Tên gọi và vị trí địa lý
Am Mỵ Châu, còn được nhân dân địa phương gọi là am Bà Chúa hay đền thờ Mỵ Châu, nằm ở phía Tây đình Ngự Triều Di Quy trong khu di tích Cổ Loa. Đây là một công trình tín ngưỡng gắn liền với truyền thuyết về công chúa Mỵ Châu – con gái vua An Dương Vương, nhân vật trung tâm trong câu chuyện lịch sử và huyền thoại về sự mất nước của Âu Lạc. Sự tồn tại của am thờ phản ánh tín ngưỡng dân gian, lòng cảm thương cũng như quan niệm nhân văn của người Việt đối với số phận bi thương của Mỵ Châu qua nhiều thế kỷ.
Lịch sử và nhân vật
Mỵ Châu là con gái của Thục An Dương Vương, vị vua sáng lập nước Âu Lạc và xây dựng kinh đô Cổ Loa. Hình tượng Mỵ Châu gắn liền với truyền thuyết nổi tiếng Mỵ Châu – Trọng Thủy, một trong những câu chuyện tiêu biểu và có sức sống lâu bền trong kho tàng truyền thuyết dân gian Việt Nam về buổi đầu dựng nước. Câu chuyện vừa mang màu sắc lịch sử, phản ánh cuộc xung đột giữa Âu Lạc và Nam Việt, vừa chứa đựng yếu tố huyền thoại cùng những bài học sâu sắc về tình yêu, lòng trung thành, ý thức bảo vệ quốc gia và cảnh giác trước âm mưu ngoại bang.
Nhắc đến Mỵ Châu, nhiều người thường nhớ đến những câu thơ quen thuộc của nhà thơ Tố Hữu:
Tôi kể ngày xưa chuyện Mỵ Châu,
Trái tim lầm chỗ để lên đầu.
Nỏ thần vô ý trao tay giặc,
Nên nỗi cơ đồ đắm biển sâu.
Đằng sau mối tình giữa Mỵ Châu và Trọng Thủy là âm mưu thôn tính Âu Lạc đầy thâm hiểm của Triệu Đà. Để thực hiện kế hoạch ấy, Triệu Đà đã cho con trai là Trọng Thủy sang cầu hôn công chúa Mỵ Châu nhằm tạo mối quan hệ hòa hiếu với An Dương Vương. Với mong muốn chấm dứt chiến tranh và giữ gìn hòa bình giữa hai quốc gia, An Dương Vương đã đồng ý cho hai người kết duyên. Tuy nhiên, chính sự chủ quan và thiếu cảnh giác của nhà vua đã tạo điều kiện cho cha con Triệu Đà lợi dụng.
Theo truyền thuyết, trong thời gian ở rể tại Cổ Loa, Trọng Thủy đã dò hỏi bí mật quân sự và dùng lời lẽ ngọt ngào để Mỵ Châu cho xem nỏ thần – vũ khí tối quan trọng bảo vệ Âu Lạc. Sau đó, Trọng Thủy bí mật đánh tráo lẫy nỏ thần rồi xin phép trở về thăm cha mẹ. Khi biết bí mật quân sự của Âu Lạc đã bị phá giải, Triệu Đà lập tức phát binh tấn công. An Dương Vương vẫn tin tưởng vào sức mạnh nỏ thần nên không chuẩn bị kỹ lưỡng. Đến khi giao chiến mới phát hiện nỏ thần mất linh nghiệm, quân Âu Lạc nhanh chóng thất bại. Nhà vua phải đưa Mỵ Châu chạy về phương Nam.
Trước lúc chia tay, vì quá tin tưởng chồng, Mỵ Châu đã chỉ cho Trọng Thủy cách nhận biết đường đi của hai cha con bằng việc rắc lông ngỗng dọc đường. Nhờ đó, quân Triệu Đà nhanh chóng đuổi kịp. Khi chạy đến vùng núi Mộ Dạ thuộc Nghệ An ngày nay, thần Kim Quy hiện lên và nói với An Dương Vương rằng “giặc ở sau lưng nhà vua”. Hiểu ra sự việc, An Dương Vương đã chém chết Mỵ Châu rồi theo thần Kim Quy xuống biển. Máu của Mỵ Châu chảy xuống biển, loài trai ăn phải hóa thành ngọc châu, tạo nên hình tượng “minh châu” nổi tiếng trong truyền thuyết dân gian Việt Nam.
Sau khi Mỵ Châu qua đời, theo truyền thuyết, Trọng Thủy mang thi hài nàng về mai táng tại Cổ Loa. Tại đây, nàng hóa thành một khối đá ngọc linh thiêng. Hiện nay ở Cổ Loa vẫn còn di tích được gọi là lăng Bà Chúa, nằm ở phía đông bắc xóm Vang, phía nam khu Đầm Cả, được nhân dân coi là nơi gắn với sự tích của Mỵ Châu.
Bên cạnh câu chuyện phổ biến trong sử sách và dân gian, tại Cổ Loa còn lưu truyền một truyền thuyết khác liên quan đến bức tượng đá Mỵ Châu. Tương truyền rằng sau khi Mỵ Châu mất, tại khu vực Đầm Cả bỗng xuất hiện một hòn đá lạ. Một người dân đi đánh dậm nhiều lần không bắt được cá mà chỉ thấy hòn đá nằm trong dụng cụ đánh bắt. Dù nhiều lần ném bỏ xuống nước, hòn đá vẫn hiện trở lại nên cuối cùng người này phải đem lên bờ.
Trẻ mục đồng trong vùng thường trèo lên hòn đá vui đùa, nhưng sau đó đều bị ốm đau. Người dân cho rằng đây là vật linh thiêng nên nhiều làng quanh vùng tổ chức rước về thờ, song không nơi nào đưa đi được. Chỉ khi dân làng Cổ Loa dùng võng đào khiêng cùng hai cụ đám đi rước thì hòn đá mới tự lăn vào võng để theo về làng. Khi đến khu vực nay là am Mỵ Châu, chiếc võng bất ngờ bị đứt và dân làng không thể tiếp tục di chuyển hòn đá. Cho rằng đây là ý trời, nhân dân đã lập am thờ ngay tại vị trí đó.
Theo truyền thuyết địa phương, tảng đá ban đầu có kích thước nhỏ nhưng ngày càng lớn dần. Người dân tin rằng bên trong tảng đá có ngọc quý và mang linh khí thiêng liêng nên thường xuyên đến cầu khấn. Về sau, khi có giặc ngoại xâm đến lấy viên ngọc bên trong, tảng đá không còn lớn thêm và cũng mất dần sự linh thiêng. Nơi phát hiện tảng đá tại khu Đầm Cả từ đó được nhân dân gọi là “Lăng Bà Chúa”.
Những truyền thuyết dân gian về Mỵ Châu được lưu truyền qua nhiều thế hệ không chỉ phản ánh trí tưởng tượng phong phú của cư dân Việt cổ mà còn cho thấy dấu ấn sâu đậm của nhân vật này trong đời sống tâm linh của người dân Cổ Loa. Hình tượng Mỵ Châu vừa gắn với nỗi đau mất nước, vừa thể hiện sự cảm thông đối với thân phận người phụ nữ trong lịch sử, đồng thời trở thành biểu tượng văn hóa đặc biệt trong không gian di sản Cổ Loa và truyền thống dân gian Việt Nam.
Kiến trúc cảnh quan
Khu am thờ gồm hai phần kiến trúc chính là Tiền tế và Hậu cung. Tiền tế là một ngôi nhà ba gian bằng gỗ, có tường hồi bít đốc, mái lợp ngói ta truyền thống. Các bộ vì được cấu tạo theo kiểu “thượng giá chiêng, hạ chồng rường, kẻ bẩy”, một dạng kết cấu phổ biến trong kiến trúc truyền thống vùng đồng bằng Bắc Bộ cuối thời Nguyễn. Toàn bộ cấu kiện gỗ trong công trình không trang trí chạm khắc cầu kỳ mà chủ yếu được bào soi đơn giản, tạo cảm giác mộc mạc và trang nghiêm. Kiến trúc hiện còn mang niên đại muộn, vào khoảng cuối thế kỷ XIX đầu thế kỷ XX. Trên thượng lương vẫn còn dòng chữ Hán ghi niên đại tu bổ: “Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tuế thứ Quý Sửu” (1973), cho thấy di tích đã nhiều lần được cộng đồng địa phương quan tâm gìn giữ và trùng tu.
Hậu cung là một tòa nhà xây theo chiều dọc, kết cấu chịu lực chủ yếu bằng hệ tường gạch xây kín ba mặt, chỉ mở hai cửa bên để thông với khu Tiền tế. Không gian kiến trúc khép kín tạo nên vẻ tĩnh lặng và linh thiêng cho nơi thờ tự chính.
Tại khu Tiền tế, hai bên trụ đầu hồi có đắp nổi đôi câu đối bằng chữ Hán:
Trung tín nhất tâm chiêu nhật nguyệt;
Linh quang vạn cổ đẳng càn khôn
Tạm dịch:
Một lòng trung tín sáng cùng nhật nguyệt;
Ánh thiêng muôn thuở sánh với đất trời.”
Chính giữa gian giữa đặt một ban thờ gọi là “Hương án tiền”. Phía trên treo bức cuốn thư đề bốn chữ Hán “Tốn cung diên tuý”, mang ý nghĩa ca ngợi nơi thờ người con gái hiền thục, đoan trang. Xung quanh khu vực này còn lưu giữ nhiều đôi câu đối ca ngợi lòng trung trinh và số phận bi thương của công chúa Mỵ Châu.
Đôi câu đối tại cột cái cạnh hương án ghi:
Trung tín thệ tâm thân hoá thạch;
Hưng vong sái lệ vọng trầm châu
Tạm dịch:
Lòng trung tín đã thề nguyền nên thân hóa đá;
Nước mắt khóc chuyện hưng vong hóa thành châu ngọc nơi giếng sâu.
Một đôi câu đối khác có nội dung:
Phái diễn Hồng Bàng trinh liệt cao huyền thiên cổ kính;
Ba trừng ngọc tỉnh hiển linh quang bạch nhất sinh tâm
Tạm dịch:
Dòng dõi Hồng Bàng, lòng trinh liệt được lưu truyền muôn thuở;
Giếng ngọc tỏa ánh linh thiêng soi rõ tấm lòng son.
Đi sâu vào phía trong, trước khu Hậu cung là ban thờ “Thập nhị cô”, tượng trưng cho mười hai thị nữ hầu cận công chúa Mỵ Châu. Hai bên ban thờ có đôi câu đối mang ý nghĩa triết lý sâu sắc về công – tội, tình thân và lịch sử:
Thiên tải thượng thị gia phi thuỳ năng biệt chi quy chảo nỗ cơ truyền ngoại sử;
Ngũ luân chung phụ dữ phu quả thục dân giã bạng khai tỉnh thuỷ đội thâm tình
Tạm dịch:
Ngàn năm qua, đúng sai khó ai phân định, chuyện móng rùa làm lẫy nỏ thần cũng chỉ còn là truyền thuyết;
Trong đạo luân thường, cha và chồng ai là người thân hơn, chỉ có ngọc trai và nước giếng ngọc mới hiểu được tấm lòng sâu nặng ấy.
Hậu cung là không gian linh thiêng nhất của am thờ, nơi đặt ngai thờ và tượng thờ công chúa Mỵ Châu. Gian trong cùng lưu giữ tượng đá Mỵ Châu – hiện vật gắn với truyền thuyết dân gian nổi tiếng ở Cổ Loa. Theo truyền thuyết, sau khi bị An Dương Vương chém tại núi Mộ Dạ thuộc Nghệ An ngày nay, thi thể hoặc linh khí của Mỵ Châu đã hóa thành đá và trôi về vùng chân thành Ngoại Cổ Loa. Người dân phát hiện pho tượng đá linh thiêng nên lập am thờ tại vị trí hiện nay.
Liên quan đến truyền thuyết này, tại Nghệ An hiện vẫn còn đền thờ An Dương Vương ở núi Mộ Dạ, thường gọi là đền Cuông. Bên cạnh đền cũng có am thờ Mỵ Châu, phản ánh sự lan tỏa rộng lớn của truyền thuyết An Dương Vương – Mỵ Châu – Trọng Thủy trong đời sống văn hóa và tín ngưỡng dân gian Việt Nam.
Am Mỵ Châu ngày nay không chỉ là một công trình tín ngưỡng gắn với lịch sử Cổ Loa mà còn là nơi lưu giữ nhiều lớp trầm tích văn hóa, huyền thoại và tâm thức dân gian của người Việt. Qua kiến trúc, câu đối, truyền thuyết và các nghi lễ thờ tự, di tích phản ánh sâu sắc quan niệm đạo đức, lòng trung nghĩa, sự cảm thông đối với thân phận con người cũng như ý thức lịch sử của cộng đồng cư dân vùng Cổ Loa qua nhiều thế hệ.
Xếp hạng
Với những giá trị lịch sử, văn hóa, kiến trúc nghệ thuật và khoa học tiêu biểu, ngày 27/9/2012, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 1419/QĐ-TTg xếp hạng Di tích lịch sử, kiến trúc nghệ thuật và khảo cổ Cổ Loa là Di tích quốc gia đặc biệt. Trong quần thể di tích quan trọng này, Am Mỵ Châu là một thành phần di tích có ý nghĩa đặc biệt về lịch sử, tín ngưỡng và văn hóa dân gian.
