Tên gọi và vị trí địa lý
Đình Vo Trung hiện tọa lạc tại số 77 đường Viên Chiếu, phường Phúc Lợi, quận Long Biên, nay thuộc phường Phúc Lợi, thành phố Hà Nội. Xưa kia, ba làng Đông, Thượng và Trung cùng với làng Nông Vụ vốn hợp thành một đơn vị cư trú, có tên gọi là làng Vo. Đình nằm ở vị trí cận kề tuyến đê sông Đuống, gắn bó mật thiết với không gian sinh hoạt và lịch sử hình thành của cộng đồng địa phương.
Lịch sử hình thành và nhân vật
Đình Vo Trung thờ Tứ vị Thánh Nương, những vị thần được nhân dân tôn kính như các đấng bảo trợ cho cuộc sống bình yên của người dân vùng sông biển. Theo truyền thuyết, Tứ vị Thánh Nương là Thái hậu họ Dương cùng các công chúa triều Tống. Cuối thế kỷ XIII, khi quân Mông – Nguyên tấn công, vua Tống Bính Đế phải đưa hoàng tộc và quần thần xuống thuyền chạy ra biển. Trong cảnh cùng đường, vua tôi nhà Tống đã gieo mình xuống biển tự vẫn.
Thi hài Thái hậu họ Dương và các công chúa trôi dạt vào Cửa Cờn (nay thuộc huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An). Dân chài địa phương thương xót, lo việc mai táng và dựng am nhỏ để thờ phụng. Từ đó, các bà linh hiển, thường phù trợ cho người đi biển được tai qua nạn khỏi, sóng yên gió lặng.
Cuốn Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên có chép:
Truyền thuyết kể lại rằng: Cửa Càn Hải (Cửa Cờn), nơi sông Hoàng Mai đổ ra biển, thuộc xã Phương Cần, huyện Quỳnh Lưu, tỉnh Nghệ An, thời Trần kiêng huý chữ “Càn” đổi thành Cần Hải. Cuối niên hiệu Trung Hưng (1278 – 1279) quân Tống bị quân Mông – Nguyên đánh tan ở Nhai Sơn, vua Tống Bính Đế đem gia quyến và bề tôi quân lính tuỳ tòng hơn 800 người lên thuyền trốn ra biển.
Thế cùng lực tận, lại bị quân giặc đuổi theo rất gấp, vua tôi nhà Tống phải nhảy xuống biển tự tử. Tử thi Thái hậu họ Dương và các nàng công chúa trôi dạt vào Cửa Cờn ở huyện Quỳnh Lưu, sắc mặt vẫn hồng hào như người sống. Dân chài bản xã thương xót lo liệu chôn cất, dựng thảo am để thờ. Phàm những ai khi vào lộng ra khơi, dân chài lưới hoặc làm nghề chở thuyền biển thường đến cầu khấn ở đền. Khi vua Trần Anh Tông đem quân đi đánh Chiêm Thành, qua Cửa Cờn chiêm bao thấy một nữ Thần đến khóc lóc nói với vua rằng: “Thiếp là cung phi nhà Triệu Tống, bị giặc bức bách, lại gặp sóng gió, trôi dạt đến đây. Bấy lâu nay thiếp được Thượng Đế cho làm thần biển. Nay bệ hạ đem quân đi chinh phạt, thiếp xin theo giúp lập công”. Vua cho gọi các bô lão đến hỏi sự thực, làm lễ kính tế rồi lên đường. Sóng yên biển lặng, quân vua tiến đến thành Chà Bàn được thắng lớn. Khi trở về, vua sai Hữu ty lập đền thờ bốn mùa cúng tế, phong làm “Đại Càn quốc gia Nam Hải Tứ vị Thánh Nương” (sử ghi sự việc vào tháng 6 năm Long Hưng thứ 20, tức năm 1313. Sau vua Lê Thánh Tông đi đánh Chiêm Thành (1469), qua Cửa Cờn có vào cầu đảo ở đền cũng được thắng lớn, khi về thuyền ngự qua cửa biển, chợt có giông gió nổi lên, buồm thuyền theo gió quay lại trước đền. Vua bèn hạ lệnh cho tu sửa đền miếu, gia phong phẩm vật cho thần, địa danh chỗ thuyền quay lại đó từ đây được gọi là xã Hồi Chu.”1
Tuy nhiên theo Việt điện u linh tập lại chép:
Phu nhân họ Triệu, công chúa của nhà Nam Tống, mẹ con 3 người, mà phu nhân là con gái út. Niên hiệu Thiện Bảo năm đầu đời vua Trần Nhân Tông, tướng Trương Hoằng Phạm đánh úp binh Tống tại Nhai Sơn, quân tan rã hết. Quân tả thừa tướng Lục Tú Phu ôm vua Đế Bính mà trầm xuống biển, Quan quán nhà Tống nhào xuống biển tới trên 10 vạn người.
Mẹ con Phu Nhân níu được mạn (be) thuyền trôi đến chùa Phật hiệu Hải Nhai. Nhà sư thương xót nên đem về nuôi được vài tháng, Phu Nhân da thịt phục hồi, dung nhan mỹ lệ, nhà sư muốn tư thông, phu Nhân cự tuyệt nghiêm khắc. Nhà sư lấy làm xấu hổ, nên nhảy xuống biển tự tử.
Cả ba mẹ con cùng khóc, bảo rằng: Mẹ con ta nhờ Sư mà sống, Sư lai vì mẹ con ta mã chết, Lòng ta làm sao yên được chứ ?
Rồi cũng nhảy xuống mà chết cà ! Thây trôi đến cửa Càn Hải, thuộc Diễn Châu của nước ta. Thế mà sắc ngọc vẫn đều như sống. Người sở tại lấy làm lạ, liền vớt họ lên mà chôn cất. Về sau, nhiều phen thấy linh dị, mới lập đền thờ phụng cả ba. Phàm những thuyền đi biển gặp sóng gió nguy bách, cứ van vái Phu Nhân thì lập tức được tế độ ngay. Các cửa bể, chỗ nào cũng có lập đền thờ, không đâu mà không linh ứng.”2
Hay tại Lĩnh Nam chích quái cũng viết về truyện Ba vị Phu nhân Kiền Hải, cũng được chép:
Xét Bản-truyện thì Phu-nhân họ Triệu, Công chúa nhà Nam-Tống, mẹ con tất cả là ba người, Phu-nhân là con gái út.
Niên hiệu Thiện-Bảo đời Trần Nhân Tông, thuộc năm đầu đời Tống-Đoan-Tông, vua Tống chạy giặc ra ở một hòn đảo rồi bị bệnh mất; các đại tướng-quân là Lục-Tú-Phu và Trương-Thế-Kiệt lập em qua Đoan-Tông là Đế-Duế lên làm tự quân. Chưa được bao lâu, Văn-Thiên – Tường bại trận bị bắt đưa về Bắc, Thế Kiệt đời thuyền vào qua núi Nhai Sơn. Tướng nhà Nguyên là Trương-Hoằng-Phạm đem binh vây bắt, Tú-Phú ôm vua Đế-Duế nhảy xuống biển, Thế-Kiệt cũng nhảy xuống biển mà chết; binh Tống chết hơn mười vạn người; ba mẹ con Phu-nhân vin được tấm ván nhỏ trôi đến bờ một ngôi chùa, đói khát không biết nhờ ai ; nhà chùa thấy vậy thương tình nên nuôi cho ăn uống.
Ở được vài tháng, Phu nhân da thịt như xưa, dung-nghỉ tú mỹ, nhà sư đem lòng yêu thích liền sinh thói dâm, đêm đến cầu thông với Phu nhân; Phu nhân thủ tiết cự tuyệt; nhà sư sau hối ngộ lạt lấy làm xấu-hổ mới ra cửa biển nhảy xuống mà chết.
Mẹ con cùng khóc bảo rằng :
Mẹ con ta nhờ tăng tăng vì ta mà từ trầm ta nhờ -dưỡng dục mới được sinh sống, nay đâu mà sống
Bà mẹ tự nhảy xuống biển, chị em con Phu-nhân cũng nhảy theo chết luôn. Thi hài bị gió đầy đến cửa biển Kiền-Hải ở Diễn-Châu nước ta, tạt vào đến bờ; người ở cửa biển trông thấy thân-thể không có thương tích gì, bảo nhau rằng: « Thây từ nước kia thề không có thương-tích gì, bảo nhau rằng: « Thây từ nước kia trôi đến bờ này, không biết mấy nghìn dặm, mà y-phục dung-mạo y-nhiên như sống ». Mọi người đều kinh-dị, cho là thần linh, rồi rủ nhau chôn cất, lập đền phụng sự.
Người ở xa gần đi thuyền ngang qua chỗ này, nếu gặp phải sóng gió nguy cấp quả được bình an. mà thành tâm cầu đảo thì trong khoảng giây lát Đến nay các nơi cửa biển đều sáng lập đền miếu mà thờ làm vị Phúc thần rất linh ở Nam-Hải vậy.”3
Tuy các tài liệu ghi chép còn có một vài dị bản, nhưng nhìn chung đều thống nhất về nguồn gốc và sự linh thiêng của Tứ vị Thánh Nương, tôn vinh là những nhân vật linh thiêng, gắn liền với tín ngưỡng thờ thần biển của cư dân ven sông, ven biển.
Các đời vua về sau đều phong “Quốc Mẫu Hoàng bà Đại Càn quốc gia Nam Hải, Tứ vị Thánh Nương Thượng đẳng thần” và cho phép các nơi lập đền thờ. Riêng ở Hà Nội dọc các triền sông Hồng, sông Tô và sông Đuống có trên 10 nơi thờ. Tín ngưỡng thờ Tứ vị Thánh Nương từ đó được truyền bá rộng rãi và trở thành điểm tựa tinh thần quan trọng của cư dân ven biển.
Trước đây, đình Vo Trung nằm ở khu vực ngoài đê sông Đuống, cách vị trí hiện nay khoảng 300 mét về phía Đông Bắc. Do nhiều năm liền chịu ảnh hưởng của thiên tai và lũ lụt, năm 1994, nhân dân địa phương đã di chuyển đình vào phía trong đê, đặt tại khu đất bên phải chùa Bảo Khám nhằm bảo đảm an toàn cho di tích. Ở phía ngoài đê vẫn còn lưu giữ cổng đình cũ và tháp, cứ đến ngày hội làng (làng vào đám 8-10/2 Âm lịch ) dân làng vẫn đặt hoa , câu đối , cờ tại nền đình cũ.
Đến năm 2004, trong quá trình trùng tu, đình tiếp tục được điều chỉnh vị trí và ổn định tại địa điểm như hiện nay.
Trong suốt quá trình tồn tại, đình Vo Trung đã nhiều lần được tu sửa, tôn tạo. Đáng chú ý nhất là hai đợt trùng tu lớn: lần thứ nhất vào năm Tự Đức thứ 12 (1859), dấu tích còn ghi trên vì hồi trái của tòa Hậu Cung; lần thứ hai vào năm Thành Thái thứ 12 (1900), được khắc trên thượng lương Hậu Cung của đình.
Không chỉ là một công trình kiến trúc tín ngưỡng, đình Vo Trung còn giữ vai trò quan trọng như trung tâm sinh hoạt văn hóa, tinh thần của cộng đồng dân cư địa phương, nơi lưu giữ và truyền nối nhiều giá trị văn hóa truyền thống tốt đẹp. Ngày nay, đình Vo Trung không chỉ có ý nghĩa về mặt lịch sử, văn hóa và nghệ thuật, mà còn là điểm đến tiêu biểu trong tuyến tham quan các di tích lịch sử – văn hóa ven sông Đuống.
Kiến trúc cảnh quan
Đình tạo lạc trong khu dân cư, gắn bó mật thiết với đời sống sinh hoạt của người dân địa phương. Tổng thể di tích gồm các hạng mục chính như: Nghi Môn và Đại bái, Giải Vũ, xung quanh khuôn viên được bao quanh bởi hệ thống tường xây khép kín, tạo nên không gian thờ tự trang nghiêm và tách biệt. Đình tọa lạc ngay ven trục đường lớn, thuận tiện cho việc đi lại và sinh hoạt của người dân.
Nghi Môn
Nghi Môn được tạo thành từ bốn trụ biểu theo kiểu lồng đèn, đơn giản, trong đó, hai trụ chính có chiều cao lớn hơn hai trụ biểu hai bên, trên đỉnh gắn hình chim phượng, còn hai trụ phụ thấp hơn, đỉnh trụ trang trí lân chầu. Bước qua cổng là một khoảng sân nhỏ lát gạch Bát Tràng, đây là khoảng sân chầu trước Đại Bái.
Đại Bái
Đình Vo Trung gồm hai khối kiến trúc chính là Tiền Tế và Hậu Cung, được bố cục theo mặt bằng hình chữ Đinh (丁). Tiền Tế là một tòa nhà năm gian, xây theo kiểu tường hồi bít đốc tay ngai. Bộ khung kiến trúc gồm bốn bộ vì, trong đó hai bộ vì gian giữa làm theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, hai bộ vì hồi sử dụng kết cấu quá giang trụ trốn, tạo nên sự vững chắc và hài hòa cho toàn bộ công trình.
Hậu Cung là một nếp nhà ba gian chạy ngang, giữ vai trò là không gian linh thiêng nhất của đình. Kết cấu bộ khung gỗ của Hậu cung cũng được làm theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, mặt tiền mở hệ thống cửa gỗ thượng song hạ bản, vừa tạo ánh sáng vừa bảo đảm sự trang nghiêm cho không gian bên trong.
Chính giữa Hậu cung đặt bệ gạch cao, trên đó an trí ban thờ Thành hoàng làng. Tượng Thánh Mẫu hậu được thờ trong khám gỗ chạm khắc công phu với các họa tiết rồng chầu mặt trời, hoa dây, mang phong cách nghệ thuật thế kỷ XIX. Phía trước khám thờ bày ba pho tượng gồm hai công chúa và một thị nữ, tạo thành hệ thống thờ tự hoàn chỉnh theo truyền thống.
Trên các con rường và đấu kê là các họa tiết trang trí mang đề tài quen thuộc như vân mây, hoa lá, thể hiện phong cách nghệ thuật truyền thống. Tiêu biểu là bộ bài vị thờ Thần được chạm khắc tinh xảo với các họa tiết sóng nước, lá đề, vân mây, mặt trời…, phản ánh trình độ điêu khắc gỗ thế kỷ XIX. Các bức hoành phi, giá văn sơn son thếp vàng góp phần làm tăng thêm vẻ trang nghiêm, lộng lẫy cho không gian thờ tự. Đặc biệt, lư hương gốm Phù Lãng phủ men da lươn, trang trí rồng chầu mặt trời, chữ Thọ và hổ phù, phía dưới khắc dòng chữ Hán “Thượng đẳng tối linh từ”, thể hiện sự tôn kính sâu sắc của cộng đồng đối với vị thần được thờ phụng.
Giải Vũ
Nằm về phía bên trái tòa Đại Bái là công trình Giải Vũ gồm ba gian, được xây dựng theo lối kiến trúc truyền thống. Đây là không gian phục vụ các hoạt động sinh hoạt của đình trong những ngày lễ hội, đồng thời là nơi chuẩn bị và lưu giữ đồ lễ trước khi tiến hành các nghi thức thờ cúng trong đình.
Sự kiện và lễ hội
Lễ hội đình Vo Trung là lễ hội dân gian truyền thống, được tổ chức hằng năm vào ngày 10 tháng 2 Âm lịch. Lễ hội do UBND phường Phúc Lợi tổ chức, dưới sự quản lý của cấp quận, nhằm bảo tồn và phát huy các giá trị văn hóa truyền thống của địa phương.
Lễ hội được mở ra để tưởng niệm Linh Lang Đại Vương, vị thần được nhân dân tôn kính và thờ phụng. Phần lễ diễn ra trang nghiêm với các nghi thức truyền thống như tế lễ, rước kiệu, phần hội sôi nổi với các chương trình biểu diễn văn nghệ và nhiều trò chơi dân gian, thu hút đông đảo nhân dân và du khách tham gia.
Di vật
Đến nay, đình còn lưu giữ nổi bật là 10 đạo sắc phong thuộc ba triều đại Lê, Tây Sơn và Nguyễn, mang giá trị lịch sử văn hóa, phản ánh sự kế tục qua nhiều triều đại. Các đạo sắc gồm: sắc có niên đại sớm nhất niên hiệu Chính Hòa thứ 4 (1683), Quang Trung thứ 4 (1791), Minh Mệnh thứ 2 (1821), 2 đạo sắc niên hiệu Thiệu Trị thứ 4 (1844), Tự Đức thứ 3 (1850), Tự Đức thứ 33 (1880), Đồng Khánh thứ 2 (1887), Duy Tân thứ 3 (1909) và Khải Định thứ 9 (1924).
Bên cạnh hệ thống sắc phong, đình còn lưu giữ nhiều hiện vật quý như lư hương, hoành phi, câu đối, giá văn…, góp phần làm phong phú thêm giá trị di sản của di tích.
Xếp hạng
Đình Vo Trung đã được Uỷ ban nhân dân thành phố Hà Nội quyết định xếp hạng di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật năm 2004.
Chú thích
- Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên, Nxb Chính trị Quốc gia (2008), tr. 171.
- Ngọc Hồ, Nhất Tâm, Việt điện u linh tập, Nxb Cửu Long (1992), tr. 193.
- Trần Thế Pháp , Lĩnh Nam chích quái, Nxb Khai Trí (1961), tr. 104.
Tài liệu tham khảo
- Di tích lịch sử văn hóa và cách mạng kháng chiến quận Long Biên, Nxb Chính trị Quốc gia (2008).
- Ngọc Hồ, Nhất Tâm (1992), Việt điện u linh tập, Nxb Cửu Long.
- Trần Thế Pháp (1961), Lĩnh Nam chích quái, Nxb Khai Trí.
- Vũ Văn Quân (2019), Hồ sơ tư liệu văn hiến Thăng Long – Hà Nội, Nxb Hà Nội.
- Lưu Minh Trị (2011), Hà Nội – Danh thắng và Di tích, tập 02, Nxb Hà Nội.