Cư sĩ Đặng Văn Hòa (1791 – 1856)

Cư sĩ Đặng Văn Hòa (1791 – 1856)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

So công đức ai bằng quan họ Đặng, nhà Bắc Nam gặp hội thanh bình.
Vâng ơn trên ra trấn Hà thành, ngôi đại hiến mọi bề Then khóa…(1)

Khúc hát tiễn đưa quan Tổng đốc họ Đặng, sau 12 năm làm việc ở đất Bắc trở vào kinh đô Huế của sĩ dân Hà Nội , vẫn còn truyền tụng nơi miền núi Nùng sông Nhĩ. Bia đá tại Diên Hựu tự, Liên Hoa đài, Nghĩa Trủng lệ đàn. . . danh thơm của Lễ trai Đặng Văn Hòa nét chữ chưa mờ. Nhân duyên sao mà dài lâu đến thế, phải chăng họ Đặng đạt được điều thế gian mong ước “tam bất hủ”(2).

Đặng Văn Hòa con trưởng của danh sư Đặng Quang Tuấn và bà Phan Thị Hãn, sinh ngày 25 tháng 6 năm Tân hợi (1791) tại làng Thanh Lương, huyện Hương Trà, tỉnh Thừa Thiên. Ông thi đậu hương cống (cử nhân) trong khoa thi hương đầu tiên của triều Nguyễn (Quý đậu – 1813).

Hoạn lộ hanh thông, năm Canh dần (1830) với hàm Tham tri bộ Hộ (Thứ trưởng Bộ Tài chánh ), Đặng Văn Hòa được cử đảm trách công tác tài chánh ở Bắc Thành.

Năm Tân mão (1831), Cư sĩ thăng quyền tổng trấn , đem quân đi kinh lý biên giới lấy lại đồn Phong Thổ (Lai Châu) lâu nay bị quân Thanh chiếm cử. Năm này vua Minh Mạng (1820 – 1840) bãi bỏ chức vụ Tổng trấn Bắc thành, các trấn đổi thành tỉnh. Cư sĩ được cử giữ chức Tuần phủ (Tỉnh trưởng) Hà Nội đầu tiên. Từ năm ất mùi (1835) đến năm Kỷ hợi (1839), Cư sĩ thăng hàm Thượng thư Bộ Binh sung chức Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình. Triều đình có chủ trương giảm dân số Hà Nội, bắt người ngụ cư (tạm trú) phải trở về nguyên quán. Nhận thấy dân tình xáo động, khổ sở, Cư sĩ dâng sớ về triều trình bày sự lợi hại và xin gia nguyên trạng giúp nhân dân ổn định làm ăn sinh sống, được vua Minh Mạng chấp thuận. Trong thành Hà Nội dân cư đông đúc, phố xá chật hẹp thường xảy ra hỏa hoạn thiệt hại người và của cải rất lớn Cư sĩ cho vẽ bản đồ, quy hoạch lại đường sá, nhà cửa; hướng dẫn dân chúng việc dự trữ nước và đồ cứu hỏa; lập miếu hỏa thần tại thôn Yên Nội (nay ở số 30 Hàng Điếu), hằng ngày đánh chuông nhắc nhỡ đề phòng.

Sau thời gian về kinh (Huế) làm Thượng thư các bộ Công và Lễ, năm Bính ngọ (1846) Cư sĩ được cử làm Tổng đốc Hà Nội – Ninh Bình lần thứ hai. Ông tổ chức việc tu sửa, bảo vệ đê điều và chủ trương giữ đê để đề phòng nạn lụt ở đồng bằng Bắc Bộ. Ngồi công việc hành chánh trị an mưu cầu lợi ích cho nhân dân, với tấm lòng của người Phật tử, Cư sĩ đặc biệt lưu tâm đến truyền thống đạo đức xã hội. Ông cương quyết bài trừ nạn mê tín dị đoan, ra lệnh triệt bỏ am miếu thờ cúng nhảm nhí, phạt nặng bọn đồng cốt lừa bịp quần chúng. Đối với di tích lịch sử văn hóa ở cố đô Thăng Long, Cư sĩ hết sức bảo tồn để mong truyền lại cho đời sau, điển hình:

Năm Mậu tuất (1838), Cư sĩ đến vãng cảnh chùa Một Cột. (Diễn Hựu tự) : . . . “Thấy tự viện tiêu điều, lòng từ nổi dâïy, tự xuất của nhà, lại được thập phương giúp thêm, thuê thợ tu sửa, khiến tượng Phật huy hồng, điện thờ đồ sộ, tả hữu hành lang, tam quan gác chuông trong ngồi bốn phía đều trang nghiêm . .”(3). Sau khi tôn tạo chùa, Cư sĩ đã trích 5 mẫu ruộng, ao (đất công) giao cho nhà sư Trụ trì (Thích Nguy Nguy) quản lý, lấy hoa lợi chi dụng thờ cúng, tu hành. Những ngày lễ Phật đản (8 tháng 4), Nguyên đán (tết), Đoan ngọ (5 tháng 5), Đ.V.H thân hành làm lễ cầu phước cho dân rất thành kính, làm sống lại những sinh hoạt tín ngưỡng dân tộc có từ đời Lý – Trần tại ngôi quốc tự Diên Hựu. Ông tiến cúng vào chùa các câu đối kỷ niệm đến nay vẫn còn:

1.

Nhất trụ danh lam sáng kiến do lưu cựu tích
Thập phương thiện niệm trùng tu tăng xướng tân quy.

Nghĩa :

Ngôi chùa nổi tiếng “Một Cột” lặp ra để lưu lại tích xưa.
Niệm lành mười phương Phật tử sửa chữa tăng thêm quy mô mới.

2 .

Thạch trụ hồ trung tư pháp vũ
Kim liên tọa thượng thổ tử vân

Nghĩa:

Trụ đá trong hồ nhuần mưa pháp
Sen vàng trên bệ tỏa mây lành.

Nối tiếp truyền thống gia đình, Đặng Huy Tá (1817 – 1872 ); cháu gọi Cư sĩ bằng bác, lúc giữ chức Án sát Hà Nội cũng hết lòng giữ gìn di tích của tiền nhân. Ông hợp tác với danh sĩ Nguyễn Văn Siêu sửa chữa đền Ngọc Sơn giữa hồ Hồn Kiếm. Cùng với Tổng đốc Tôn Thất Hàn phát tâm trùng tu chùa “Một Cột” vào năm Giáp tý (1864), Đặng Huy Tá tiến cúng câu đối vào chùa kỷ niệm:

Tiếp thượng liên đài truyền cựu mộng
Kình lai thạch trụ ủng viên quang(4)

Nghĩa :

Dẫn lên đài sen, còn truyền giấc mộng xưa
Vươn cao trụ đá, mãi ủng hộ chánh pháp.

Cần lưu ý chính nhờ 2 lần trùng tu này mà ngôi chùa độc đáo xây dựng từ đời Lý không lâm vào tình trạng hoang phế, đổ nát. Có sư Tăng Trụ trì quản lý cho đến lúc giặc Pháp đánh chiếm Hà Nội, chùa “Một Cột” thốt khỏi số phận bi đát như chùa Báo Thiên bị chiếm để làm nhà thờ, chùa Báo Ân bị san bằng mất dấu. . .
Cư sĩ làm quan suốt 43 năm, dưới 4 triều vua Nguyễn (Gia Long, Minh Mạng, Thiệu Trị, Tự Đức). Ông 1 giữ những trọng trách khắp Nam, Bắc và tại triều đình trung ương, danh vọng tột đỉnh. Ngày 22 tháng 6 năm Bính thìn (1856) , Cư sĩ mệnh chung tại công đường Bộ Hộ. Vua Tự Đức ban tên thụy Văn Nghị, sau đó đặc ân cho đưa bài vị thờ tại đền Hiền Lương .

Năm Ất dậu (1885) con trai Cư sĩ là phò mã Đặng Huy Cát(5), cháu nội là Đặng Hữu Phổ theo phe chủ chiến tấn công quân Pháp tại kinh đô Huế. Kết quả thất bại, Đặng Huy Cát bị tù đày, Đặng Hữu Phổ bị kết án tử hình, từ đường Cư sĩ ở làng Thanh Lương bị đốt phá. Nhưng “Quan nhất thời, dân vạn đại”, công đức của Cư sĩ vẫn được bia miệng nhắc nhỡ đời này qua đời khác tại những nơi ông từng trấn nhậm, sách sử ghi chép để lại muôn đời. Tìm hiểu danh nhân họ Đặng : Đặng Quang Tuấn, Đặng Văn Hòa, Đặng Huy Cát, Đặng Huy Tá, Đặng Huy Trứ. . . ), chúng ta thấy một nhà nối nhau hiển đạt khoa danh, nổi tiếng “Thế gia Nho nghiệp”(6). Nhưng cũng như Phần lớn danh nhân lịch sử Việt Nam, họ học Nho để ra gánh vác trách nhiệm với đời mà tâm linh lại quy ngưỡng về giáo lý đạo Phật. Họ được un đúc, nuôi dưỡng theo lý tưởng “Cư trần lạc đạo” xướng xuất từ thuở Lý Trần, hay gần hơn chủ trương “Cư Nho mộ Thích” thời các chúa Nguyễn. Đây chính là nét độc đáo nhất của giới cư sĩ Phật giáo Việt Nam.

(Trần Đình Sơn – Hồng Anh – Tản mạn  Phú Xuân, Nxb Trẻ 2001) 

Chú thích:

  1. Bài ca trù do cử nhân Lê Công Dần soạn cho Đào nương Thị Trinh hát trong tiệc.
  2. Tam bất hủ: ba điều không thể mất được đó là lập Đức, lập Công, lập Ngôn.
  3. Bia dựng tại chùa Một Cột vào ngày rằm tháng 2 năm Đinh Mùi (1847) do Cư sĩ Trần Văn Nghĩa soạn.
  4. Nhắc tích vua lý Thái Tông (1028 – 1054) nằm mơ thấy Bồ-tát Quán Thế Âm dẫn vua lên đài sen. Do đó, sư Thiền Tuệ đã khuyên vua dựng cột đá ở Giữa hồ, trên làm điện thờ như tòa sen gọt là “Liên hoa đài” tôn trí tượng Bồ-tát Quán Thế Âm, tụng kinh cầu cho vua được trường thọ.
  5. Đặng Huy Cát (1832 – 1899): tự Thiếu Văn, chồng của công chúa Tĩnh Hòa, con gái thứ 34 của vua Minh Mạng.
  6. Thế gia Nho nghiệp: 4 chữ đại tự của vua Tự Đức ban thưởng cho Đặng Huy Trứ, khen ngợi một nhà nối nhau thành đạt theo nghiệp Nho.

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ
Cu si dang van hoa 1791

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)