Chiến trường Điện Biên Phủ (Điện Biên)

Chiến trường Điện Biên Phủ (Điện Biên)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Những dấu tích còn lại của chiến trường năm xưa ngày nay đã trở thành quần thể Di tích lịch sử Điện Biên Phủ, phân bố rộng khắp lòng chảo Điện Biên – vùng địa hình được bao bọc bởi các dãy núi trùng điệp với chiều dài khoảng 18 km và chiều rộng khoảng 6 km. Nổi bật trong không gian ấy là cánh đồng Mường Thanh trải dài hơn 14 km, được xem là vựa lúa lớn nhất khu vực Tây Bắc của Tổ quốc. Dòng sông Nậm Rốm chảy qua trung tâm lòng chảo, chia Điện Biên Phủ thành hai vùng tả ngạn và hữu ngạn, góp phần bồi đắp nên vùng đất màu mỡ, trù phú. Không chỉ giàu tiềm năng về tự nhiên, Điện Biên Phủ còn là vùng đất mang đậm giá trị lịch sử và niềm tự hào dân tộc, gắn liền với chiến thắng lừng lẫy năm châu, chấn động địa cầu của quân và dân Việt Nam trong cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp.

Lịch sử nhân vật

Chiến dịch Điện Biên Phủ là một cuộc đọ sức oanh liệt kéo dài suốt 55 ngày đêm. Dù thời gian dài ngày, các trận đánh không diễn ra liên tục mà được tổ chức chặt chẽ thành ba giai đoạn tấn công chiến lược:

Giai đoạn 1 (Từ ngày 13 đến 17-3-1954): Đây là đợt tấn công mở màn, tập trung phá vỡ cửa ngõ phía Bắc của tập đoàn cứ điểm. Quân ta đã tiêu diệt gọn các cứ điểm Him Lam, Độc Lập và bức hàng cứ điểm Bản Kéo. Kết quả của đợt này vô cùng ấn tượng khi ta diệt và bắt sống trên 2.000 tên địch, phá hủy 25 máy bay và xóa sổ hoàn toàn một trung đoàn địch. Sân bay Mường Thanh bắt đầu bị uy hiếp nghiêm trọng. Trước sức mạnh áp đảo của pháo binh ta, Piroth – Tư lệnh pháo binh Pháp tại Điện Biên Phủ – rơi vào trạng thái bất lực và đã dùng lựu đạn tự sát.

Giai đoạn 2 (Từ ngày 30-3 đến 30-4-1954): Đây là giai đoạn tấn công dài ngày, quyết liệt và gay go nhất của toàn bộ chiến dịch. Quân ta đồng loạt tiến công các cứ điểm phía Đông thuộc phân khu trung tâm, thực hiện chiến thuật xoắn vòng vây, chia cắt và kiểm soát sân bay Mường Thanh nhằm triệt tiêu nguồn tiếp viện của địch. Tại đây, hai bên đã giành giật nhau từng tấc đất, từng đoạn giao thông hào. Đặc biệt, cuộc giằng co tại đồi C1 kéo dài tới 20 ngày và tại đồi A1 là 30 ngày. Kết thúc đợt này, khu trung tâm Điện Biên Phủ nằm gọn trong tầm bắn các loại súng của quân ta, khiến quân địch rơi vào thế bị động và mất tinh thần cao độ.

Giai đoạn 3 (Từ ngày 1 đến 7-5-1954): Quân ta tập trung lực lượng đánh dứt điểm dãy đồi phía Đông và phát động tổng tiến công tiêu diệt các vị trí còn lại. Chiến dịch kết thúc thắng lợi rực rỡ khi quân ta bắt sống Tướng De Castries, hoàn tất việc tiêu diệt tập đoàn cứ điểm.

Thắng lợi của chiến dịch Điện Biên Phủ đã để lại những kết quả to lớn, mang ý nghĩa thời đại sâu sắc trên cả hai phương diện quân sự và chính trị:

Về quân sự: Ta đã tiêu diệt và bắt sống tổng cộng 16.200 tên địch, trong đó bao gồm 1.562 sĩ quan và 21 tướng lĩnh. Toàn bộ vũ khí, trang bị quân dụng của địch bị ta thu giữ, cùng với 62 máy bay bị bắn rơi và 64 xe tăng bị phá hủy. Thắng lợi này đã đập tan hoàn toàn kế hoạch Nava, buộc chính phủ Pháp phải ngồi vào bàn đàm phán và ký kết Hiệp định Giơnevơ, chấm dứt cuộc chiến tranh xâm lược tại Đông Dương.

Về chính trị: Chiến thắng không chỉ mở ra một thời kỳ mới cho cách mạng Việt Nam trên con đường giải phóng dân tộc và thống nhất đất nước, mà còn trở thành nguồn cổ vũ mạnh mẽ cho phong rào đấu tranh giải phóng dân tộc của các nước bị áp bức trên toàn thế giới.

Di tích thành phần

Nhóm di tích hệ thống cứ điểm của Pháp (Tập đoàn Quân sự)

  1. Cụm cứ điểm Đồi D (Dominique) Phường Mường Thanh và phường Tân Thanh, TP. Điện Biên Phủ.
  • Đồi D1: Điểm cao nhất của dãy đồi phía Đông, nơi đặt đài quan sát pháo binh của Pháp
  • Đồi D2: Diện tích bảo vệ I là 8.279,85m2 (không có khu vực bảo vệ II). Cấu trúc phòng thủ gồm hệ thống chiến hào hình xương cá bao quanh đỉnh đồi.
  • Đồi D3: Diện tích bảo vệ I là 800m2, khu vực II rộng 7.600m2.
  • Diễn biến: Thực dân Pháp đã xây dựng và biến cứ điểm Đồi D để trực tiếp khống chế khu Trung tâm và sân bay Mường Thanh. Đúng 17 giờ ngày 30/3/1954, pháo binh ta dội bão lửa xuống cụm đồi này. Sau 2 ngày đêm chiến đấu áp sát, giành giật từng ụ súng, Trung đoàn 209 (Đại đoàn 312) đã hoàn toàn làm chủ các cứ điểm này, mở toang cánh cửa vào khu trung tâm.
  1. Cụm cứ điểm Đồi E (Eliane 1)
  • Đồi E1: Được Pháp ví như “bức bình phong” bảo vệ phía Đông Bắc. Đây là nơi Đại đoàn 312 thực hiện mũi tấn công chủ lực.
  • Đồi E2: Diện tích bảo vệ I là 76.466,5 m2. Đây là cứ điểm quan trọng mà Pháp đã dốc sức phản kích nhưng thất bại trước hỏa lực súng cối của ta. Đồi E2 được chọn làm địa điểm để xây dựng Sở chỉ huy phía trước của Đại đoàn 312. Khi quân ta tấn công cứ điểm E1, địch điều lực lượng lên cứ điểm E2 để chiếm giữ nhưng đã bị pháo và súng cối của ta khống chế, buộc địch phải rút lui không thể tiến lên và chúng lại rút về cứ điểm E1.
  1. Cụm di tích Đồi F (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 59.535,97m2 (không có khu vực bảo vệ II). Cùng với đồi A1, đồi F là một trong các điểm cao quan trọng nhất, có tác dụng che sườn cho phân khu Đông, đồng thời cùng các điểm cao khác tạo thành bình phong bảo vệ cho khu trung tâm Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ. Về phía ta, nếu chiếm được đồi F thì nơi đây có thể dùng làm trận địa hoả lực, đặt trung liên, đại liên, DKZ trực tiếp uy hiếp Al, C1, C2, phong toả cả bên sườn và chính diện trận địa Pháp về phía Đông, chi viện cho bộ binh xung phong thuận lợi. Đồi F được Quân đội ta làm chủ hoàn toàn vào rạng sáng ngày 07/5/1954.
  2. Điểm Pháo 105mm (Phân khu trung tâm) (phường Thanh Bình, thành phố Điện Biên Phủ). Diện tích khoanh vùng I là 334,4m2, không có khu vực bảo vệ II. Đây là nơi đặt các trận địa pháo hạng nặng của Pháp nhằm bắn chi viện cho các cứ điểm ngoại vi. Việc tiêu diệt điểm pháo này đã làm tê liệt khả năng phản pháo của địch. Từ ngày 20 – 22/11/1953 đã có 6 tiểu đoàn dù của Pháp, với khoảng 4.500 lính có mặt tại Điện Biên Phủ. Sau khi chiếm đóng Điện Biên thành công, thực dân Pháp đã cho xây dựng nơi đây thành một Tập đoàn quân sự mạnh, gồm 49 cứ điểm chia thành 8 cụm nằm trong ba phân khu đó là phân khu Bắc, phân khu Trung Tâm và phân khu Nam.
  3. Di tích Đồi Cháy (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 23.856,1m2 (không có khu vực bảo vệ II).

Trung đoàn 174, Đại đoàn 316 đã lấy đồi Cháy làm nơi đặt trận địa cối và Sở chỉ huy Trung đoàn. Đêm 06/5/1954, Trung đoàn 174 được lệnh công kích vào cứ điểm A1. Sau khi chiếm được A1, Trung đoàn 174 để lại một số đơn vị chốt giữ A1, còn lại thì rút quân về bên Đồi Cháy chỉnh đốn lại đội hình. Các đơn vị súng cối, pháo 75mm trên Đồi Cháy bắn yểm hộ cho các phân đội bộ binh tiến vào trung tâm của Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.

Nhóm di tích hệ thống quân đội nhân dân Việt Nam

  1. Hệ thống Sở Chỉ huy Chiến dịch
  • Đài quan sát chiến dịch Điện Biên Phủ tại Mường Phăng (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 160m2 và khu vực bảo vệ II là 5.230,5m2.
  • Đài quan sát Pú Tó Cọ: Độ cao tuyệt đối trên 1.000m. Diện tích khoanh vùng bảo vệ II là 5.230,5m2. Đây là “con mắt” của chiến dịch, nơi đặt kính quan sát pháo binh để điều chỉnh hỏa lực bắn chính xác vào thung lũng Mường Thanh.Ngọn núi Pu Tó Cọ được Tham mưu trưởng Hoàng Văn Thái chọn để đặt Đài quan sát, nằm gần Sở chỉ huy chiến dịch. Bộ chỉ huy chiến dịch đóng tại khu rừng Mường phăng cũng như Đài quan sát của Sở chỉ huy đóng trên đỉnh Pú Tó Cọ được giữ bí mật tuyệt đối, từ khi chuyển tới cho đến khi kết thúc chiến dịch.
  • Sở chỉ huy Trung đoàn 98, Đại đoàn 316 (phường Mường Thanh, thành phố Điện Biên Phủ), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.662,7m2 (không có khu vực bảo vệ II), đây là nơi trực tiếp chỉ huy đánh chiếm các cứ điểm C1, C2 phía tả ngạn sông Nậm Rốm. Sở chỉ huy Trung đoàn 98 đóng ở Mường Thanh từ tháng 12/1953 – 5/1954. Tại đây, trong đợt tấn công thứ hai, Trung đoàn 98 nhận lệnh tiêu diệt cứ điểm C1, C2, ngoài ra còn có đơn vị khác đánh hiệp đồng. Tại cứ điểm Đồi C, các chiến sỹ Trung đoàn 98 đã đánh tan quân Pháp, mở toang cánh cửa phía Đông để tấn công vào Tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
  • Trụ sở Ủy ban kháng chiến hành chính tỉnh Lai Châu, xã Mường Phăng, huyện Điện Biên có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 4.967,1m2, khu vực bảo vệ II là 18.183,2m2. Ủy ban Kháng chiến hành chính tỉnh Lai Châu, được thành lập trên cơ sở Ủy ban Kháng chiến hành chính các huyện, xã đã có từ trước (thành lập đầu tiên ở huyện Điện Biên và Tuần Giáo) vào tháng 12/1953, do đồng chí Hoàng Bắc Dũng, Trưởng Ban cán sự Đảng tỉnh làm Chủ tịch, 2 ủy viên là đồng chí Lò Văn Hặc và Hoàng Hoa Thưởng.
  • Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ ở Hang Huổi He, xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên, có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 443m2 và khu vực bảo vệ II là 1.443,5m2. Trong chiến dịch Điện Biên Phủ, Sở chỉ huy của Bộ chỉ huy được đặt tại 3 địa điểm: Hang Thẳm Púa, Hang Huổi He và Mường Phăng. Hang Thẳm Púa là Sở chỉ huy đầu tiên của Bộ chỉ huy trong thời gian 32 ngày (từ 17/12/1953 – 17/1/1954). Hang Huổi He là Sở chỉ huy thứ 2 của Bộ chỉ huy chiến dịch trong thời gian 13 ngày (từ ngày 18 – 30/01/1954).
  • Sở chỉ huy Chiến dịch ở hang Thẳm Púa (xã Chiềng Đông, huyện Tuần Giáo), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.869,3m2 và khu vực bảo vệ II là 16.586,75m2. Đây là vị trí đặt chân đầu tiên của Sở chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ trong 32 ngày (từ 17/12/1953-17/01/1954). Tại đây, ngày 19/12/1953, Bộ chỉ huy chiến dịch đã triển khai kế hoạch đánh địch ở Lai Châu không cho rút về Điện Biên Phủ và bao vây quân địch ở Điện Biên Phủ, chốt chặt không cho chúng rút chạy về Thượng Lào.
  1. Hệ thống Trận địa Pháo (Lưới lửa phòng không)
  • Trận địa Bản Tâu (Trận địa cao xạ 37mm của Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351), xã Hua Thanh, huyện Điện Biên) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.972,15m2 (không có khu vực bảo vệ II). Vào lúc 15 giờ 30 phút, ngày 14/3/1954 khi các đơn vị bộ binh của Đại đoàn 308, 312 chuẩn bị tiến công cụm đồi Độc Lập, có hai tốp máy bay của địch từ hướng Đông bay tới. Tiểu đoàn pháo cao xạ 394, Trung đoàn 367 đã bắn rơi tại chỗ chiếc Hen Đi Vơ đi đầu. Những chiếc khác, trước lưới lửa mãnh liệt của pháo cao xạ ta, ném bom loạn xạ rồi tháo chạy. Đêm hôm đó, quân ta tiêu diệt cụm cứ điểm đồi Độc Lập.
  • Trận địa Bản Hồng Líu (Trận địa cao xạ 37mm của tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351), phường Noong Bua, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 3.012,59m2(không có khu vực bảo vệ II). Sáng ngày 14/3/1954, Tiểu đoàn 383 đã bắn cháy chiếc máy bay đầu tiên của Pháp trên bầu trời Điện Biên Phủ. Tiểu đoàn 383 đã sử dụng pháo cao xạ 37mm, cùng các đơn vị khác khống chế bầu trời để bộ binh yên tâm tiêu diệt cứ điểm Độc Lập. Trong đợt tấn công thứ hai và thứ ba của chiến dịch, Tiểu đoàn 383 đã sử dụng pháo cao xạ 37mm khống chế bầu trời, tạo điều kiện cho bộ binh tiêu diệt các cứ điểm của Pháp, tiến đến tổng công kích vào chiều ngày 07/5/1954.
  • Trận địa Púng Tôm (Trận địa pháo của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351), thuộc bản Púng Tôm, xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.624,2m2 và khu vực bảo vệ II là 8.512m2. Đúng 17giờ 13/3/1954, cùng với pháo 105 mm của ta, pháo cao xạ 37 mm của Đại đội 815, Tiểu đoàn 383 bắt đầu bắn những loạt đạn đầu tiên vào Him Lam, khống chế bầu trời, không cho máy bay địch tiếp tế và viện trợ. Chỉ trong vòng hơn 5 tiếng đồng hồ, Khẩu đội 3 cùng với 3 Khẩu đội khác của Đại đội 815 hiệp đồng với công binh, bộ binh tiêu diệt hoàn toàn cứ điểm Him Lam: Diện tích khu vực I và II tổng cộng 11.136,2 $m^2$. Đây là trận địa phối hợp chặt chẹp với bộ binh để tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam ngay trong giờ đầu nổ súng.
  • Trận địa Bản Mến (Trận địa pháo của Tiểu đoàn 394, Trung đoàn 367, Đại đoàn 351 ở Bản Mển (xã Thanh Nưa, huyện Điện Biên), có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 2.870,2m2 (không có khu vực bảo vệ II). Đây là vị trí trận địa pháo để khống chế và tiêu diệt địch tại phân khu Bắc (Độc lập và Bản Kéo), tạo điều kiện để bộ binh đánh vào sào huyệt của địch. Sau khi tiêu diệt được Độc Lập, Bản Kéo, trận địa pháo của Tiểu đoàn 394 chuyển đến bản Tâu, tiếp tục hiệp đồng với bộ binh tiêu diệt các cứ điểm thuộc Trung tâm tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ.
  • Trận địa pháo 105mm của Đại đội 806, tiểu đoàn 594, Trung đoàn 54, Đại đoàn 351 ở xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ, diện tích khu vực bảo vệ I là 1.233,6m2 (không có khu vực bảo vệ II). Tại đây, quân ta đã bắn những loạt đạn pháo 105mm đầu tiên vào cứ điểm Him Lam mở màn cho chiến dịch Điện Biên Phủ. 22 giờ 30 phút ngày 13/3/1954, Đại đoàn 312 đã tiêu diệt trung tâm đề kháng Him Lam, xóa sổ Tiểu đoàn 3 của địch, sau đó, pháo 105mm đã tấn công vào cứ điểm Độc Lập, uy hiếp Bản Kéo.
  • Trận địa pháo H6 của tiểu đoàn 224, Trung đoàn 675, Đại đoàn 351 ở xã Thanh Minh, thành phố Điện Biên Phủ) có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 1.108,76m2 (không có khu vực bảo vệ II). Đêm 06/5/1954, Tiểu đoàn H6 tham gia hỏa lực, bắn 3 đợt (618 viên) vào các mục tiêu, góp phần làm cho địch suy sụp tinh thần. Sáng sớm ngày 07/5/1954, Tiểu đoàn được phổ biến thư của Đại tướng Võ Nguyên Giáp: “hôm nay địch sẽ ra sức đối phó, tập trung lực lượng pháo kích và oanh tạc. Ta phải tích cực, cương quyết, bền bỉ đánh bại đợt phản kích cuối cùng của địch”. Đến 9 giờ 30, Tiểu đoàn được lệnh bắn 2 loạt đạn (144 viên) vào khu vực Mường Thanh, trong đó có cả 3 mục tiêu cấp trên đã chỉ định. Một cột lửa khói khổng lồ bao trùm khu vực  mục tiêu. 15 giờ chiều, quân ta được lệnh tổng công kích trên toàn mặt trận đánh thẳng vào Sở chỉ huy địch bắt sống tướng Đờ Cát và toàn bộ Ban tham mưu của Tập đoàn cứ điểm. Đến 24giờ, chiến dịch lịch sử Điện Biên Phủ kết thúc toàn thắng.
  1. Hệ thống Hậu cần và Kỹ thuật chiến lược
  • Đèo Pha Đin (Túi bom), xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo, có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 137.083,4m2 và khu vực bảo vệ II là 137.686,53m2. Đèo Pha Đin dài 32 km, điểm đầu thuộc xã Tỏa Tình, huyện Tuần Giáo (tỉnh Điện Biên) và kết thúc ở xã Phỏng Lái, huyện Thuận Châu (tỉnh Sơn La). Đây là tuyến đường huyết mạch của Quân đội ta nối từ hậu phương ra chiến dịch. Với vị thế chiến lược, muốn vào Điện Biên Phủ thì bắt buộc phải qua đèo Pha Đin. Vì thế, địch cho máy bay tuần tiễu khu vực đèo hàng chục lần mỗi ngày, thả hàng trăm quả bom các loại (bom phá, bom nổ chậm, bom bi, bom Na-pan…). Đèo Pha Đin được ví như “túi bom”, có ngày địch ném xuống đây 160 quả bom, trung bình mỗi ngày chịu 16 tấn bom đạn. Tại đây, đã có hơn 8.000 thanh niên xung phong ngã xuống để đảm bảo thông xe, thông tuyến, phục vụ kịp thời cho việc chuyển quân, chuyển vũ khí, lương thực thực phẩm.
  • Đường kéo pháo bằng tay, xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên, có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 27.239,5m2 và khu vực bảo vệ II là 15.557,2m2. Sau khi cân nhắc tình hình tại Điện Biên Phủ, Bộ chỉ huy mặt trận quyết định đưa pháo hạng nặng lên chiếm lĩnh trận địa. Những khẩu pháo nặng hàng tấn vượt qua núi cao, vực thẳm lên địa điểm tập kết chỉ dựa vào sức người. Với khẩu hiệu “mở đường thắng lợi”, sáng ngày 15/01/1954, lực lượng mở đường với hơn 5.000 người, với những công cụ thô sơ như dao, rìu, cuốc, xẻng, xà beng,… đào vào các sườn núi cao hiểm trở, vừa cắm mốc, vừa làm hầm trú ẩn, hầm công sự, trong khi quân địch luôn cho máy bay thả bom phá hủy… Sau 20 giờ, một con đường kéo pháo bằng tay dài là 15km, rộng 3m đã được hoàn thành vượt thời gian quy định 4 giờ.
  • Khu vực tập kết Hậu cần tại ngã ba Tuần Giáo, thị trấn Tuần Giáo, huyện Tuần Giáo, diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 50m2 (không có khu vực bảo vệ II). Đây là địa điểm tập kết lương thực, thực phẩm cho chiến dịch Điện Biên Phủ được vận chuyển đến từ các hướng.
  • Trận Hậu cần hỏa tuyến Nà Tấu Km62, xã Nà Nhạn, huyện Điện Biên có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 380,5m2 và khu vực bảo vệ II là  4.520,5m2. Trạm hậu cần hỏa tuyến Nà Tấu đóng ở đây trong vòng 13 ngày (từ 18 đến 30/01/1954) cùng với Bộ chỉ huy chiến dịch Điện Biên Phủ.
  1. Sở chỉ huy Tiền phương của Tổng Cục cung cấp (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 13.666m2 (không có khu vực bảo vệ II). Sở chỉ huy Tiền phương nằm ở sườn núi Lùng Pá Chả (tiếng Thái có nghĩa là “lán trong rừng tre”), hữu ngạn suối Ta Hiện, gần với Trụ Sở Ủy ban kháng chiến hành chính và Sở chỉ huy chiến dịch tại Mường Phăng. Tại đây, ta đã huy động được số lương – thực phẩm đáp ứng đủ nhu cầu cho chiến dịch.

Các di tích lịch sử nhân văn đặc biệt

  • Di tích Mường Pồn (Nơi anh Bế Văn Đàn hy sinh), xã Mường Pồn, huyện Điện Biên, có diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 8.761,5m2 (không có khu vực bảo vệ II). Trận chiến 12/12/1953 ở Mường Pồn, trong một tình thế khẩn cấp, Bế Văn Đàn tuy đã bị thương nhưng vẫn dũng cảm nhấc hai chân súng tiểu liên đặt lên vai mình làm bệ đỡ để đồng đội siết cò, trút đạn về phía quân địch, bẻ gãy đợt tấn công. Bế Văn Đàn bị thêm hai vết thương nặng (do 2 chân súng tỳ lên vai), máu chảy ròng ròng, đã anh dũng hi sinh trong tư thế hiên ngang, hai tay còn giữ chặt chân súng… Tấm gương hi sinh oanh liệt của anh đã cổ vũ cán bộ, chiến sĩ trên toàn mặt trận kiên quyết xông lên đánh quân thù.
  • Tòa soạn tiền phương của Báo Quân đội Nhân dân (xã Mường Phăng, huyện Điện Biên), diện tích khoanh vùng khu vực bảo vệ I là 4.919m2 (không có khu vực bảo vệ II). Ngày 28/12/1953, báo Quân đội Nhân dân ra số đầu tiên phát hành tại mặt trận Điện Biên Phủ, mang số 116 lấy theo số báo ở hậu phương. Trải qua 140 ngày đêm, báo Quân đội Nhân dân tại mặt trận Điện Biên Phủ đã ra được 33 số, góp phần tuyên truyền, cổ vũ, động viên tinh thần chiến đấu cho toàn quân.

Ngoài những di tích thành phần kể trên còn có Hầm chỉ huy tập đoàn cứ điểm Điện Biên Phủ (hay hầm Đờ Cát); Phân khu Hồng Cúm – Phân khu Nam (còn gọi là Idaben); Đồi Độc Lập; Cầu Mường Thanh.

Tổng diện tích các di tích thành phần trải dài hàng trăm héc-ta, tạo thành một hệ sinh thái lịch sử bao vây lấy thành phố Điện Biên Phủ ngày nay. Các số liệu diện tích (từ vài chục đến hàng trăm nghìn mét vuông) cho thấy quy mô đồ sộ và sự đầu tư nghiêm túc của Nhà nước trong việc khoanh vùng bảo vệ các giá trị gốc của chiến trường.

Bản báo cáo này cung cấp cái nhìn toàn diện về hạ tầng quân sự của cả hai bên, minh chứng cho một chiến thắng được kiến tạo từ sự chi tiết trong chuẩn bị và quyết liệt trong thực thi.

Xếp hạng

Với giá trị đặc biệt tiêu biểu, 23 điểm di tích chiến thắng Điện Biên Phủ (thành phố Điện Biên Phủ, huyện Tuần Giáo, huyện Điện Biên, tỉnh Điện Biên) đã được Thủ tướng Chính phủ ký Quyết định số 2367/QĐ-TTg ngày 23/12/2015 xếp hạng bổ sung vào Hồ sơ di tích lịch sử Chiến trường Điện Biên Phủ (đã được xếp hạng là di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 1272/QĐ-TTg ngày 12/8/2009 của Thủ tướng Chính phủ).

5/5 (2 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)