。

1865年,授任左宗人府。其間爆發所謂「杵灰賊」事件。此前,其已將女兒**阮福世菊(Nguyen Phuc The Cuc)**嫁與安傳村青年段有徵(Doan Huu Trung)。1866年,段有徵密謀起事欲廢嗣德帝(Tu Duc),事敗被誅。段有徵先以妻失禮於姑為由,將其女送回娘家,以避外戚牽連;然從善公仍自縛女兒與外孫,跪呈奏章,請以身代罪。

嗣德帝念其情,未加刑責,但斥曰:「擇婿不慎,致損清名」,並下令削其俸祿八年。其間,從善公退居楊春社荒廢古寺慈林寺,家計清貧,妻子子女親自耕作,種植果蔬販賣以維生。

庚午年三月三十日(1870年4月30日),從善王卒,享年五十一。諡號文雅(Van Nha)。1878年,嗣德帝追贈其為從善郡王(Tung Thien Quan Vuong),並賜「肉」部為其子孫命名之字根。1936年,保大帝(Bao Dai)正式追封為從善王(從善王),此即後世通稱之封號。

著作

從善王著述甚豐,凡十四集。其中《商山詩集》最為重要,計五十四卷,分為八集,詩作二千二百餘首。另有《商山詞集》《商山詩話》《商山外集》《商山文遺》等。

家眷

父:阮聖祖明命帝(Nguyen Thanh To Minh Mang)。
母:阮氏寶(阮氏寶,Nguyen Thi Bao,1801年9月7日-1851年9月12日),嘉定平章人,司空阮克紹(Nguyen Khac Thieu)之女。初封淑嬪(淑嬪),後因事被奪封,隨從善王居蕭園;歿後,經從善王奏請,嗣德帝追復其位,賜諡端烈(Doan Liet)。

正室:張氏恕(Truong Thi Thu),張登桂(Truong Dang Que)之女。

兄弟姊妹

  • 弟:阮福綿宥(Nguyen Phuc Mien Huu),明命帝第十四子。
  • 妹:歸德公主阮福永禎(Nguyen Phuc Vinh Trinh),字仲卿。
  • 妹:賴德公主阮福貞慎(Nguyen Phuc Trinh Than),字叔卿。
  • 妹:順禮公主阮福靜和(Nguyen Phuc Tinh Hoa),字季卿。

後裔

從善王共有子二十人、女十二人。

子:

阮福洪膩(Nguyen Phuc Hong Nhi)、阮福洪肥(Nguyen Phuc Hong Phi)、阮福洪肌(Nguyen Phuc Hong Co)、阮福洪𦜐(Nguyen Phuc Hong Quan)、阮福洪肖(Nguyen Phuc Hong Tieu)、阮福洪能(Nguyen Phuc Hong Nang)、阮福洪脊(Nguyen Phuc Hong Tich)、阮福洪肩(Nguyen Phuc Hong Kien)、阮福洪肫(Nguyen Phuc Hong Chuan)、阮福洪育(Nguyen Phuc Hong Duc)、阮福洪肯(Nguyen Phuc Hong Khang)、阮福膺脭(Nguyen Phuc Ung Trinh)、阮福洪肐(Nguyen Phuc Hong Ngat)、阮福洪胃(Nguyen Phuc Hong Vi)、阮福洪胤(Nguyen Phuc Hong Dan)、阮福洪胞(Nguyen Phuc Hong Bao)、阮福洪膏(Nguyen Phuc Hong Cao)、阮福洪腊(Nguyen Phuc Hong Ty)等(數人早夭略)。

女:
阮福世菊(Nguyen Phuc The Cuc)、阮福識訓(Nguyen Phuc Thuc Huan)、阮福世藻(Nguyen Phuc The Tao)、阮福嘉織(Nguyen Phuc Gia Chuc)、阮福世卯(Nguyen Phuc The Mao)、阮福執坤(Nguyen Phuc Chap Khon)、阮福謙淵(Nguyen Phuc Khiem Uyen)、阮福蕊勸(Nguyen Phuc Nhuy Khuyen)、阮福爾絲(Nguyen Phuc Nhi Ty)、阮福爾肩(Nguyen Phuc Nhi Kien)、阮福友君(Nguyen Phuc Huu Quan)、阮福爾紉(Nguyen Phuc Nhi Nhan)。

從善王府

從善王府佔地約1596平方米,建築遺存近300平方米,四周園林繁茂,尤以胭脂花聞名,並有一株逾一百三十年之梅樹,為從善王親手所植。府中保存其一千餘件漢喃文獻,明命帝曾尊其為「詩翁」。

王府內外共十六座建築,如:商河白露堂、模場、白秘、松雲、古琴亭、墨雲巢、吹簫塢、所誦亭、寒綠軒、無非新榭、一涓石、空明步、清淨退等,為當時士大夫、文人墨客吟詩論學之所。清朝欽使勞崇光(Lao Sung Quang)亦曾因仰慕其才名而至此唱和論文。

參考資料

  1. Trần Trọng Kim (1943), Việt Nam sử lược, Nhà in Bắc Thành.
  2. Quốc sử quán triều Nguyễn, Đại Nam Thực Lục, Đệ tứ kỷ – Quyển XLIX – Thực lục về Dực tông Anh hoàng đế, tập 7, Nxb Giáo dục.

 

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Ảnh đại diện Chốn Thiêng (4)

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)