Cư sĩ Đinh Văn Chấp (1882–1953)

Cư sĩ Đinh Văn Chấp (1882–1953)

Thông tin cơ bản

Tiểu sử

Cư sĩ Đinh Văn Chấp sinh ngày 14 tháng 3 năm Nhâm ngọ (1882), người làng Kim Khê, huyện Chân Lộc, tỉnh Nghệ An, là con trai thứ 2 của Tiến sĩ Trực Hiên khoa Ất hợi Đinh Văn Chất. Cụ là đời khoa bảng thứ 7 liên tiếp trong dòng họ Đinh Văn ở Kim Khê.

Tháng 10 năm Đinh Hợi (1887), lúc cụ mới 6 tuổi, gia đình gặp đại nạn : Bố ông là nghệ sĩ Cần vương đang tổ chức lảnh đạo nghĩa quân chiến đấu với quân Pháp tại vùng rừng núi huyện Thanh Chương, tỉnh Nghệ An thì bị Pháp bắt, giao cho triều đình Nam triều trị tội. Vua Đồng Khánh đã khép ông vào tội “khi quân” và hạ chiếu “tru di tam tộc” trong khi cả nội tộc cùng bà con làng xóm náo loạn do sự lục sốt thi hành án của triều đình, có một bà cụ trong làng quàng vào người cụ một tấm váy mang đi dấu. Cụ được đưa đến nhà bà ngoại Thuận Ký ở Vinh; rồi ngay đêm đó được bà ngoại đưa sang xã Khu Vị huyện Đồng An, Phủ Toàn châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc. Ở đây, cụ được bà con bên ngoại nuôi ăn học. Mười một năm sau (tức 1898), khi vụ án “tru di tam tộc” đã qua lâu, cụ được đưa về nước để tiếp tục đi học. Khi ấy cụ phải đổi tên, khai số tuổi để tránh không trùng với thời gian xảy ra vụ án của cha mới được đi thi. Cụ nổi tiếng thông minh, giỏi tiếng Trung quốc.

Khi học ở Nam Đàn, Ông được thầy Phan Hải Thụ (tức cụ Phan Bội Châu) khen:

Cốt cách con lân cánh chim Uyên,
Ai dám xem thường gã thiếu niên!
Trọng Mão xưa quen nhà đạo học;
Trường Canh nay thấy vẽ thần tiên
Nhà dầy phước tổ sinh người quý
Tớ hổ vai anh xét phận hèn…

Cụ Đinh Văn Chấp dịch

Bấy giờ, hồn cảnh gia đình cụ rấ khó khăn, bố và anh trai đã bị thụ án, bà con họ hàng tan tác mỗi người mỗi ngã, năm 1909 may có ông Lê Huy Thản là người bà con bốn đời bên ngoại làm quan trong triều, bảo lãnh đưa cụ vào Huế học trường Quốc Tử Giám. Cụ vừa học vừa dạy ở làng Phong Lai để kiếm thêm tiền nuôi gia đình và bản thân.

Năm Nhâm tý (1912), cụ đạu Cử nhân. Năm sau, đậu đệ nhị giáp tiếm sĩ xuất thân (hồng giáp). Khoa thi này không có đệ nhất giáp tiến sĩ, chỉ “Ban đỗ đệ nhị giáp tiến sĩ xuất thân một người : Đinh Văn Chấp” cụ được tổ chức Đốc học ở Quảng Nam. Trong công việc, cụ là người mẫn cán rất được nễ vì, nhưng trên bước đường làm quan cụ chịu nhiều gian nan, cay đắng. Là một vị khoa bản vẻ, có nhân cách, không chịu được thói xu nịnh lăng loàn của số kẻ vô liêm sỉ có chức trọng quyền cao, đã nhiều lần ông tỏ thái độ bất hợp tác và bị dèm pha, kèn cựa.

Năm 1919, nhà nước bỏ chế độ thi cử, chức đốc học coi như không còn, nên năm 1920, Đinh Văn Chấp được bổ làm Tri phủ Vĩnh Linh (Quảng Trị). Sau đó được chuyển vào làm Tri phủ Hòa Đa (Bình Thuận).

Năm 1922 nhậm chức Tri phủ Bồng Sơn (Hồi Nhơn) rồi Tri phủ Tư Nghĩa (Quảng Ngãi) sau thay chức Án sát Khanh Hòa.

Năm 1934 cụ giữ chức Án sát Hà Tĩnh, Thăng Bố Chánh Hà Tĩnh, rồi  Tuần Vũ Quảng Ngãi. Hai năm sau, ông được bổ về giữ chức Tham Tri Bộ kinh tế (xã dân kinh tế : trông coi về kinh tế nông thôn). Thời gian này, có quan đồng liêu là Nguyễn Khoa Kỳ luôn kèn cựa với cụ, nhiều lần ton hót với cấp trên và người Pháp tìm mọi cách giáng cấp của cụ.

Nguyễn Khoa Kỳ sau đó báo cáo với triều đình và tồn quyền Đông Dương về thân thế của Nguyễn Văn Chấp. Nhưng do tình thế xã hội lúc bấy giờ, chính quyền Nam triều không muốn gây to chuyện nên đã bỏ qua và cho Đinh Văn Chấp về giữ chức Toản tu Quốc sử giám.

Một thời gian sau, Thượng thư Bộ lại và Thái Văn Tồn gởi công văn đề nghị Đinh Văn Chấp khai thêm mười tuổi vào hồ sơ. Cuối năm ấy, cụ nhận quyết định nghỉ hưu nhưng thật chất là bị đuổi quan.

Về sự đóng góp của cụ cho Phật giáo. Khi còn làm việc ở Huế, cụ là người tham gia dạy học (chữ hán) cho quý Ôn, quý Thầy ở Huế, khi rảnh tìm đến các chùa đàm đạo cùng các vị cao tăng và Cư sĩ uyên thâm Phật pháp. Chính nơi đây cụ đã có dịp đọc tam tạng kinh và kiến thức Phật học càng được nâng cao và uyên thâm. 

Cư sĩ Đinh Văn Chấp xuất thân là một nhà nho với tri thức uyên thâm, nhưng tầm hồn lại hướng về thiền học, thơ văn của cụ luôn chứa đựng tinh thần Phật học đặc sắc. Sau này khi nghỉ quan cụ lại càng để tâm  nghiên cứu thiền học và dịch thơ thiền và viết văn một cách xuất sắc.

Về khuynh hướng thiền học, suốt một đời, ngồi một số thơ văn để làm bài đi thi Cử nhân, Tiến sĩ, cụ đặc biệt chú ý thơ văn của thời kỳ Lý – Trần. Có lẽ thơ văn của hai triều đại này mang nặng tư tưởng thiền học hợp với sự hiểu mộ bẩm sinh của cụ. Khoảng năm 1927, trong thời gian đang làm quan, cụ đảm trách phần văn học, mục Dịch thơ đời Lý – Trần nên tạp chí Nam Phong và lần lượt cho đăng 123 bào thơ gồm đủ các thể loại cổ và cận thể.

Năm 1945, nạn đói hồnh hành, cụ mở kho thóc nhà mình cứu giúp dân làng. Sau nạn đói, người đi ăn xin vẫn còn nhiều, trước cổng nhà cụ lúc nào cũng có người chầu chực xin ăn; cả nhà vẫn lặng lẽ cưu mang, giúp đỡ.

Cư sĩ đã lập gia đình với Nữ Cư sĩ Lê Thị Đạt và đã sinh 11 người con 7 trai 4 gái. Tất cả những con cái của Cư sĩ là những người thành đạt và có địa vị trong xã hội. Đặc biệt, nối tiếp dòng dõi Tiến sĩ của dòng họ Đinh nên có Cư sĩ Đinh Văn Nam ( tức Hòa thượng Thích Minh Châu, hiện trú tại Tp. Hồ Chí Minh) và người em kế là Giáo sư Minh Chi, hiện là Huyền Chân (đã mất).

Cách mạng tháng 8 thành công, cụ có 7 người con đi bộ đội, bản thân cụ hoạt động trong mặt trận Liên Việt huyện Nghi Lộc từ ngày đầu khởi nghĩa.

Hồng Giáp Đinh Văn Chấp mất ngày 17 tháng 10 năm 1953, hưởng thọ 71 tuổi. Phần mộ của cụ được con cháu nội tộc chăm sóc, thờ phụng tại nghĩa trang gia tộc quê nhà. 

Nguồn: Thích Trung Hậu-Thích Hải Ấn, Chư Tôn Thiện Đức & Cư sĩ Hữu Công Phật giáo Thuận Hóa – Tập 1, xuất bản 2011.

Chấm điểm
Chia sẻ
Cu si dinh van chap 1882

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)