Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh)

Căn cứ Trung ương Cục miền Nam (Tây Ninh)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam nằm ở phía Bắc tỉnh Tây Ninh, gần khu vực biên giới Việt Nam – Campuchia và cách trung tâm thành phố Tây Ninh khoảng 60km. Khu di tích còn được biết đến qua nhiều tên gọi khác nhau như: R – mật danh của Trung ương Cục miền Nam; Căn cứ Chàng Riệc – gắn với tên khu rừng nơi đặt căn cứ; Căn cứ Phạm Hùng – do đồng chí Phạm Hùng từng đảm nhiệm cương vị Bí thư Trung ương Cục trong thời gian dài; hay Căn cứ địa Bắc Tây Ninh.

Trong hai cuộc kháng chiến chống thực dân Pháp và đế quốc Mỹ, miền Đông Nam Bộ nói chung và Tây Ninh nói riêng giữ vị trí chiến lược đặc biệt quan trọng. Trong đó, căn cứ địa Bắc Tây Ninh là nơi đặt cơ quan đầu não của cách mạng miền Nam suốt nhiều năm, trực tiếp lãnh đạo và chỉ đạo phong trào đấu tranh cách mạng cho đến ngày miền Nam hoàn toàn giải phóng.

Lịch sử nhân vật

Khu di tích lịch sử Căn cứ Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam nằm cách trung tâm thành phố Tây Ninh khoảng 60km, trong khu vực rừng nhiệt đới sát biên giới Việt Nam – Campuchia và cách Căn cứ Trung ương Cục miền Nam khoảng 15km. Đây là nơi đóng quân của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trong giai đoạn từ năm 1973 đến năm 1975, giữ vai trò đặc biệt quan trọng trong công tác bảo vệ cơ quan đầu não cách mạng miền Nam thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Sau Hiệp định Genève năm 1954, đất nước Việt Nam tạm thời bị chia cắt thành hai miền Nam – Bắc. Miền Bắc bước vào thời kỳ xây dựng chủ nghĩa xã hội, trong khi ở miền Nam, đế quốc Mỹ dựng lên chính quyền Việt Nam Cộng hòa nhằm thực hiện âm mưu chia cắt lâu dài đất nước và biến miền Nam thành thuộc địa kiểu mới. Trước tình hình đó, dưới sự lãnh đạo của Đảng, cách mạng Việt Nam bước sang giai đoạn mới với hai nhiệm vụ chiến lược đồng thời: xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và tiếp tục cuộc cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân ở miền Nam nhằm hướng tới mục tiêu hòa bình, độc lập và thống nhất đất nước.

Tháng 10/1954, tại căn cứ Chắc Băng (Vĩnh Thuận, Cà Mau), Hội nghị Xứ ủy Nam Bộ quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam và thành lập Xứ ủy Nam Bộ. Thực hiện chỉ đạo của Xứ ủy, lực lượng Công an Nam Bộ nhanh chóng chuyển hướng tổ chức và hoạt động: giải thể một số lực lượng, cất giấu vũ khí, thanh lý trại giam, đồng thời bố trí cán bộ ở lại hoạt động bí mật. Một bộ phận cán bộ được phân công chuyển vùng, thay đổi lý lịch, hòa nhập đời sống xã hội để xây dựng cơ sở cách mạng và che mắt địch.

Trước yêu cầu bảo vệ phong trào cách mạng miền Nam ngày càng phát triển mạnh mẽ, tháng 7/1960, Xứ ủy Nam Bộ ban hành Chỉ thị số 01 và quyết định thành lập Bảo vệ An ninh Xứ ủy (ký hiệu C93B). Sau đó, các Ban Bảo vệ An ninh ở nhiều khu vực như miền Đông Nam Bộ, miền Tây Nam Bộ, Sài Gòn – Gia Định và Khu X lần lượt được thành lập. Nhiệm vụ trọng tâm của lực lượng an ninh thời kỳ này là đấu tranh chống gián điệp, tình báo, bảo vệ cán bộ lãnh đạo, giữ vững căn cứ cách mạng, vùng giải phóng và hỗ trợ phong trào đấu tranh của quần chúng nhân dân.

Sau khi Trung ương Cục miền Nam được tái lập vào tháng 10/1961 thay cho Xứ ủy Nam Bộ, Ban Bảo vệ An ninh Trung ương Cục cũng được thành lập. Đến tháng 8/1962, Trung ương Cục chính thức kiện toàn Ban An ninh Trung ương Cục gồm các đồng chí: Phan Văn Đáng giữ chức Trưởng ban; các đồng chí Cao Đăng Chiếm, Huỳnh Việt Thắng, Lê Văn Còn, Huỳnh Anh và Thái Doãn Mẫn giữ các vị trí lãnh đạo chủ chốt. Hệ thống tổ chức an ninh từng bước được củng cố và mở rộng xuống nhiều địa phương, có nơi phát triển tới cấp xã. Tháng 1/1963, Hội nghị An ninh toàn Miền lần thứ nhất được tổ chức, xác định đường lối, phương châm hoạt động, nhiệm vụ và cơ cấu tổ chức của lực lượng an ninh miền Nam, đồng thời thống nhất tên gọi chung của các tổ chức an ninh các cấp là “Ban An ninh”.

Trong giai đoạn từ năm 1960 đến năm 1975, Ban Bảo vệ An ninh Xứ ủy, sau này là Ban Bảo vệ An ninh Trung ương Cục miền Nam và Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam, đã trải qua tám lần di chuyển địa điểm đóng quân nhằm bảo đảm yêu cầu chiến lược về bảo vệ, chỉ đạo và tham mưu công tác đấu tranh của lực lượng an ninh trên toàn chiến trường miền Nam. Ở mỗi căn cứ, công tác bố phòng, phòng chống địch xâm nhập và bảo vệ an toàn cho Thường vụ Trung ương Cục cùng các cơ quan trực thuộc luôn được triển khai chặt chẽ, khoa học và phù hợp với điều kiện chiến tranh.

Sau khi Hiệp định Paris được ký kết ngày 27/01/1973, cùng với các cơ quan của Trung ương Cục miền Nam, Ban An ninh được lệnh chuyển căn cứ về tỉnh Tây Ninh, chủ yếu đóng quân trên địa bàn huyện Tân Biên. Trong đó, cơ quan lãnh đạo Ban An ninh đặt tại khu vực Bảy Bàu, thuộc xã Tân Lập, còn các tiểu ban trực thuộc phân bố tại nhiều xã lân cận trong huyện. Đây là địa điểm đóng quân cuối cùng của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam trước khi lực lượng tiếp quản Sài Gòn sau ngày giải phóng hoàn toàn miền Nam.

Việc bố trí hệ thống căn cứ tại Tây Ninh không chỉ đáp ứng yêu cầu hoạt động nghiệp vụ mà còn tạo thành một “thế trận án ngữ” nhằm bảo vệ an toàn cho các cơ quan đầu não của Trung ương Cục miền Nam. Trong thời gian hoạt động tại đây, Ban An ninh Trung ương Cục đã tổ chức nhiều hội nghị, lớp tập huấn dành cho cán bộ, chiến sĩ lực lượng an ninh các khu và các tỉnh trên toàn miền Nam. Đồng thời, các hoạt động sinh hoạt chính trị, văn hóa, văn nghệ và thể dục thể thao cũng được duy trì thường xuyên, góp phần nâng cao bản lĩnh chính trị, củng cố tinh thần chiến đấu và rèn luyện thể lực cho cán bộ, chiến sĩ trong điều kiện chiến tranh ác liệt.

Ngày 09/5/1975, sau khi miền Nam hoàn toàn giải phóng, toàn bộ cơ quan và lực lượng của Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam tại hậu cứ Tây Ninh được điều động trở về Sài Gòn để tiếp quản và ổn định tình hình an ninh. Đến tháng 6/1976, Đại hội tuyên dương lực lượng An ninh miền Nam được tổ chức tại Thành phố Hồ Chí Minh nhằm ghi nhận công lao đóng góp của lực lượng an ninh trong kháng chiến, đồng thời tiến hành thống nhất lực lượng Công an miền Bắc và An ninh miền Nam. Từ đây, Ban An ninh Trung ương Cục miền Nam hoàn thành sứ mệnh lịch sử của mình trong sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc và bảo vệ cách mạng Việt Nam.

Kiến trúc cảnh quan

Khu di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam được tổ chức thành ba phân khu chính gồm: Căn cứ Trung ương Cục miền Nam, Căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam và Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây là quần thể di tích có giá trị đặc biệt trong lịch sử kháng chiến chống Mỹ cứu nước, gắn liền với vai trò lãnh đạo, chỉ đạo cách mạng miền Nam của Đảng trong suốt nhiều giai đoạn chiến tranh.

1. Căn cứ Trung ương Cục miền Nam

Tháng 3 năm 1951, Hội nghị Trung ương lần thứ nhất (khóa II) quyết định thành lập Trung ương Cục miền Nam nhằm trực tiếp lãnh đạo phong trào cách mạng ở Nam Bộ. Ban lãnh đạo ban đầu gồm đồng chí Lê Duẩn giữ chức Bí thư và đồng chí Lê Đức Thọ làm Phó Bí thư. Sau đó, đồng chí Lê Đức Thọ được phân công giữ cương vị Bí thư, đồng chí Phạm Hùng làm Phó Bí thư. Đến ngày 06/9/1954, Bộ Chính trị quyết định giải thể Trung ương Cục miền Nam, đồng thời thành lập lại Xứ ủy Nam Bộ và các Khu ủy để phù hợp với tình hình mới sau Hiệp định Genève.

Ngày 23/01/1961, Hội nghị lần thứ ba Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa III) quyết định tái lập Trung ương Cục miền Nam nhằm đáp ứng yêu cầu lãnh đạo cuộc kháng chiến chống Mỹ tại chiến trường miền Nam. Đầu năm 1965, Trung ương Cục được giao nhiệm vụ chỉ đạo toàn bộ Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ; đồng chí Nguyễn Văn Linh, khi đó là Bí thư Xứ ủy Nam Bộ, được giao trọng trách Bí thư Trung ương Cục. Trong giai đoạn từ năm 1967 đến năm 1975, đồng chí Phạm Hùng giữ cương vị Bí thư; các đồng chí Nguyễn Văn Linh, Phan Văn Đáng và Hoàng Văn Thái đảm nhiệm chức vụ Phó Bí thư Trung ương Cục miền Nam.

Căn cứ được xây dựng tại khu vực rừng Chàng Riệc – Rùm Đuôn, nằm sâu trong vùng rừng nguyên sinh với địa hình hiểm trở, nhiều tầng cây che phủ, thuận lợi cho việc giữ bí mật và bảo vệ cơ quan đầu não cách mạng miền Nam. Hệ thống nhà ở và nơi làm việc trong căn cứ được dựng nổi trên mặt đất bằng vật liệu đơn sơ như gỗ và lá trung quân; các hầm trú ẩn được bố trí liền kề, chìm dưới lòng đất nhằm bảo đảm an toàn trước các cuộc càn quét và đánh phá ác liệt của quân đội Mỹ và chính quyền Sài Gòn.

Hiện nay, khu di tích được quy hoạch thành hai khu vực chính. Khu di tích phục dựng nhiều công trình quan trọng như nhà thường trực, hội trường lớn, hội trường nhỏ, nhà bảo vệ, văn phòng, bếp Hoàng Cầm, cùng nơi ở và làm việc của các đồng chí lãnh đạo như Nguyễn Văn Linh, Nguyễn Chí Thanh, Võ Văn Kiệt, Phạm Hùng… Bên cạnh đó còn có hệ thống giao thông hào, hầm hàm ếch và các ụ chiến đấu được tái hiện tương đối nguyên trạng trên toàn tuyến căn cứ.

Khu tưởng niệm bao gồm nhà đón tiếp, khu trưng bày tư liệu – hiện vật và khu tưởng niệm các anh hùng liệt sĩ đã hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Tổng diện tích xây dựng của khu vực này khoảng 750m², góp phần bảo tồn và phát huy giá trị lịch sử của căn cứ cách mạng đặc biệt quan trọng này trong hệ thống di tích kháng chiến Việt Nam.

2. Căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam

Ngày 20/12/1960, tại Trảng Chiêng, xã Tân Lập, huyện Châu Thành (nay thuộc huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh), Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập và bầu ra Ủy ban Trung ương lâm thời. Sự kiện này đánh dấu bước phát triển quan trọng của phong trào cách mạng miền Nam, tạo nên một tổ chức chính trị rộng lớn nhằm tập hợp các tầng lớp nhân dân tham gia đấu tranh chống Mỹ và chính quyền Sài Gòn, hướng tới mục tiêu giải phóng miền Nam và thống nhất đất nước.

Trong quá trình hoạt động, Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đã tổ chức nhiều kỳ đại hội quan trọng. Đại hội Đại biểu lần thứ nhất diễn ra từ ngày 16/2 đến ngày 03/3/1962 và Đại hội lần thứ hai được tổ chức từ ngày 11 đến ngày 18/11/1964. Đặc biệt, từ ngày 15 đến ngày 20/8/1967, tại căn cứ địa Bắc Tây Ninh, Đại hội bất thường của Mặt trận đã thông qua Cương lĩnh chính trị, tạo cơ sở quan trọng cho việc thành lập Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Đây cũng là kỳ đại hội lần thứ ba và là lần cuối cùng của Mặt trận trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ cứu nước.

Khu di tích Căn cứ Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam hiện nằm dọc theo dòng Suối Chò và được tổ chức thành ba phân khu chức năng chính. Khu di tích gốc bao gồm nhiều công trình được phục dựng và bảo tồn như nhà bảo vệ, nhà giao liên, nhà khách, nơi ở và làm việc của các đồng chí Nguyễn Hữu Thọ, Phùng Văn Cung, Võ Chí Công, cùng hệ thống bếp Hoàng Cầm, hội trường, giao thông hào và hầm trú ẩn. Những công trình này phản ánh điều kiện sinh hoạt, làm việc và chỉ đạo cách mạng trong hoàn cảnh chiến tranh gian khổ nhưng kiên cường của lực lượng cách mạng miền Nam.

Bên cạnh đó, khu tưởng niệm gồm nhà bia, nhà đón tiếp và nhà trưng bày tư liệu, hiện vật lịch sử nhằm giới thiệu quá trình hình thành, hoạt động và đóng góp của Mặt trận Dân tộc giải phóng miền Nam Việt Nam đối với sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc. Ngoài ra, khu bảo tồn được quy hoạch gắn liền với cảnh quan tự nhiên của vùng căn cứ, góp phần giữ gìn không gian lịch sử và giá trị sinh thái đặc trưng của chiến khu Bắc Tây Ninh trong thời kỳ kháng chiến.

3. Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam

Từ ngày 06 đến ngày 08/6/1969, tại khu rừng Tà Nốt thuộc huyện Châu Thành (nay là huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh), Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam chính thức được thành lập. Đây là một sự kiện chính trị có ý nghĩa đặc biệt quan trọng trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, thể hiện sự trưởng thành của phong trào cách mạng miền Nam và khẳng định vị thế chính trị của lực lượng cách mạng trên trường quốc tế. Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát được cử giữ chức Chủ tịch Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, trong khi Luật sư Nguyễn Hữu Thọ đảm nhiệm cương vị Chủ tịch Hội đồng Cố vấn.

Khu Căn cứ Chính phủ Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam hiện có diện tích khoảng 60ha, được quy hoạch thành ba khu vực chức năng chính. Khu di tích gốc bao gồm các công trình phục dựng như nhà làm việc, nhà ăn, bếp Hoàng Cầm, hệ thống hầm trú ẩn và giao thông hào. Những công trình này phản ánh điều kiện hoạt động bí mật, linh hoạt nhưng hết sức khoa học của cơ quan đầu não cách mạng miền Nam trong thời kỳ chiến tranh ác liệt.

Khu tôn tạo gồm các hạng mục như nhà đón tiếp, khu trưng bày, phòng khách, nhà làm việc và nhà bia tưởng niệm nhằm phục vụ công tác bảo tồn, giới thiệu tư liệu lịch sử và giáo dục truyền thống cách mạng cho nhân dân và du khách. Bên cạnh đó, khu bảo tồn được giữ gìn gắn với cảnh quan rừng tự nhiên, góp phần tái hiện không gian căn cứ địa cách mạng giữa vùng chiến khu Bắc Tây Ninh trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ.

Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam mang giá trị đặc biệt về lịch sử, chính trị và quân sự. Trong suốt 15 năm từ 1961 đến 1975, Trung ương Cục miền Nam đã cụ thể hóa nhiều chủ trương, đường lối chiến lược của Đảng và Chủ tịch Hồ Chí Minh vào thực tiễn chiến trường miền Nam. Từ đây, nhiều chỉ thị, nghị quyết quan trọng đã được ban hành, góp phần định hướng và lãnh đạo thắng lợi phong trào cách mạng trên toàn chiến trường Nam Bộ và cực Nam Trung Bộ. Thực tiễn lịch sử đã chứng minh việc xây dựng Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là một quyết sách đúng đắn, sáng tạo của Đảng trong điều kiện chiến tranh cách mạng.

Không chỉ là “thủ đô kháng chiến” của cách mạng miền Nam, nơi đây còn lưu giữ dấu ấn hoạt động của nhiều đồng chí lãnh đạo cấp cao của Đảng cùng hàng vạn cán bộ, chiến sĩ đã chiến đấu và hy sinh vì sự nghiệp giải phóng dân tộc. Di tích vì vậy có ý nghĩa to lớn trong công tác giáo dục truyền thống yêu nước, tinh thần cách mạng và ý chí đấu tranh dân tộc, đồng thời trở thành điểm tham quan lịch sử – văn hóa quan trọng, thu hút đông đảo du khách trong và ngoài nước, đặc biệt là thế hệ trẻ Việt Nam.

Xếp hạng

Với những giá trị đặc biệt về lịch sử, văn hóa và khoa học, ngày 10/5/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 548/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử Căn cứ Trung ương Cục miền Nam là Di tích quốc gia đặc biệt. Đây là sự ghi nhận đối với vai trò to lớn của căn cứ địa cách mạng miền Nam trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước, nơi từng là cơ quan đầu não lãnh đạo, chỉ đạo phong trào cách mạng trên toàn chiến trường miền Nam trong giai đoạn 1961 – 1975. Việc được xếp hạng Di tích quốc gia đặc biệt không chỉ khẳng định giá trị tiêu biểu của di tích đối với lịch sử dân tộc Việt Nam trong thế kỷ XX, mà còn góp phần quan trọng trong công tác bảo tồn, phát huy giá trị di sản, giáo dục truyền thống yêu nước và tinh thần cách mạng cho các thế hệ hôm nay và mai sau.

5/5 (2 bình chọn)

Hình ảnh

Chia sẻ
Checkin

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)