Trùng chú Đại Bi tự chung ký

Trùng chú Đại Bi tự chung ký

Thông tin cơ bản

Trùng chú Đại Bi tự chung ký
重鑄大悲寺鐘記
Thác bản chuông xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội 河內巿應天社, sưu tầm tại chùa Miêng Hạ xã Ứng Thiên, thành phố Hà Nội.
Thác bản 4 mặt;  khổ 42 x 76 cm; gồm  dòng chữ Hán, toàn văn ước khoảng  chữ.
Niên đại: Cảnh Thịnh thứ 4 (1796)
Người soạn: Không ghi
Người chép: trụ trì chùa Phổ Tế Hy Thiền Tử
Người viết chữ: Bản thôn, cựu Cai hợp kiêm Hương biểu Nghiêm Giảo
Người khắc: Xã Đề Cầu, (huyện)  Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, chú cục có họ Trịnh khắc chữ.
Nội dung:

Nguyên văn chữ Hán

重鑄大悲寺鐘記

夫鐘者,五音之一,梵家借之以爲警悟之機,於是乎寺寺有設,百八之聲完,而三千之願足矣。

迨自黎朝[失] 政鵬郡逞私,普天下之鐘盡壞於鉄突之[手]。從此上方寥曉韻,精舍寂晨音,踏月僧徒不復聞有警省之聲矣。此豈非鍾爲古之樂器耶。

亳邑之聖聖;縞京之將將,乃王者用以飾洽導。和非梵家寂靜道場之所宜有,故人得以非而毀之者[歟]。吁!梵教起於周,經今數千餘年,而人尊信之,與儒道而如一。借此鐘聲開人慧性迷途可覺醉夣可醒,將擧一世人偕之大道,彼鉄突者安能火之,是以鵬肉未寒,而鯨音以吼矣。

皇家啟運,釋教大行自辛亥壬子等年以來,凡寺鐘之失去者一一重鑄。然皆出於二三檀越糾合眾善遠抄邇化併力以成。惟大悲寺鐘,則仝村上下共興善念,以本年季春初六日會財,二十日召匠,稱銅,鼓洪爐,噓回祿,金鎔百鍊,一鑄而成。其高二尺一寸闊一尺六寸,重貳百陸拾斤。

雖蒲獸未精彩,而虎形躨尼,龍文[炳][][], 聲鐘發[送]韻攸楊,真禪林之寶器也。村中老以慶成,徵文於余。顧余[幼廢]學,老僻於洞,而記誦又非所長。只以當時巨擘彫夾周鏡,十餘口鐘文多出其手,辭重意疊,無以起興。因力辭之,而諸耆老故請,不已余重違其意,遂據實直書以爲之記。   

旹景盛四年,孟夏上澣,三村,普濟寺住持希禪子謹識。

住持本寺,釋子武圓覺,道號玄里。

本村舊該合兼鄉表嚴較寫。

經北處,順安府,超類提梂社鑄局鄭刻。
應天府,山明縣,山明社嚴舍村。上老,興功會主功德,及十方等姓名具陳于後。

計:

一上老阮必聞,錢一貫;阮名蘭妻陳丙[],錢一貫;嚴有迎,錢一貫;嚴登 [撰]一貫;阮有仲妻阮氏朱錢一貫;阮春旦妻嚴氏[] 錢一貫;阮曰品妻阮氏憐錢三陌;陳阮進錢三陌;謝進財妻姜氏[敏] 錢一貫;黎進[鑿] 妻阮氏曉錢六陌;嚴德碩妻阮氏然錢一貫;阮曰得錢一貫;阮必盛,阮有[],阮文[]。

一興功嚴登第妻嚴氏亦錢十五貫;嚴廷銓妻阮氏主錢五貫;阮仲[] 妻武氏和錢五貫;嚴伯[銅] 妻阮氏使錢三貫;阮曰至妻嚴氏儼錢三貫;阮名珠妻嚴氏啼錢三貫;嚴俊曰妻阮氏倫錢三貫五陌;阮其任妻阮氏緒錢二貫;嚴伯[] 妻阮氏匝錢二貫;阮張勝妻阮氏鍠錢三貫;嚴氏汝錢三貫。

一會主阮繼輝妻嚴氏語錢二貫;嚴伯英錢二貫;嚴仲濟妻嚴氏[] 錢三貫;信娓嚴氏盛。
錢二貫以下

鄧氏認,嚴氏[事],阮氏權,阮氏鑽錢三貫;嚴氏菲。

錢二貫以下

嚴氏簡,嚴氏[彪],阮曰衛錢三貫。
一功德

阮世春妻阮氏偃,陳氏胡錢三貫,阮氏[彥] 錢三貫,阮可義妻阮氏想。

錢二貫以下

嚴俊造妻阮氏情;阮進伯妻阮氏立;嚴伯珠妻嚴氏潛;信女阮氏產,阮有群妻阮氏孝。
錢一貫以下

阮有嘉妻嚴氏沛;阮進用妻嚴氏越,阮氏止;嚴登[廸] 妻阮氏貴;阮惟良妻嚴氏寅;嚴登[擧] 妻鄧氏俞;阮伯[炎] 妻嚴氏[粗];阮曰[有] 妻阮氏椥;嚴俊言妻阮氏秋;阮伯[] 妻嚴氏曰;阮伯緒;阮名振妻阮氏儉;嚴有道妻阮氏永;阮名[宰] 妻阮氏榜;阮世綿妻嚴氏感;阮有致妻阮氏憲;阮進姜,阮仲域妻阮氏闡;鄧伯琠妻嚴氏弄,阮氏亦;姜廷偕妻阮氏寶;嚴有閒妻嚴氏旦;黎廷玩妻阮氏本;阮伯瑜妻阮氏頃;

嚴仲榜,阮時佐妻嚴氏均,嚴有進妻嚴氏湎,
阮氏燒;阮其猶妻嚴氏郭;阮伯珍妻嚴氏楊;阮名[永] 妻阮氏百;嚴進麗妻阮氏婁;嚴伯銓妻阮氏暴;阮有逢妻阮氏膽;阮伯極妻阮氏借;嚴伯籌妻阮氏益;嚴繼進妻嚴氏混;阮伯瑤妻阮氏冷;阮進珍妻阮氏[洞];嚴仲濟妻阮氏莊;嚴伯番妻阮氏核錢一貫九陌。

信娓阮氏慎,阮氏小,阮氏酸,阮氏[肫],阮氏[躺],吳是佑。

信女阮氏謂,嚴氏碧,阮氏浸每一貫。
嚴德常錢一貫,阮廷勝妻阮氏𧵆錢一貫三陌;阮有[] 妻阮氏膽。

錢六陌以下

嚴登球,阮曰諸妻阮氏琅;嚴伯致妻阮氏酬;阮有雉妻阮氏稔;阮文乾妻嚴氏性;阮伯廷妻嚴氏壽;阮世萬妻嚴氏養;阮世亭;阮進尊妻嚴氏異。

信娓阮氏[]。

一北甲供米碗,兌甲錢三陌,亭甲錢三陌,陳[谷] 村后族錢一貫。

[][] 村阮仲[琇] 錢一貫。

[永禄] 社上村[。。。]

[],阮[目] 楊妻阮氏尼曰。

錢四陌以下

阮曰僚妻姜氏[酸],陳必顫妻阮氏床,嚴登[板] 妻阮氏張;阮仲樁妻黎氏[誓];阮名著妻阮氏面;嚴性[勤] 妻阮氏[丑]。

信女阮氏[],嚴氏蕩,阮氏選,阮氏[],阮繼連妻阮氏鍠;嚴進吟妻嚴氏店;阮繼[貯] 妻阮氏獲;阮文做妻阮氏[蓋];阮有進妻黎氏本;阮伯旦妻阮氏心;阮得[] 妻阮氏[昴]。

信女阮氏件錢六陌以下

嚴氏准,阮氏慧,阮氏挺,阮氏絕,阮氏春,阮名新妻阮氏好錢五陌以下

阮名桂妻阮氏做;阮克偕;阮曰調妻阮氏隊,阮曰科妻嚴氏想,阮名甲妻嚴氏度,阮伯資妻阮氏寧,嚴德潤妻阮氏點;阮文銳妻阮氏排。
信女阮氏[𢝙],嚴氏悅。

常富唐黃中阮儒。本村阮德立妻嚴氏情
阮進善妻阮氏[],鄧伯祝妻嚴氏朔,姜德幸妻阮氏[紺],阮伯體妻嚴氏奇,嚴有焰妻黃氏郁,謝進主妻阮氏琠,阮有能妻嚴氏杓,嚴登[] 妻阮氏[鈞],阮有堂妻阮氏屋,阮伯張妻嚴氏辟,阮曰澗妻阮氏[𦎛],阮文件妻范氏[爽]。

嚴登邁妻黎氏母,阮必通妻嚴氏尊,阮名會妻嚴氏場,阮文乏,阮文振妻阮氏[撰],黎進王妻嚴氏[],阮文炎妻阮氏[虔]。

阮文訂妻武氏遵,阮文乙妻阮氏測,阮文世,阮文𨱽。

信娓阮氏載,阮氏基,阮氏調,陳氏明,阮氏遠,黎進想,裴文枚妻阮氏度。

皼坊供錢三陌。

常上文田社上村陶文書妻鄧氏槁錢三陌。

Phiên âm

Trùng chú Đại Bi tự chung ký

Phù chung giả, ngũ âm chi nhất, Phạn gia tá chi dĩ vi cảnh ngộ chi cơ, ư thị hồ tự tự hữu thiết bách bát chi thanh hoàn nhi tam thiên chi nguyện túc hỹ.

Đãi tự Lê triều [thất] chính bằng quận sính tư, phổ thiên hạ chi chung tận hoại ư Thiết đột chi [thủ]. Tòng thử thượng phương liêu hiểu vận, tinh xá tịch thần âm, đạp nguyệt tăng đồ bất phục văn hữu cảnh tỉnh chi thanh hỹ. Thử khởi phi chung vi cổ chi nhạc khí da.

Bạc ấp chi thánh thánh; Cảo kinh chi thương thương, nãi vương giả dụng dĩ sức hợp đạo. Hòa phi Phạn gia tịnh tĩnh đạo tràng chi sở nghi hữu, cố nhân đắc dĩ phi nhi hủy chi giả [dư]. Hu! Phạn giáo khởi ư Chu, kinh kim sổ thiên dư niên, nhi nhân tôn tín chi, dữ Nho Đạo nhi như nhất. Tá thử chung thanh khai nhân tuệ tính mê đồ khả giác túy mộng khả tỉnh, tương cử nhất thế nhân giai chi đại đạo, bỉ thiết đột giả an năng hỏa chi, thị dĩ bằng nhục vị hàn, nhi kình âm dĩ hống hỹ.

Hoàng gia khải vận, Thích giáo đại hành tự Tân Hợi Nhâm Tý đẳng niên dĩ lai, phàm tự chung chi thất khứ giả nhất nhất trùng chú. Nhiên giai xuất ư nhị tam đàn việt củ hợp chúng thiện viễn sao nhĩ hóa tính lực dĩ thành. Duy Đại Bi tự chung, tắc đồng thôn thượng hạ cộng hưng thiện niệm, dĩ bản niên quý Xuân sơ lục nhật hội tài, nhị thập nhật chiêu tượng, xưng đồng, cổ hồng lô lô, hư Hồi Lộc, kim dung bách luyện, nhất chú nhi thành. Kỳ cao nhị xích nhất thốn, khoát nhất xích lục thốn, trọng nhị bách lục thập cân.

Tuy Bồ thú vị tinh thái, nhi hổ hình quỳ ni, long văn [bính] [][], thanh chung phát [tống] vận du dương, chân thiền lâm chi bảo khí dã. Thôn trung lão dĩ khánh thành, trưng văn ư dư. Cố dư [ấu phế] học, lão tích ư động, nhi ký tụng hựu phi sở trường, chỉ dĩ đương thời cự phách [][][], thập dư khẩu chung văn đa xuất kỳ thủ, từ trọng ý điệp, vô dĩ khởi hứng. Nhân lực từ chi, nhi chư kỳ lão cố thỉnh, bất dĩ dư trùng vi kỳ ý, toại cứ thực trực thư dĩ vi chi ký.

Thời Cảnh Thịnh tứ niên, Mạnh Hạ thượng cán, tam thôn, Phổ Tế tự Trụ trì Hy Thiền tử cẩn chí.

Trụ trì bản tự, Thích tử Vũ Viên Giác, đạo hiệu Huyền Lý.

Bản thôn cựu Cai hợp kiêm Hương biểu[1] Nghiêm Giảo tả.

Kinh Bắc xứ, Thuận An phủ, Siêu Loại, Đề Cầu xã chú cục Trịnh khắc.

Ứng Thiên phủ, Sơn Minh huyện, Sơn Minh xã Nghiêm Xá thôn. Thượng lão, hưng công hội chủ công đức, cập thập phương đẳng tính danh cụ trần vu hậu.

Kê:

Nhất thượng lão Nguyễn Tất Văn, tiền nhất quán; Nguyễn Danh Lan thê Trần Bính [], tiền nhất quán; Nghiêm Hữu Nghinh, tiền nhất quán; Nghiêm Đăng  [Tuyển] nhất quán; Nguyễn Hữu Trọng thê Nguyễn Thị Chu tiền nhất quán; Nguyễn Xuân Đán thê Nghiêm Thị [] tiền nhất quán; Nguyễn Viết Phẩm thê Nguyễn Thị Lân tiền tam mạch; Trần Nguyễn Tiến tiền tam mạch; Tạ Tiến Tài thê Khương Thị [Mắn] tiền nhất quán; Lê Tiến [Tạc] thê Nguyễn Thị Hiểu tiền lục mạch; Nghiêm Đức Thạc thê Nguyễn Thị Nhiên tiền nhất quán; Nguyễn Viết Đắc tiền nhất quán; Nguyễn Tất Thịnh, Nguyễn Hữu [], Nguyễn Văn [].

Nhất hưng công Nghiêm Đăng Đệ thê Nghiêm Thị Diệc tiền thập ngũ quán; Nghiêm Đình Thuyên thê Nguyễn Thị Chủ tiền ngũ quán; Nguyễn Trọng [] thê Vũ Thị Hòa tiền ngũ quán; Nghiêm Bá [Đồng] thê Nguyễn Thị Sử tiền tam quán; Nguyễn Viết Chí thê Nghiêm Thị Nghiễm tiền tam quán; Nguyễn Danh Châu thê Nghiêm Thị Đề tiền tam quán; Nghiêm Tuấn Viết thê Nguyễn Thị Luân tiền tam quán ngũ mạch; Nguyễn Kỳ Nhậm thê Nguyễn Thị Tự tiền nhị quán; Nghiêm Bá [] thê Nguyễn Thị Táp tiền nhị quán; Nguyễn Trương Thắng thê Nguyễn Thị Hoàng tiền tam quán; Nghiêm Thị Nhữ tiền tam quán.

Nhất hội chủ Nguyễn Kế Huy thê Nghiêm Thị Ngữ tiền nhị quán; Nghiêm Bá Anh tiền nhị quán; Nghiêm Trọng Tế thê Nghiêm Thị [] tiền tam quán; tín vãi Nghiêm Thị Thịnh.

Tiền nhị quán dĩ hạ:

Đặng Thị Nhận, Nghiêm Thị [Sự ], Nguyễn Thị Quyền, Nguyễn Thị Toản tiền tam quán; Nghiêm Thị Phỉ.

Tiền nhị quán dĩ hạ:

Nghiêm Thị Giản, Nghiêm Thị [Bưu].

Nguyễn Viết Vệ tiền tam quán.

Nhất công đức

Nguyễn Thế Xuân thê Nguyễn Thị Yển, Trần Thị Hồ tiền tam quán, Nguyễn Thị [Nhan] tiền tam quán, Nguyễn Khả Nghĩa thê Nguyễn Thị Tưởng.

Tiền nhị quán dĩ hạ:

Nghiêm Tuấn Tạo thê Nguyễn Thị Tình; Nguyễn Tiến Bá thê Nguyễn Thị Lập; Nghiêm Bá Châu thê Nghiêm Thị Tiềm; tín nữ Nguyễn Thị Sản, Nguyễn Hữu Quần thê Nguyễn Thị Hiếu.

Tiền nhất quán dĩ hạ:

Nguyễn Hữu Gia thê Nghiêm Thị Bái; Nguyễn Tiến Dụng thê Nghiêm Thị Việt, Nguyễn Thị Chỉ; Nghiêm Đăng [Địch] thê Nguyễn Thị Quý; Nguyễn Duy Lương thê Nghiêm Thị Dần; Nghiêm Đăng [Cử ] thê Đặng Thị Du; Nguyễn Bá [Viêm] thê Nghiêm Thị [Thô]; Nguyễn Viết [Hữu] thê Nguyễn Thị Tre; Nghiêm Tuấn Ngôn thê Nguyễn Thị Thu; Nguyễn Bá [] thê Nghiêm Thị Viết; Nguyễn Bá Tự; Nguyễn Danh Chấn thê Nguyễn Thị Kiệm; Nghiêm Hữu Đạo thê Nguyễn Thị Vĩnh; Nguyễn Danh [Tể] thê Nguyễn Thị Bảng; Nguyễn Thế Miên thê Nghiêm Thị Cảm; Nguyễn Hữu Trí thê Nguyễn Thị Hiến; Nguyễn Tiến Khương, Nguyễn Trọng Vực thê Nguyễn Thị Xiển; Đặng Bá Điển thê Nghiêm Thị Lộng, Nguyễn Thị Diệc; Khương Đình Giai thê Nguyễn Thị Bảo; Nghiêm Hữu Nhàn thê Nghiêm Thị Đán; Lê Đình Ngoạn thê Nguyễn Thị Bản; Nguyễn Bá Du thê Nguyễn Thị Khoảnh; Nghiêm Trọng Bảng, Nguyễn Thời Tá thê Nghiêm Thị Quân, Nghiêm Hữu Tiến thê Nghiêm Thị Miện, Nguyễn Thị Thiêu; Nguyễn Kỳ Do thê Nghiêm Thị Quách; Nguyễn Bá Trân thê Nghiêm Thị Dương; Nguyễn Danh [Vĩnh] thê Nguyễn Thị Bách; Nghiêm Tiến Lệ thê Nguyễn Thị Lâu; Nghiêm Bá Thuyên thê Nguyễn Thị Bộc; Nguyễn Hữu Phùng thê Nguyễn Thị Đảm; Nguyễn Bá Cực thê Nguyễn Thị Tá; Nghiêm Bá Trù thê Nguyễn Thị Ích; Nghiêm Kế Tiến thê Nghiêm Thị Hỗn; Nguyễn Bá Dao thê Nguyễn Thị Lãnh; Nguyễn Tiến Trân thê Nguyễn Thị [Động]; Nghiêm Trọng Tế thê Nguyễn Thị Trang; Nghiêm Bá Phan thê Nguyễn Thị Hạch tiền nhất quán cửu mạch.

Tín vãi Nguyễn Thị Thận, Nguyễn Thị Tiểu, Nguyễn Thị Toan, Nguyễn Thị [Truân], Nguyễn Thị [Thẳng], Ngô Thị Hựu.

Tín nữ Nguyễn Thị Vị, Nghiêm Thị Bích, Nguyễn Thị Tẩm mỗi nhất quán.

Nghiêm Đức Thường tiền nhất quán, Nguyễn Đình Thắng thê Nguyễn Thị Gần tiền nhất quán tam mạch; Nguyễn Hữu [] thê Nguyễn Thị Đảm.

Tiền lục mạch dĩ hạ:

Nghiêm Đăng Cầu, Nguyễn Viết Chư thê Nguyễn Thị Lãng; Nghiêm Bá Trí thê Nguyễn Thị Thù; Nguyễn Hữu Trĩ thê Nguyễn Thị Nẫm; Nguyễn Văn Càn thê Nghiêm Thị Tính; Nguyễn Bá Đình thê Nghiêm Thị Thọ; Nguyễn Thế Vạn thê Nghiêm Thị Dưỡng; Nguyễn Thế Đình; Nguyễn Tiến Tôn thê Nghiêm Thị Dị.

Tín vãi Nguyễn Thị [].

Nhất Bắc Giáp cúng mễ oản, Đoài Giáp tiền tam mạch, Đình Giáp tiền tam mạch, Trần [Cốc] thôn hậu tộc tiền nhất quán.

[][] thôn Nguyễn Trọng [Tú] tiền nhất quán.

[Vĩnh Lộc] xã Thượng thôn […]

[], Nguyễn [Mục] Dương thê Nguyễn Thị Ni Viết.

Tiền tứ mạch dĩ hạ:

Nguyễn Viết Liêu thê Khương Thị [Toan], Trần Tất Đạn thê Nguyễn Thị Sàng, Nghiêm Đăng [Bản] thê Nguyễn Thị Trương; Nguyễn Trọng Thung thê Lê Thị [Thệ]; Nguyễn Danh Trước thê Nguyễn Thị Diện; Nghiêm Tính [Cần] thê Nguyễn Thị [Sửu].

Tín nữ Nguyễn Thị [], Nghiêm Thị Đãng, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị [], Nguyễn Kế Liên thê Nguyễn Thị Hoàng; Nghiêm Tiến Ngâm thê Nghiêm Thị Điếm; Nguyễn Kế [Trữ ] thê Nguyễn Thị Hoạch; Nguyễn Văn Tố thê Nguyễn Thị [Cái]; Nguyễn Hữu Tiến thê Lê Thị Bản; Nguyễn Bá Đán thê Nguyễn Thị Tâm; Nguyễn Đắc [] thê Nguyễn Thị [Mão]. Tín nữ Nguyễn Thị Kiện.

Tiền lục mạch dĩ hạ:

Nghiêm Thị Chuẩn, Nguyễn Thị Tuệ, Nguyễn Thị Đĩnh, Nguyễn Thị Tuyệt, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Danh Tân thê Nguyễn Thị Hảo.

 Tiền ngũ mạch dĩ hạ.

Nguyễn Danh Quế thê Nguyễn Thị Tố; Nguyễn Khắc Giai; Nguyễn Viết Điều thê Nguyễn Thị Đội, Nguyễn Viết Khoa thê Nghiêm Thị Tưởng, Nguyễn Danh Giáp thê Nghiêm Thị Độ, Nguyễn Bá Tư thê Nguyễn Thị Ninh, Nghiêm Đức Nhuận thê Nguyễn Thị Điểm; Nguyễn Văn Nhuệ thê Nguyễn Thị Bài.

Tín nữ Nguyễn Thị [Vui], Nghiêm Thị Duyệt.

Thường Phú Đường Hoàng Trung Nguyễn Nho. Bản thôn Nguyễn Đức Lập thê Nghiêm Thị Tình;

Nguyễn Tiến Thiện thê Nguyễn Thị [], Đặng Bá Chúc thê Nghiêm Thị Sóc, Khương Đức Hạnh thê Nguyễn Thị [Cám], Nguyễn Bá Thể thê Nghiêm Thị Kỳ, Nghiêm Hữu Diễm thê Hoàng Thị Úc, Tạ Tiến Chủ thê Nguyễn Thị Điển, Nguyễn Hữu Năng thê Nghiêm Thị Thược, Nghiêm Đăng [] thê Nguyễn Thị [Quân], Nguyễn Hữu Đường thê Nguyễn Thị Ốc, Nguyễn Bá Trương thê Nghiêm Thị Tị, Nguyễn Viết Giản thê Nguyễn Thị [Gương], Nguyễn Văn Kiện thê Phạm Thị [Sáng],

Nghiêm Đăng Mại thê Lê Thị Mẫu, Nguyễn Tất Thông thê Nghiêm Thị Tôn, Nguyễn Danh Hội thê Nghiêm Thị Tràng, Nguyễn Văn Phạp, Nguyễn Văn Trấn thê Nguyễn Thị [Tuyển], Lê Tiến Vương thê Nghiêm Thị [], Nguyễn Văn Viêm thê Nguyễn Thị [Kiền].

Nguyễn Văn Đính thê Vũ Thị Tuân, Nguyễn Văn Ất thê Nguyễn Thị Trắc, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Văn Dài.

Tín vãi Nguyễn Thị Tải, Nguyễn Thị Cơ, Nguyễn Thị Điều, Trần Thị Minh, Nguyễn Thị Viễn, Lê Tiến Tưởng, Bùi Văn Mai thê Nguyễn Thị Độ.

Cổ phường cúng tiền tam mạch.

Thường Thượng Văn Điền xã Thượng thôn Đào Văn Thư thê Đặng Thị Cảo tiền tam mạch.

Chú thích

[1] Hương biểu: Xưa các làng xã thường có việc đề cử các vị thay mặt đại diện, làm đại biểu. Như tộc biểu, giáp biểu, hương biểu (đại biểu của thôn làng).

Dịch nghĩa

Ghi chép về việc đúc lại chuông chùa Đại Bi

Chuông ấy là một âm trong ngũ âm[1], nhà Phật mượn âm thanh ấy làm “diệu cơ” dùng để cảnh tỉnh khai ngộ (cho chúng sinh), quả thật có như vậy, cho nên khắp mọi chùa đều có treo chuông, trì thỉnh trọn vẹn một trăm linh tám tiếng[2], mà đại nguyện khắp tam thiên thế giới[3] được đầy đủ ở đó vậy.

Nhưng kể từ thời nhà Lê để mất thực quyền chính trị, Bằng Quận[4] chuyên quyền tư ý, chuông đồng khắp cả trong thiên hạ đều bị tận hủy bởi tay quân Thiết đột[5]. Bởi lý do này, các chốn già lam tinh xá vắng bặt tiếng chuông mỗi sớm, trầm mình dưới ánh trăng[6] mà Tăng đồ chẳng còn nghe có tiếng chuông cảnh tỉnh nữa vậy. Như vậy có lẽ nào, chẳng phải chuông là một loại nhạc khí từ cổ xưa đã có rồi sao!

Cái vẻ vòi vọi rực rỡ nơi Bạc ấp[7]; nét trang nghiêm êm đềm đất Cảo kinh[8], chính là bậc vương giả dùng để trang nghiêm, dẫn dắt mà quy tụ.

Như thế chẳng phải là nơi đạo tràng tịch tĩnh nhà Phật cũng cần có sao. Như vậy con người có được mà sai trái, mà hủy hoại đi được sao!

Than ôi! Phật đạo khởi nguồn từ thời nhà Chu[9], trải thời gian tính đến nay đã hơn mấy nghìn năm rồi, mà con người tôn sùng tin theo, và cùng tồn tại với giáo pháp nhà Nho, nhà Đạo như là một vậy.

Mượn tiếng chuông này để khai mở tuệ tính trong con người, kẻ chìm trong đường mê có thể giác ngộ, kẻ mộng có thể tỉnh hồi, như thế sẽ khiến cho mọi người trên đời đều trong đại đạo, mà quân Thiết đột kia sao có thể thiêu đốt chuông[10]. Vì vậy mà thịt Bằng chưa lạnh[11], mà kình âm[12] đã gầm rống rồi vậy.

Cơ nghiệp đế vương mở vận, Phật đạo tịnh hành, kể từ những năm Tân Hợi, Nhâm Tý trở lại đây, phàm là chuông ở các chùa đã bị mất, hết thảy đều được đúc lại. Tuy nhiên, những việc ấy đều do một số tín thí đàn việt hội hợp các thiện tín xa gần cùng góp sức mà làm nên. Duy chỉ có chuông chùa Đại Bi, là do toàn thôn trên dưới cùng hưng khởi thiện niệm, từ ngày 6 tháng Quý Xuân (tháng 3) năm nay gom góp tài vật, vào ngày 20 gọi thợ, cân đồng, gảy lò lớn, thổi lửa Hồi Lộc[13], nung chảy tinh luyện, một lần tạo đúc mà thành. Chuông ấy, cao 2 thước 1 tấc, rộng 1 thước 6 tấc, nặng 260 cân. Tuy là Bồ thú[14] vẻ chưa được tinh xảo, mà hình hổ như biết cử động, đường nét trên thân rồng [sáng sủa] [][], tiếng chuông ngân vang, âm hưởng du dương, đích thực là bảo khí chốn thiền lâm ấy vậy.

Các vị hương lão trong thôn tổ chức khánh thành, có trưng thỉnh văn đến tôi. Ngoảnh xét lại, tôi thấy mình lúc nhỏ thì bỏ phế việc học, khi già thì ru rú chốn hang sâu, mà việc làm “ký” viết “tụng” lại chẳng phải là chỗ sở trường. Chỉ vì các bậc cự phách đương thời [][][], [đồng kính] có đến hơn 10 quả chuông, văn chuông đó phần nhiều đều do các bậc ấy viết, lời từ sâu nặng mà ý tứ điệp trùng, như thế thì chẳng có chỗ nào mà khởi hứng được. Tôi nhân thế cố sức chối từ việc ấy, mà các kỳ lão lại cố thỉnh, chẳng đừng được, tôi lần nữa đi ngược lại ý tứ các vị, bèn căn cứ sự thực mà thẳng tay viết để làm bài văn ký này.

Thời gian vào tuần Thượng cán[15], tháng Mạnh Hạ (tháng 4), năm thứ 4 niên hiệu Cảnh Thịnh (1796). Ba thôn, trụ trì chùa Phổ Tế Hy Thiền Tử kính cẩn viết chép.

Trụ trì bản tự, Thích tử Vũ Viên Giác, đạo hiệu Huyền Lý.

Bản thôn, cựu Cai hợp kiêm Hương biểu Nghiêm Giảo viết chữ.

Xã Đề Cầu, (huyện)  Siêu Loại, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc, chú cục có họ Trịnh khắc chữ.

Thôn Nghiêm Xá, xã Sơn Minh, huyện Sơn Minh, phủ Ứng Thiên. Tên họ các vị thượng lão, hưng công hội chủ tham gia công đức, cho đến các vị thiện tín khắp mười phương đều liệt đầy đủ ra sau.

 Liệt kê:

Thượng lão Nguyễn Tất Văn, cúng tiền 1 quan; Nguyễn Danh Lan cùng vợ là Trần Bính [], cúng tiền 1 quan; Nghiêm Hữu Nghinh, cúng tiền 1 quan; Nghiêm Đăng  [Tuyển] cúng tiền 1 quan; Nguyễn Hữu Trọng cùng vợ là Nguyễn Thị Chu cúng tiền 1 quan; Nguyễn Xuân Đán cùng vợ là Nghiêm Thị [] cúng tiền 1 quan; Nguyễn Viết Phẩm cùng vợ là Nguyễn Thị Lân cúng tiền 3 mạch; Trần Nguyễn Tiến cúng tiền 3 mạch; Tạ Tiến Tài cùng vợ là Khương Thị [Mắn] cúng tiền 1 quan; Lê Tiến [Tạc] cùng vợ là Nguyễn Thị Hiểu cúng tiền 6 mạch; Nghiêm Đức Thạc cùng vợ là Nguyễn Thị Nhiên cúng tiền 1 quan; Nguyễn Viết Đắc cúng tiền 1 quan; Nguyễn Tất Thịnh, Nguyễn Hữu [], Nguyễn Văn [].   

Các vị hưng công Nghiêm Đăng Đệ cùng vợ là Nghiêm Thị Diệc cúng tiền 15 quan; Nghiêm Đình Thuyên cùng vợ là Nguyễn Thị Chủ cúng tiền 5 quan; Nguyễn Trọng [] cùng vợ là Vũ Thị Hòa cúng tiền 5 quan; Nghiêm Bá [Đồng] cùng vợ là Nguyễn Thị Sử cúng tiền 5 quan; Nguyễn Viết Chí cùng vợ là Nghiêm Thị Nghiễm cúng tiền 3 quan; Nguyễn Danh Châu cùng vợ là Nghiêm Thị Đề cúng tiền 3 quan; Nghiêm Tuấn Viết cùng vợ là Nguyễn Thị Luân cúng tiền 3 quan 5 mạch; Nguyễn Kỳ Nhậm cùng vợ là Nguyễn Thị Tự cúng tiền 2 quan; Nghiêm Bá [] cùng vợ là Nguyễn Thị Táp cúng tiền 2 quan; Nguyễn Trương Thắng cùng vợ là Nguyễn Thị Hoàng cúng tiền 3 quan; Nghiêm Thị Nhữ cúng tiền 3 quan.

Hội chủ Nguyễn Kế Huy cùng vợ là Nghiêm Thị Ngữ cúng tiền 2 quan; Nghiêm Bá Anh cúng tiền 2 quan; Nghiêm Trọng Tế cùng vợ là Nghiêm Thị [] cúng tiền 3 quan; tín vãi Nghiêm Thị Thịnh.

Các vị cúng tiền 2 quan gồm: Đặng Thị Nhận, Nghiêm Thị [Sự ], Nguyễn Thị Quyền. Nguyễn Thị Toản cúng tiền 3 quan; Nghiêm Thị Phỉ.

Các vị cúng tiền 2 quan gồm: Nghiêm Thị Giản, Nghiêm Thị [Bưu].

Nguyễn Viết Vệ cúng tiền 3 quan.

Các vị công đức gồm: Nguyễn Thế Xuân cùng vợ là Nguyễn Thị Yển, Trần Thị Hồ cúng tiền 3 quan, Nguyễn Thị [Nhan] tiền tam quán, Nguyễn Khả Nghĩa cùng vợ là Nguyễn Thị Tưởng.

Các vị cúng tiền 2 quan gồm: Nghiêm Tuấn Tạo cùng vợ là Nguyễn Thị Tình; Nguyễn Tiến Bá cùng vợ là Nguyễn Thị Lập; Nghiêm Bá Châu cùng vợ là Nghiêm Thị Tiềm; tín nữ Nguyễn Thị Sản, Nguyễn Hữu Quần cùng vợ là Nguyễn Thị Hiếu.

Các vị cúng tiền 1 quan gồm: Nguyễn Hữu Gia cùng vợ là Nghiêm Thị Bái; Nguyễn Tiến Dụng cùng vợ là Nghiêm Thị Việt, Nguyễn Thị Chỉ; Nghiêm Đăng [Địch] cùng vợ là Nguyễn Thị Quý; Nguyễn Duy Lương cùng vợ là Nghiêm Thị Dần; Nghiêm Đăng [Cử] cùng vợ là Đặng Thị Du; Nguyễn Bá [Viêm] cùng vợ là Nghiêm Thị [Thô]; Nguyễn Viết [Hữu] cùng vợ là Nguyễn Thị Tre; Nghiêm Tuấn Ngôn cùng vợ là Nguyễn Thị Thu; Nguyễn Bá [] cùng vợ là Nghiêm Thị Viết; Nguyễn Bá Tự; Nguyễn Danh Chấn cùng vợ là Nguyễn Thị Kiệm; Nghiêm Hữu Đạo cùng vợ là Nguyễn Thị Vĩnh; Nguyễn Danh [Tể] cùng vợ là Nguyễn Thị Bảng; Nguyễn Thế Miên cùng vợ là Nghiêm Thị Cảm; Nguyễn Hữu Trí cùng vợ là Nguyễn Thị Hiến; Nguyễn Tiến Khương, Nguyễn Trọng Vực cùng vợ là Nguyễn Thị Xiển; Đặng Bá Điển cùng vợ là Nghiêm Thị Lộng, Nguyễn Thị Diệc; Khương Đình Giai cùng vợ là Nguyễn Thị Bảo; Nghiêm Hữu Nhàn cùng vợ là Nghiêm Thị Đán; Lê Đình Ngoạn cùng vợ là Nguyễn Thị Bản; Nguyễn Bá Du cùng vợ là Nguyễn Thị Khoảnh; Nghiêm Trọng Bảng, Nguyễn Thời Tá cùng vợ là Nghiêm Thị Quân, Nghiêm Hữu Tiến cùng vợ là Nghiêm Thị Miện, Nguyễn Thị Thiêu; Nguyễn Kỳ Do cùng vợ là Nghiêm Thị Quách; Nguyễn Bá Trân cùng vợ là Nghiêm Thị Dương; Nguyễn Danh [Vĩnh] cùng vợ là Nguyễn Thị Bách; Nghiêm Tiến Lệ cùng vợ là Nguyễn Thị Lâu; Nghiêm Bá Thuyên cùng vợ là Nguyễn Thị Bộc; Nguyễn Hữu Phùng cùng vợ là Nguyễn Thị Đảm; Nguyễn Bá Cực cùng vợ là Nguyễn Thị Tá; Nghiêm Bá Trù cùng vợ là Nguyễn Thị Ích; Nghiêm Kế Tiến cùng vợ là Nghiêm Thị Hỗn; Nguyễn Bá Dao cùng vợ là Nguyễn Thị Lãnh; Nguyễn Tiến Trân cùng vợ là Nguyễn Thị [Động]; Nghiêm Trọng Tế cùng vợ là Nguyễn Thị Trang.

Nghiêm Bá Phan cùng vợ là Nguyễn Thị Hạch cúng tiền 1 quan 9 mạch.

Tín vãi Nguyễn Thị Thận, Nguyễn Thị Tiểu, Nguyễn Thị Toan, Nguyễn Thị [Truân], Nguyễn Thị [Thẳng], Ngô Thị Hựu. Tín nữ Nguyễn Thị Vị, Nghiêm Thị Bích, Nguyễn Thị Tẩm mỗi người cúng tiền 1 quan.

Nghiêm Đức Thường cúng tiền 1 quan, Nguyễn Đình Thắng thê Nguyễn Thị Gần cúng tiền 1 quan 3 mạch; Nguyễn Hữu [] cùng vợ là Nguyễn Thị Đảm.

Các vị cúng tiền 6 mạch gồm: Nghiêm Đăng Cầu, Nguyễn Viết Chư cùng vợ là Nguyễn Thị Lãng; Nghiêm Bá Trí cùng vợ là Nguyễn Thị Thù; Nguyễn Hữu Trĩ cùng vợ là Nguyễn Thị Nẫm; Nguyễn Văn Càn cùng vợ là Nghiêm Thị Tính; Nguyễn Bá Đình cùng vợ là Nghiêm Thị Thọ; Nguyễn Thế Vạn cùng vợ là Nghiêm Thị Dưỡng; Nguyễn Thế Đình; Nguyễn Tiến Tôn cùng vợ là Nghiêm Thị Dị.

Tín vãi Nguyễn Thị [].

Giáp Bắc cúng gạo oản, Giáp Đoài cúng tiền 3 mạch, Giáp Đình cúng tiền 3 mạch, thôn Trần [Cốc] cúng Hậu tộc tiền 1 quan.

Thôn [][] Nguyễn Trọng [Tú] cúng tiền 1 quan.

Thôn Thượng, xã [Vĩnh Lộc] […].

[], Nguyễn [Mục] Dương cùng vợ là Nguyễn Thị Ni Viết.

Cúng tiền 4 mạch gồm các vị:

Nguyễn Viết Liêu cùng vợ là Khương Thị [Toan], Trần Tất Đạn cùng vợ là Nguyễn Thị Sàng, Nghiêm Đăng [Bản] cùng vợ là Nguyễn Thị Trương; Nguyễn Trọng Thung thê Lê Thị [Thệ]; Nguyễn Danh Trước cùng vợ là Nguyễn Thị Diện; Nghiêm Tính [Cần] cùng vợ là Nguyễn Thị [Sửu].

Tín nữ Nguyễn Thị [], Nghiêm Thị Đãng, Nguyễn Thị Tuyển, Nguyễn Thị [], Nguyễn Kế Liên cùng vợ là Nguyễn Thị Hoàng; Nghiêm Tiến Ngâm cùng vợ là Nghiêm Thị Điếm; Nguyễn Kế [Trữ] cùng vợ là Nguyễn Thị Hoạch; Nguyễn Văn Tố cùng vợ là Nguyễn Thị [Cái]; Nguyễn Hữu Tiến thê Lê Thị Bản; Nguyễn Bá Đán cùng vợ là Nguyễn Thị Tâm; Nguyễn Đắc []cùng vợ là Nguyễn Thị [Mão]. Tín nữ Nguyễn Thị Kiện

Cúng tiền 6 mạch gồm các vị:

Nghiêm Thị Chuẩn, Nguyễn Thị Tuệ, Nguyễn Thị Đĩnh, Nguyễn Thị Tuyệt, Nguyễn Thị Xuân, Nguyễn Danh Tân cùng vợ là Nguyễn Thị Hảo.

Cúng tiền 5 mạch gồm các vị:

Nguyễn Danh Quế cùng vợ là Nguyễn Thị Tố; Nguyễn Khắc Giai; Nguyễn Viết Điều cùng vợ là Nguyễn Thị Đội, Nguyễn Viết Khoa cùng vợ là Nghiêm Thị Tưởng, Nguyễn Danh Giáp cùng vợ là Nghiêm Thị Độ, Nguyễn Bá Tư cùng vợ là Nguyễn Thị Ninh, Nghiêm Đức Nhuận cùng vợ là Nguyễn Thị Điểm; Nguyễn Văn Nhuệ cùng vợ là Nguyễn Thị Bài.

Tín nữ Nguyễn Thị [Vui], Nghiêm Thị Duyệt.

Thường Phú, Đường Hoàng, Trung[16] Nguyễn Nho.

Bản thôn Nguyễn Đức Lâp cùng vợ là Nghiêm Thị Tình, Nguyễn Tiến Thiện cùng vợ là Nguyễn Thị [], Đặng Bá Chúc cùng vợ là Nghiêm Thị Sóc, Khương Đức Hạnh cùng vợ là Nguyễn Thị [Cám], Nguyễn Bá Thể cùng vợ là Nghiêm Thị Kỳ, Nghiêm Hữu Diễm cùng vợ là Hoàng Thị Úc, Tạ Tiến Chủ cùng vợ là Nguyễn Thị Điển, Nguyễn Hữu Năng cùng vợ là Nghiêm Thị Thược, Nghiêm Đăng [] cùng vợ là Nguyễn Thị [Quân], Nguyễn Hữu Đường cùng vợ là Nguyễn Thị Ốc, Nguyễn Bá Trương cùng vợ là Nghiêm Thị Tị, Nguyễn Viết Giản cùng vợ là Nguyễn Thị [Gương], Nguyễn Văn Kiện cùng vợ là Phạm Thị [Sáng], Nghiêm Đăng Mại cùng vợ là Lê Thị Mẫu, Nguyễn Tất Thông cùng vợ là Nghiêm Thị Tôn, Nguyễn Danh Hội cùng vợ là Nghiêm Thị Tràng, Nguyễn Văn Phạp, Nguyễn Văn Trấn cùng vợ là Nguyễn Thị [Tuyển], Lê Tiến Vương cùng vợ là Nghiêm Thị [], Nguyễn Văn Viêm cùng vợ là Nguyễn Thị [Kiền], Nguyễn Văn Đính cùng vợ là Vũ Thị Tuân, Nguyễn Văn Ất cùng vợ là Nguyễn Thị Trắc, Nguyễn Văn Thế, Nguyễn Văn Dài.

Tín vãi Nguyễn Thị Tải, Nguyễn Thị Cơ, Nguyễn Thị Điều, Trần Thị Minh, Nguyễn Thị Viễn, Lê Tiến Tưởng, Bùi Văn Mai cùng vợ là Nguyễn Thị Độ.

Phương Trống cúng tiền 3 mạch.

Thôn Thượng, xã Văn Điền, Thường Thượng, Đào Văn Thư cùng vợ là Đặng Thị Cảo cúng tiền 3 mạch.

Chú thích

[1] Ngũ âm: Năm âm, cũng gọi là năm cung, năm thang âm ghi nhạc lý của phương Đông, gồm: Cung, thương, giốc, chủy và vũ. Năm thang âm này cũng tương đương với năm loại khí cụ/ nhạc khí có chất liệu chế tác khác nhau mà thành. Như ở đây nói chuông là thuộc loại kim khí, thuộc về âm Thương trong ngũ âm.

[2] Trì thỉnh một trăm linh tám tiếng: Theo nghi thức thỉnh đại hồng chung, các chùa thường thỉnh vào hai thời sáng tối, mỗi lần thỉnh có một trăm linh tám tiếng.

[3] Đại nguyện khắp tam thiên thế giới: Tức nói tắt của tam thiên đại thiên thế giời, dẫn ý nói khắp cả các cõi vô biên trong pháp giới. Trong bài kệ, khi người thỉnh chuông sẽ đọc có câu “nguyện thử chung thanh siêu pháp giới: Nguyện cho tiếng chuông này vang vọng đến khắp các pháp giới”.

[4] Bằng Quận: Tức nói tắt của Bằng Quận công Nguyễn Hữu Chỉnh. Nguyễn Hữu Chỉnh khi được đắc dụng trong hệ thống triều đình nhà Lê, ông được cho là có ý chuyên quyền.

[5] Quân Thiết đột: Vốn là một lực lượng quân tinh nhuệ, được xây dựng từ thời vua Lê Lợi khởi nghĩa Lam Sơn. Tên gọi lực lượng quân đội này đến cuối thời Lê vẫn còn. Thời Nguyễn Hữu Chỉnh phò vua Lê Chiêu Thống, cố vấn về việc tận thu các chuông đồng, tượng đồng tại các chùa đem về kinh để đúc tiền, thì có lẽ lực lượng quân dưới bộ hạ của ông chỉ huy có một đạo quân là Thiết đột. 

[6] Trầm mình trong ánh trăng: Nguyên văn chữ Hán là “đạp nguyệt/ dẫm lên trăng, chơi trong ánh trăng đêm”.

[7] Bạc ấp: Tên kinh đô nhà Thương bên Trung Hoa cổ đại, triều đại thịnh vượng tồn tại khoảng 600 năm.

[8] Cảo kinh: Tên kinh đô nhà Tây Chu bên Trung Hoa cổ đại, triều đại tồn tại lâu nhất trong lịch sử Trung Quốc, tồn tại khoảng 800 năm.

[9] Phật đạo khởi nguồn từ thời nhà Chu: Ý nói Phật giáo được sáng lập (ở Ấn Độ) về mốc thời gian là tương đương vào thời nhà Chu bên Trung Hoa (chứ không phải nói Phật giáo được phát sinh tại Trung Hoa).

[10] Ý nói quân Thiết đột thu chuông đem về kinh để nung chảy đúc tiền.

[11] Nếu chúng tôi không đọc nhầm thì nguyên văn chữ Hán là “ 鵬肉未寒Bằng nhục vị hàn: Thịt Bằng chưa lạnh”. Chúng tôi trộm hiểu: chữ Bằng鵬 ở đây vừa chỉ Bằng Công, và chữ Bằng cũng có nghĩa là chim bằng. Có lẽ đương thời, nhiều sỹ phu Bắc Hà không có thiện cảm đối với Bằng Công, và tác giả bài chuông đây cũng vậy. Mượn chữ Bằng vừa chỉ tên người cũng vừa ngụ ý là thịt loài chim. Chuông đúc năm 1796, Nguyễn Hữu Chỉnh mất năm 1788, tức mất trước thời điểm đúc chuông 8 năm, và tác giả viết văn dụng ý là còn chưa lạnh.

[12] Kình âm: Tức chỉ tiếng chày kình đánh chuông kêu vang lên.

[13] Hồi Lộc: Tên một vị thần lửa. Ở đây đúng chuông, nung chảy đồng cần có lửa. Thổi lửa Hồi Lộc, ý nói thổi lửa thần.

[14] Bồ thú: Tức con Bồ Lao (1 trong 9 con của con rồng). Quai chuông được đúc bằng con Bồ lao để treo lên. Bồ Lao sợ cá kình (chày để thỉnh chuông thường làm hình con cá kình), cho nên khi bị cá kình đánh vào thì nó kêu rất to.

[15] Thượng cán: Xưa một tháng chia ra thượng cán, trung cán, và hạ cán, mỗi tháng gồm 10 ngày. Thượng cán là từ mùng 1 đến mùng 10.

[16] Thường Phú, Đường Hoàng, Trung: Đây có thể là viết tắt của địa danh hành chính.

 

5/5 (1 bình chọn)
Chia sẻ

Hình ảnh văn bia

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)