Lưu Hữu Phước (1921 – 1989)

Lưu Hữu Phước (1921 – 1989)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Sống trên đời, nếu có được những người bạn chí thân, cùng gắn bó để chia sẻ với nhau những khát vọng, những vui buồn cũng là một hạnh phúc. Trường hợp của nhạc sĩ Lưu Hữu Phước cũng vậy. Nhớ đến ông, chúng ta không thể không nhắc đến các ông Mai Văn Bộ, Huỳnh Văn Tiếng… những người bạn gắn bó với ông từ thuở tóc xanh đến đầu bạc – mà ta thường gọi thân mật là “bộ ba Hoàng- Mai- Lưu”. Và hiện nay, chúng ta có giải thưởng âm nhạc mang tên Hoàng Mai Lưu dành cho những tác giả – tác phẩm có công trong việc tìm tòi, bồi đắp cho âm nhạc dân tộc. Thế hệ của chúng ta đang sống rồi tiếp tục các thế hệ sau sẽ mãi mãi còn nhắc đến ca khúc Giải phóng miền Nam (1961) – một ca khúc vang dội làm náo nức hàng triệu trái tim của nhân dân miền Nam hăng hái lên đường chống Mỹ, cứu nước. Ngay từ lúc ra đời, ca khúc này đã được mọi người hoan nghênh nhiệt liệt và trở thành bài hát chính thức của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam, là “quốc ca” của Chính phủ cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam. Nhà nghiên cứu Trần Bạch Đằng đã nói lên suy nghĩ của bao người:

Mỗi khi bài hát cất lên, người nghe cảm giác có cái gì ròn rợn chạy dọc theo xương sống. Nó là tiếng gọi cứu nước thiết tha, trầm hùng và hằng triệu người trong cả nước theo nhịp điệu của nó, lao tới trong cuộc đọ sức dữ dội nhất trong lịch sử chiến tranh giữ và giành Nước của dân tộc ta

Bộ ba Hoàng – Mai – Lưu và hành trình sáng tác “Giải phóng miền Nam”

Bấy giờ, trong cao trào sục sôi lòng căm thù đánh Mỹ, “bộ ba Hoàng – Mai – Lưu” cùng suy nghĩ phải viết một ca khúc phản ánh được thời đại mà họ đang sống. Đó là thời đại của lòng đoàn kết, quyết tâm thắng Mỹ, thống nhất Tổ quốc. Sau một thời gian dài suy nghĩ, họ đã có được lời ca:

Giải phóng miền Nam, chúng ta cùng quyết tiến bước. Diệt đế quốc Mỹ, phá tan bè lũ bán nước. Ôi! Xương tan máu rơi, lòng hận thù ngất trời. Sông núi bao nhiêu năm cắt rời…. Vùng lên nhân dân miền Nam anh hùng. Vùng lên xông pha vượt qua bão bùng…. Vận nước đã đến rồi. Bình minh chiếu khắp nơi. Nguyện xây non nước sáng tươi muôn đời.

Dĩ nhiên nhạc sĩ Lưu Hữu Phước được phân công viết nhạc. Nhưng tại sao ca khúc này lại mang tên tác giả là Huỳnh Minh Siêng? Theo nhạc sĩ, nhà nghiên cứu âm nhạc Phan Thanh Nam:

Trong hoàn cảnh bí mật nên lấy tên gì? Trước đây các anh đã dùng cái tên Hoàng- Mai – Lưu để chỉ về bộ ba các anh. Không dùng lại cái tên cũ, đặt một cái tên mới Huỳnh Minh Liêng (từ tên cũ mà ra vậy). Tên Liêng viết có g rõ ràng, một cái tên mang tính dân gian rất Nam bộ. Hồi đó mọi người còn nhớ khi cái tên Huỳnh Minh Liêng đưa lên báo có điều lý thú xẩy ra. Toàn soạn báo Nhân Dân thấy chữ L hoa giống chữ S và cuối chữ Liêng lại có g nên nghĩ rằng có lẽ là Siêng (siêng năng) thì hợp lý hơn. Song lại nghĩ đó là cách phát âm của miền Nam, Siêng tức là từ Xuyên mà ra và chữ Xuyên có vẻ chữ Nho hơn, do đó, báo đăng Huỳnh Minh Xuyên… nhưng cái tên Huỳnh Minh Siêng nôm na đã được phổ biến trong phong trào ca hát và trong quần chúng rộng rãi rồi

(Tạp chí Xưa Nay số 746 tháng 4/2000).

Một cái tên đã đi vào lịch sử âm nhạc Việt Nam – cũng là dấu ấn đáng quý của một tình bạn thủy chung.

Tuổi thơ và quê hương Ô Môn

Nhạc sĩ Lưu Hữu Phước sinh ngày 12/9/1921 ở Ô Môn, một mảnh đất trù phú cây lành trái ngọt nằm bên bờ Tây dòng sông Hậu. Làm rạng danh vùng đất này có những người cộng sản nổi tiếng như Châu Văn Liêm, Lê Văn Sô, Trần Bửu Kiếm… có những nhạc sĩ tài năng như Trần Kiết Tường, Đắc Nhẫn, Triều Dâng… và nhất là Lưu Hữu Phước – con trai của ông Lưu Nhân và bà La Thị Xinh. Thuở nhỏ, chàng nhạc sĩ của tương lai đã mê âm nhạc. Những đêm trăng sáng, Lưu Hữu Phước thường có mặt ở nơi các tay đòn ca tài tử tụ tập cất lên giọng ca ngọt lịm cùng tiếng đòn cò, đòn kìm réo rắt…. Âm thanh ấy đã để lại trong tâm hồn ông những giai điệu khó quên. Khi được nghe tiếng tiêu của cậu Hai Thanh, tiếng đàn tranh của chú Tư Mạnh, tiếng đòn kìm của bác Tư Long… thì Lưu Hữu Phước cũng ước mơ có ngày mình sử dụng thành thạo các nhạc cụ này. May mắn là vun đắp cho ước mơ này còn được người cha vốn là thầy giáo dạy lớp 3 trường làng ủng hộ, được người mẹ phúc hậu dạy cho nhiều làn điệu dân ca như Lý con sáo, Lý bốn mùa… Ngoài ra, Lưu Hữu Phước còn được cha mẹ cho theo học đòn kìm với chú Ngô Đảnh mà điều đáng ngạc nhiên là chỉ sau bảy ngày theo học với thầy, Lưu Hữu Phước đã thuộc hết 20 câu vọng cổ 8 nhịp và biết đòn đúng nhịp…

Sài Gòn – Petrus Ký và những năm hình thành tư duy âm nhạc

Sau khi học xong tiểu học ở Ô Môn, ông thi đậu vào Collège Cần Thơ (nay là trường trung học Châu Văn Liêm) và giành được học bổng hằng năm do học giỏi. Một điều có ý nghĩa đối với con đường đến với âm nhạc của Lưu Hữu Phước trong thời gian này là ông được gặp Nguyễn Mỹ Ca – con trai của cụ Nguyễn Tri Lạc, một dòng họ nổi tiếng về sử dụng âm nhạc dân tộc ở đất Tiền Giang. Bấy giờ, Nguyễn Mỹ Ca đã sử dụng thông thạo các nhạc cụ và hướng dẫn thêm cho Lưu Hữu Phước về ký âm nhạc dân tộc cũng như nhạc “cải cách”. Sau này, ông cho biết: 

Nhờ anh ấy, tôi đã vỡ lòng những nốt đen, nốt trắng nhảy nhót trên năm dòng nhạc như bày chim én nô đùa trên dây thép bưu điện.

Từ năm 1936, lúc mới 15 tuổi, Lưu Hữu Phước bắt đầu sáng tác. Ca khúc đầu tay của ông là Giang san gấm vóc. Năm 16 tuổi, tốt nghiệp Collège Cần Thơ, Lưu Hữu Phước lên Sài Gòn học ở Lycée Petrus Ký (nay là trường Lê Hồng Phong).

Thời gian này, một người bạn thân của ông là Giáo sư TS. Trần Văn Khê có kể lại những hoạt động âm nhạc thú vị:

Công việc đầu tiên là chúng tôi cùng phối khí các bài nhạc Tài tử như Lưu thủy, Kim tiền, Khổng Minh tọa lầu, Tam pháp nhập môn để trình diễn trong lễ ông Táo tại trường. Những năm 1939, 1940, Phước đàn Mandoline trong ban nhạc của trường và dàn nhạc “Scola Club” – cả hai đều do tôi chỉ huy. Lúc ấy, Phước đã bắt đầu sáng tác theo phong cách của các nhà soạn nhạc Pháp nổi tiếng Vincent Scotto, như mấy bài Barcarole, Valse caline, Cette rumba. Các bạn học trong trường rất phục tài và gọi Phước là “Vincent Phucco” và sau này có một loạt bài hay như Je t’aime Marilou, Adieu Marilou và Je mourrai Marilou. Phước cũng như tôi, lúc ấy đều tin rằng phải học nhạc phương Tây, phải nhờ nhạc phương Tây để phát triển nhạc Việt Nam. Chúng tôi đã đàn Mandoline, đàn guitar của Hawaii do anh Võ Văn Quan diễn tấu vào dàn nhạc “nửa Tây nửa Ta” của trường. Sau này, chúng tôi đều nhận thấy rằng con đường ấy tuy đi sai nhưng có đi, có thể nghiệm mới tự biết là sai. Mà kinh nghiệm bản thân làm cho mình thấy rõ cái sai của mình hơn cả lời thầy dạy, lời bạn khuyên.

Lưu Hữu Phước cùng kết bạn với Mai Văn Bộ, Trần Mỹ Ca, Nguyễn Thành Nguyên, Trần Văn Khê, Huỳnh Văn Tiểng… Họ nhận ra rằng: Chính lối giáo dục của nhà trường thực dân với quan điểm lệch lạc như “phải trung thành với nước Pháp vì nước Pháp đã có công khai hóa nước Việt” hoặc “Truyện Kiều không phải là tác phẩm văn học vì Việt Nam chưa có văn học” v.v… đã thúc đẩy họ quyết tâm thành lập một nhóm học sinh giúp đỡ nhau trong nhận thức cũng như trong học tập. Lưu Hữu Phước bàn với bạn bè:

Chúng ta phải tập hợp một số bạn đứng đắn, đoàn kết lại thành một cái gốc, rồi ghép trên đó nhiều bạn trẻ khác.

Để làm điều này, sáng tác âm nhạc của Lưu Hữu Phước cũng bắt đầu thay đổi. Nếu trước đây, ông sáng tác những ca khúc trữ tình, lãng mạn thu hút nhiều các bạn khiêu vũ, nhảy nhót… thì bây giờ, ông quyết tâm viết các bài mà ông cho rằng “lành mạnh”- dù các bạn đến có ít hơn nhưng đó đều là các bạn đứng đắn.

Phong trào học sinh và sự hình thành Câu lạc bộ Học sinh

Sau đó, từ sự bàn bạc, chuẩn bị của nhóm bạn này, Câu lạc bộ Học sinh ra đời dưới sự bảo trợ của Hội Nam Kỳ Đức trí thể dục (S.A.M.I.P.I.C). Lưu Hữu Phước cùng Mai Văn Bộ soạn Hành khúc của thanh niên Nam Kỳ cho Câu lạc bộ này với mục đích cổ vũ tinh thần đoàn kết và yêu nước. Riêng câu:

Mỗi chúng ta đều nghĩ đến ngày mai. Vì ngày ấy là ngày giải phóng” để phổ biến công khai, không bị kiểm duyệt nên phải thay hai chữ “giải phóng” thành “hy vọng”

Có thể xem đây là cột mốc đầu tiên trên chặng đường sáng tác âm nhạc của một nhạc sĩ tài hoa- khi xác định được hướng đi lâu dài của mình.

Hà Nội – tiếp tục học tập và định hình tư tưởng sống

Năm 1940, Lưu Hữu Phước ra Hà Nội học Y khoa, rồi chuyển sang Nha Khoa. Đáng chú ý là thời gian đi học, ông đã có chủ hướng phấn đấu trở thành người có:

Một cánh tay khỏe mạnh
Một khối óc sáng suốt
Một quả tim dũng cảm
Cho một mục đích thanh tao
(20/5/1940)

Và quan niệm về tình yêu thì ông cho rằng:

Tình yêu là một nguồn hạnh phúc, nhưng không phải là nguồn độc nhứt. Một hạnh phúc mà ít người tưởng đến là hy sinh. Yêu là cho chứ không phải là xin

Thời gian học ở Hà Nội, Lưu Hữu Phước cùng các bạn sinh viên có dịp “về nguồn” bằng cách viếng danh lam thắng cảnh ở đất “ngàn năm văn vật”. Vào dịp giáng sinh 1940, họ tổ chức đoàn xe đạp đi từ Hà Nội đến Bắc Ninh Kiếp Bạc – Đông Triều – Hồng Gai – Hải Phòng rồi quay trở về Hà Nội.

Những ca khúc nổi tiếng của Lưu Hữu Phước như Người xưa đâu tá, Bạch Đằng Giang đều được sáng tác trong thời gian này. Ca khúc Bạch Đằng giang (lời Mai Văn Bộ) đã đưa tên tuổi Lưu Hữu Phước đến với công chúng ở Hà Nội.

Sự lan tỏa của các ca khúc lịch sử

Ai thuở ấy mà không từng hát một cách kiêu hãnh, tự hào:

Đây Bạch Đằng giang, sông hùng dũng của nòi giống Tiên Rồng, giống Lạc Hồng, giống anh hùng Nam Bắc Trung;

và cảm thấy như được sống cùng khí phách của người xưa:

Trên trời xanh, muôn sắc đua chen bóng ô. Dưới đáy dòng nước, ánh sáng vờn vơ nhấp nhô. Hàng cây cao soi bóng, gió uốn muôn ngàn lau. Hồn ai đang phảng phất trong gió, cảm xiết bao!

Sau đó, một loạt ca khúc lịch sử vang dội như Ải Chi Lăng, Hồn tử sĩ, Hòn sông Gianh, Hội nghị Diên Hồng… đã ra đời trong sự chờ đón náo nức của công chúng.

Tinh thần yêu nước trong âm nhạc

Có thể nói, giai điệu trong âm nhạc của Lưu Hữu Phước hào hùng như tiếng kèn xung trận, thúc giục thanh niên, sinh viên noi gương người xưa xông ra sa trường. Trong Người xưa đâu tá, ông kêu gọi:

Nào ai mê ngủ, mê man trên đường lợi danh. Nào ai mê ngủ, say sưa trụy lạc quên mình. Vùng dậy cả thẩy! Hỡi lũ trẻ ngủ say sưa, mê man không hay! Bừng mở mắt sáng, hãy ngó thế giới, xem gương duy tân người ngoài…

Ca khúc này khi trình diễn ở trường Đại học Hà Nội lập tức bị mật thám Pháp cấm, sinh viên lấy cớ là chỉ cấm hát lời, chứ không cấm tấu nhạc. Thế là trong giây phút trang nghiêm, dàn nhạc hợp xướng vẫn trỗi lên khiến bao người nghĩ đến cái nhục mất nước mà rơi lệ.

Về sau, để ca khúc này được phổ biến công khai, Lưu Hữu Phước đã soạn thành lời khác và đổi thành Cầu nguyện Hai Bà rồi đổi thành Kinh cầu nguyện, năm 1943 xuất bản ở Sài Gòn thì cả hai lời ca được lưu hành song song.

Đặc biệt ca khúc Bạch Đằng giang sau này đã được sinh viên miền Nam sống tại đô thị bị tạm chiếm dựng thành nhạc cảnh với tên Tiếng trống hào hùng.Số phận các ca khúc của Lưu Hữu Phước đã gắn liền với số phận của dân tộc. Với những ca khúc này, Lưu Hữu Phước đã trở thành ngọn cờ đầu của phong trào ca hát “Thanh niên và lịch sử” của Tổng hội Sinh viên Hà Nội.

Thời cơ lịch sử và bước ngoặt cách mạng

Bấy giờ, không khí của thời cơ cách mạng đang dần chín muồi. Thực dân Pháp nhục nhã cúi đầu ký hiệp định ngày 23/9/1940 đầu hàng phát xít Nhật. Đảng Cộng sản Đông Dương kịp thời phân tích thời cơ này:

Trong lúc này nếu không giải quyết được vấn đề dân tộc giải phóng, không đòi được độc lập, tự do cho toàn thể dân tộc, thì chẳng những toàn thể quốc gia dân tộc còn chịu mãi kiếp ngựa trâu, mà quyền lợi của giai cấp đến vạn năm cũng không đòi lại được

Từ Nghị quyết của Trung ương lần thứ VIII sẽ dẫn đến cuộc khởi Nghĩa ở Bắc Sơn, Nam Kỳ rất hào hùng và dòng máu nóng của những người yêu nước đã tô thắm thêm lá cờ vinh quang của Tổ quốc. Tất nhiên, những thông tin này đã tạo trong tâm hồn Lưu Hữu Phước những hào khí ngất trời.

Một trong những dấu ấn không phai trong sự nghiệp âm nhạc của ông là Tiếng gọi thanh niên – đã ra đời trong giai đoạn bão táp của lịch sử. Đầu năm 1941, chủ tịch Tổng hội Sinh viên Đông Dương là Dương Đức Hiền, Phạm Biểu Tâm đã gợi ý Lưu Hữu Phước sáng tác một ca khúc kêu gọi khởi nghĩa. Điều này, trước đó, ông đã có nghĩ đến, cứ nung nấu mãi trong đầu, nhưng chưa viết được.

Mãi đến tháng 4/1941, ông cùng bạn bè làm cuộc hành hương “về nguồn” thăm làng Phù Đổng và đền Sóc Sơn. Điều bất ngờ là trước đền họ đã bắt gặp cánh hoa rất lạ mắt – hoa trà nổi tiếng từ tiểu thuyết Trà hoa nữ của A. Dumas. Mai Văn Bộ đã đem cánh hoa này về phòng trọ của Lưu Hữu Phước ở Hà Nội rồi tuyên bố: 

Trước khi hoa tàn, Phước phải viết xong bài hát kêu gọi khỏi nghĩa!

Trước tình thế không thể nấn ná được nữa, ông cắm cúi viết và đến một giờ sáng ngày hôm sau thì hoàn thành. Bài hát kêu gọi khỏi nghĩa của “bộ ba Hoàng Mai Lưu” đã ra đời trong hoàn cảnh như thế và bí mật phổ biến trong sinh viên:

Nào anh em ơi! Tiến lên đến ngày giải phóng!
Đồng lòng cùng nhau ta đi sá gì thân sống!
Cùng nhau ta tuốt gươm, cùng nhau ta đứng lên
Thù kia chưa trả xong, thì ta luôn cố bền?
Lầm than bao năm, ta đau khổ biết mấy
Vàng, đá, gấm vóc, loài muôn thú cướp lấy.
Nó hút lấy máu đào chúng ta
Đời ta gian nan, của nhà tan rã
Bầu máu, nhắc tới đó, càng thêm nóng sôi
Ta quyết thể, phá tan quân dã man rồi…

Với điệp khúc hùng tráng:

Vùng gươm lên, ta quyết đi đến cùng
Vùng gươm lên, ta thể đem hết lòng
Tiến lên, đồng tiến lên, sá gì đời sống
Chớ quên rằng ta là giống Lạc Hồng.

Lưu Hữu Phước cho biết:

Lẽ ra, một bài hát kêu gọi khỏi nghĩa chỉ có thể là bài hát bí mật, bí mật ghi chép, bí mật phổ biến… cho đến ngày khởi nghĩa. Thế nhưng, số phận bắt nó phải đi theo một con đường khác. Nó chỉ được giữ được tương đối bí mật không quá một năm

Tại sao vậy? Phong trào đang đòi hỏi phải có bài hát dành riêng cho giới sinh viên, được sự gợi ý của Dương Đức Hiền, Lưu Hữu Phước đã soạn lòi khác cho Bài hát kêu gọi khởi nghĩa để trở thành Sinh viên hành khúc.

Lúc đầu, Phước còn ngần ngại, vì sợ làm hỏng tác dụng của bài hát khi thời cơ đến. Nhưng lập luận của anh Dương Đức Hiền là: “-Ta cứ cứ đặt lời ca cho sinh viên hát cộng đồng để phổ biến trước điệu nhạc, khi nào thời cơ đến ta sẽ đưa lời ca khỏi nghĩa ra, mọi người sẽ hát được ngay!” Phước đã bị thuyết phục, vì ngẫm ra, anh Dương Đức Hiền có cách nhìn thực tế

Như vậy, trong Sinh viên hành khúc được viết là:

Này sinh viên ơi! Chúng ta kết đoàn hùng tráng/ Đồng lòng cùng nhau ta đi kiếm nguồn tươi sáng/ Vì tương lai quốc gia, vì tương lai quốc dân/ Từ nay ta tiến lên, từ nay ta ráng cần

Nhưng khi đưa ra kiểm duyệt thì không được vì nhà cầm quyền viện lẽ bài hát của sinh viên Đông Pháp thì phải soạn lời bằng tiếng Pháp! Thế là các sinh viên Dương Đức Hiền, Mai Văn Bộ, Lưu Hữu Phước, Trần Văn Khê, Huỳnh Văn Tiểng, Phan Huỳnh Tấn… quyết định phải soạn lòi tiếng Pháp để phổ biến điệu nhạc. Người được giao nhiệm vụ soạn lời Pháp là Mai Văn Bộ.

Sau đó, bài Le marche des étudiants ra đời, nhưng sinh viên vẫn thấy thiếu bài hát cho mình. Do đó, Tổng hội sinh viên Đông Dương đã tổ chức cuộc thi làm lòi tiếng Việt cho bài hát. Kết quả là nhạc Lưu Hữu Phước, tựa “Tiếng gọi sinh viên” của Lê Khắc Thiền, lời có sử dụng thêm của Lê Khắc Thiền và Đặng Ngọc Tốt. Nhưng khi đưa ra kiểm duyệt thì vẫn bị gạch bỏ nhiều đoạn. Dù vậy, nó vẫn bí mật phổ biến rộng rãi trong sinh viên. Và sau đó, nó còn có tựa là “Tiếng gọi thanh niên”.

“Đến năm 1944, Phước vận động mãi và nhờ sự can thiệp của nhiều người, Sở kiểm duyệt Sài Gòn mới cho phép in cả 3 đoạn và điệp khúc. Nhưng phải gửi in tại một nhà in ở Cà Mau. Tuy vậy, Sở mật thám Pháp đã gửi thông tư mật cho các Ty thanh niên Thể dục thể thao, ra lệnh cấm, không cho phép hát mấy bài Tiếng gọi thanh niên, Người xưa đâu tá, Hồn tử sĩ và cấm cả bài Bóng người núi Lam (nhạc Lương Ngọc Châu, lời Huỳnh Văn Tiếng). Do đó, bài Tiếng gọi thanh niên in xong ở Cà Mau, vừa mới được chở lên Sài Gòn vào tháng 9/1944 thì đến tháng 10 bị Sở mật thám tịch thu khi chúng khám nhà chị Hai tôi, chỗ tôi ở tại đường Dixmude (nay đường Đề Thám). Mãi đến năm 1945, sau khi Nhật đảo chính Pháp, ta mới có điều kiện hoạt động nửa công khai và bài hát mới được viết lại theo tinh thần tháng 4/1941 và được nhà xuất bản Hoàng Mai Lưu ấn hành dưới nhan đề Quốc dân hành khúc”.

Số phận của ca khúc độc đáo này vẫn chưa dừng lại đó, có một điều khá hài hước là ca khúc này đã bị chế độ Sài Gòn cũ “mượn” làm “quốc ca” và ngang nhiên thay đổi lời! Đại khái như:

Này dân Nam ơi! Quốc gia đến ngày giải phóng/ Đồng lòng cùng đi hy sinh tiếc gì thân sống/Vì tương lai quốc dân cùng xông pha khói tên/ Làm sao cho núi sông từ nay luôn vững bền…

Hoạt động kháng chiến

Khi thời cơ của Tổng khởi nghĩa sắp nổ ra, để kêu gọi sinh viên tham gia cách mạng, Lưu Hữu Phước đã kịp thời có các ca khúc Xếp bút nghiên, Lên đàng, Nam tiến, Mau về Nam… rồi cũng như các bạn Nam Bộ, ông đã trở về Sài Gòn và bắt đầu cuộc đời hoạt động chính trị.

Trên báo Thanh Niên số 40 (tháng 10/1944) của Kiến trúc sư Huỳnh Tấn Phát, Lưu Hữu Phước đã in bản Tuyên ngôn về âm nhạc, trong đó khẳng định:

Chúng tôi coi nghệ thuật là một phương tiện để phục vụ nhu cầu cấp bách của dân tộc

Những bước chân mạnh mẽ, những tiếng hát hào hùng “Nào anh em ta cùng nhau lên đàng…” đã vang dội khắp Sài Gòn và các tỉnh Nam Bộ trong những ngày quyết tâm chặt đứt xích xiềng nô lệ.

Ngay sau Cách mạng tháng Tám, Lưu Hữu Phước đã viết Khải hoàn ca (lời Nguyễn Mỹ Ca) rất nổi tiếng, ca ngợi cuộc tái sinh nhiệm mầu:

Việt Nam mến yêu! Ngàn ánh vinh quang, rạng chiếu sơn hà ngàn xиа! Nòi giống Lạc Hồng, nòi giống hiên ngang. Khắp nơi cất cao bóng cờ…

Cuối mùa thu năm 1946, ông có mặt ở Hà Nội, được giao nhiệm vụ tập hợp các nhạc sĩ để thành lập Nhạc Viện – nhưng nó chỉ tồn tại đến ngày toàn quốc kháng chiến 19/12/1946.

Giai đoạn kháng chiến lâu dài

Và từ những năm tháng này, Lưu Hữu Phước có mặt trên khắp nẻo đường kháng chiến và lấy âm nhạc phục vụ cho kháng chiến. Nếu trước đây, ông thường lấy đề tài lịch sử làm chất liệu sáng tác thì nay, ông chuyển sang những đề tài thời sự nhằm phục vụ cho chiến đấu như Lục quân Trần Quốc Tuấn, Vượt trùng dương, Đoàn quân sông Lô, Reo vang bình minh.

Trong kháng chiến chống Pháp và sau này đã có nhiều nhạc viết về Chủ tịch Hồ Chí Minh, nhưng Lưu Hữu Phước đã để lại dấu ấn khó phai mờ trong tâm trí chúng ta qua bài Ca ngợi Hồ Chủ tịch từ năm 1947. Ông Mai Văn Bộ đã nhận xét tinh tế về ca khúc này: “Không phải vô cớ mà nhiều năm, chuông đồng hồ đặt trên nóc nhà Bưu điện Trung ương Hà Nội vẫn thong thả đánh lên bản nhạc Ca ngợi Hồ Chủ tịch trước khi điểm giờ…”

Kết luận

Đến thời điểm này, nhiều người nghĩ, Lưu Hữu Phước chỉ có viết hành khúc. Nhưng thật ra không phải vậy. Trong hồi ký của mình, ông cho biết về việc sáng tác ca kịch như Tục lụy, Thỏ ngọc, Diệt sói lang, Hai chàng lưng gù, Nàng Hồng đi lấy chồng, Hái hoa dâng Bác… Sau khi hòa bình lập lại ở miền Bắc, ông được giao giữ nhiều trọng trách quan trọng. Từ năm 1965, Lưu Hữu Phước trở về miền Nam chiến đấu, ông giữ chức Bộ trưởng Bộ Văn hóa Thông tin của Cách mạng lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam.

Nhìn lại chặng đường gắn bó với cách mạng và sáng tác nhiều ca khúc bất hủ, giáo sư nhạc sĩ Tô Vũ nhận xét về ông như một đại diện xuất sắc của “dân tộc hóa” âm nhạc.

Người nhạc sĩ tài hoa mất ngày 8/6/1989. Hiện nay, tại thị trấn Ô Môn có trường trung học và tại Cần Thơ có công viên văn hóa mang tên Lưu Hữu Phước. Ông là một trong năm nhạc sĩ được tặng Giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt 1) cùng với Đỗ Nhuận, Văn Cao, Hoàng Việt, Nguyễn Xuân Khoát.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 10 – Danh nhân chính trị, Nxb Trẻ.  

5/5 (2 bình chọn)
Chia sẻ
Lê Hữu Phước

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)