Hậu Phật bi ký
后佛碑記
Thác bản bia xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội 河內巿應天社, sưu tầm tại chùa Miêng Hạ xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.
Thác bản 2 mặt; khổ 49 x 77 cm; gồm 13 dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng 600 chữ.
Niên đại: Ngày 15 tháng Giêng, năm Giáp Tý – năm thứ 9 niên hiệu Khải Định (1924).
Người soạn: Không ghi.
Nội dung:
Nguyên văn chữ Hán
后佛碑記
皇朝啟定玖年,歲在甲子,正月,拾五日。應和府,山朗縣,山朗總,山朗社,嚴舍村。官員鄉老先,次紙,會仝耆里,寺僧阮[冉如],武文策,叶與仝民上下[等] 重修佛堂,需費頗廣,邑人阮氏福,嚴伯望,嚴德茂,嚴廷何,[承嗣民褔],阮進兩,詞出銀元助費仝民。念伊有恒心,一一順[] 諸員人名氏等爲寺后。再出田數交寺僧耕作以爲遞年供忌之需,事有可記。故用碑以壽其傳。
一后阮進熟,忌二月二什七日;妣正室阮氏辦,忌四月初三日;阮氏福,忌配以男子阮進[戌],阮進[亥],銀五什元[][]。
青袗社一所 同[蹉] 處五高五口,東近上村,西近大路;一所 在亭[刪] 處八口,東近上村,西近東甲;又一所七口,東近[][],西近[大路]。
一后嚴德[乙] 妻阮氏[蝒],夫妻八月初九日,十二月初二日,銀三什五元,田七高五口上田。𨷶館一高三口,東[][],西[][]。
一所在後舍四口,東[公] 田,西[曰門];一所在上破二高八口,東有初,西氏鼎;一所在同云二高四口,東公田,西上村;一所在同爐六口,東本寺,西有丑。
一后嚴廷桓,忌九月二十九日,銀三什元,田三高;一所在同云二高五口,東[][],西伯[𠄩];一所在後舍五口,東德[剛],西上村[]。
一后嚴氏鼎,忌[。。。],田一高二口,東近本寺,西近氏[近];在上破處[。。。]。
一[條例]后乙,后恒,后鼎等,係至忌各后[本寺] 整辦禮佛,供后事成請斯文盤一[四口],里[] 一盤與[。。。]。
寺禮 [。。。] 依例。
一條例[尊] 后𥸷 [。。。]。
Phiên âm
Hậu Phật bi ký
Hoàng triều Khải Định cửu niên, tuế tại Giáp Tý, chính nguyệt, thập ngũ nhật. Ứng Hòa phủ, Sơn Lãng huyện, Sơn Lãng tổng, Sơn Lãng xã, Nghiêm Xá thôn. Quan viên hương lão tiên, thứ chỉ, hội đồng kỳ lý, tự tăng Nguyễn [Nhiễm Như], Vũ Văn Sách, hiệp dữ đồng dân thượng hạ [đẳng] trùng tu Phật đường, nhu phí phả quảng, ấp nhân Nguyễn Thị Phúc, Nghiêm Bá Vọng, Nghiêm Đức Mậu, Nghiêm Đình Hà, [thừa tự Thị Phúc], Nguyễn Tiến Lạng, từ xuất ngân nguyên trợ phí đồng dân. Niệm y hữu hằng tâm, nhất nhất thuận [] chư viên nhân danh thị đẳng vi tự Hậu. Tái xuất điền số giao tự tăng canh tác dĩ vi đệ niên cúng kỵ chi nhu, sự hữu khả ký. Cố dụng bi dĩ thọ kỳ truyền.
Nhất Hậu Nguyễn Tiến Thục, kỵ nhị nguyệt nhị thập thất nhật; tỷ chính thất Nguyễn Thị Biện, kỵ tứ nguyệt sơ tam nhật; Nguyễn Thị Phúc, kỵ phối dĩ nam tử Nguyễn Tiến [Tuất], Nguyễn Tiến [Hợi], ngân ngũ thập nguyên [][].
Thanh Chẩn xã nhất sở Đồng [Tha] xứ ngũ cao ngũ khẩu, Đông cận Thượng thôn, Tây cận đại lộ; Nhất sở tại Đình [San] xứ bát khẩu, Đông cận Thượng thôn, Tây cận Đông giáp; hựu nhất sở thất khẩu, Đông cận [][], Tây cận [đại lộ].
Nhất Hậu Nghiêm Đức [Ất] thê Nguyễn Thị [Nhện], phu thê bát nguyệt sơ cửu nhật, thập nhị nguyệt sơ nhị nhật, ngân tam thập ngũ nguyên, điền thất cao ngũ khẩu thượng điền; Cửa Quán nhất cao tam khẩu, Đông [][], Tây [][].
Nhất sở tại Hậu Xá tứ khẩu, Đông [công] điền, Tây [Viết Môn]; Nhất sở tại Thượng Phá nhị cao bát khẩu, Đông Hữu Sơ, Tây Thị Đỉnh; nhất sở tại Đồng Vân nhị cao tứ khẩu, Đông công điền, Tây Thượng thôn; Nhất sở tại Đồng Lô lục khẩu, Đông bản tự, Tây Hữu Sửu.
Nhất Hậu Nghiêm Đình Hoàn, kỵ cửu nguyệt nhị thập cửu nhật, ngân tam thập nguyên, điền tam cao; Nhất sở tại Đồng Vân nhị cao ngũ khẩu, Đông [][], Tây Bá [Hai]; Nhất sở tại Hậu xá ngũ khẩu, Đông Đức [Cương], Tây Thượng thôn [].
Nhất Hậu Nghiêm Thị Đỉnh, kỵ […], điền nhất cao nhị khẩu, Đông cận bản tự, Tây cận Thị [Cận]; tại Thượng Pha xứ […].
Nhất [điều lệ] Hậu Ất, Hậu Hằng, Hậu Đỉnh đẳng, hệ chí kỵ các Hậu [bản tự ] chỉnh biện lễ Phật, cúng Hậu sự thành thỉnh tư văn bàn nhất [tứ khẩu], Lý [hương] nhất bàn dữ […].
Tự lễ […] y lệ.
Nhất điều lệ [tôn] Hậu xôi […].
Dịch nghĩa
Bia ghi Hậu Phật
Ngày 15 tháng Giêng, năm Giáp Tý – năm thứ 9 niên hiệu Khải Định (1924).
Thôn Nghiêm Xá, xã Sơn Lãng, tổng Sơn Lãng, huyện Sơn Lãng, phủ Ứng Hòa. Các quan viên hương lão, tiên chỉ, thứ chỉ, hội đồng kỳ lý, Tăng chùa Nguyễn [Nhiễm Như], Vũ Văn Sách, cùng với toàn dân trên dưới trùng tu tòa Phật đường, chi phí khá nhiều. Có các vị trong thôn là Nguyễn Thị Phúc, Nghiêm Bá Vọng, Nghiêm Đức Mậu, Nghiêm Đình Hà, [thừa tự Thị Phúc], Nguyễn Tiến Lạng, có văn từ quyên góp tiền để trợ giúp nhu phí cùng với toàn dân. Suy niệm các vị ấy đã có hằng tâm[1], hết thảy mọi người đều nhất nhất ưng thuận [] các vị ấy được thờ Hậu trong chùa. Các vị ấy lại lần nữa góp ruộng giao cho tăng chùa canh tác, dùng để thu hoa lợi làm nhu phí cho việc cúng giỗ hằng năm, sự việc này cần phải ghi chép lại. Bởi vậy, dùng bia đá khắc văn để lưu truyền lâu dài.
Vị được thờ Hậu là Nguyễn Tiến Thục, giỗ ngày 27 tháng 2; vợ chính thất Nguyễn Thị Biện, giỗ ngày 3 tháng 4; Nguyễn Thị Phúc, giỗ phối cùng với con trai là Nguyễn Tiến [Tuất], Nguyễn Tiến [Hợi], góp tiền 50 nguyên [][]. (Ruộng) một thửa tại xứ Đồng [Tha] xã Thanh Chẩn, 5 sào 5 miếng[2], Đông giáp thôn Thượng, Tây giáp đường lớn; một thửa tại xứ Đình [Sách] 8 miếng, Đông giáp thôn Thượng, Tây giáp (đất, hoặc ruộng của Giáp Đông); lại một thửa 7 miếng, Đông giáp [][], Tây giáp [đường lớn].
Vị được thờ Hậu là Nghiêm Đức [Ất], vợ Nguyễn Thị [Nhện], ngày giỗ của hai vợ chồng: ngày 9 tháng 8 và ngày 2 tháng 12. Tiền góp 35 nguyên, ruộng 7 sào 5 miếng loại ruộng tốt (thượng đẳng điền). Tại Cửa Quán 1 sào 3 miếng, Đông giáp [][], Tây giáp [][]. Một thửa tại xứ Hậu Xá 4 miếng, Đông giáp ruộng công, Tây giáp đất nhà [Viết Môn]; lại một thửa tại xứ Đồng Vân 2 sào 4 miếng, Đông giáp ruộng công, Tây giáp thôn Thượng; lại một thửa tại xứ Đồng Lô 6 miếng, Đông giáp bản chùa, Tây giáp nhà Hữu Sửu.
Vị được thờ Hậu là Nghiêm Đình Hoàn, giỗ ngày 29 tháng 9. Góp tiền 30 nguyên, ruộng 3 sào. Một thửa tại xứ Đồng Vân 2 sào 5 miếng, Đông giáp [][], Tây giáp Bá [Hai], một thửa tại xứ Hậu Xá 5 miếng, Đông giáp Đức [Cương], Tây giáp thôn Thượng.
Vị được thờ Hậu là Nghiêm Thị Đỉnh, giỗ ngày […], ruộng 1 sào 2 miếng, Đông giáp bản chùa, Tây giáp Thị [Cận], tại xứ Thượng Phá […].
Điều lệ đối với các vị được thờ Hậu gồm Hậu Ất, Hậu Hoàn, Hậu Đỉnh, định lệ khi đến ngày giỗ các vị, [chùa này] chỉnh biện đồ lễ Phật, và cúng các Hậu xong, thì thỉnh mời ban Tư văn ở bàn một [bốn vị], các vị Lý [] một bàn cùng với […].
Chùa lễ […] y theo định lệ.
Định lệ, [tôn] Hậu xôi […].
Chú thích
[1] Hằng tâm: Tâm kiên cố vững bền với việc chung của dân, việc với đạo pháp.
[2] Miếng: Thông thường một miếng bằng 1/10 của một sào.
