Nguyễn Chí Thanh (1914 – 1967)

Nguyễn Chí Thanh (1914 – 1967)

Thông tin cơ bản

Gì sâu bằng những trưa thương nhớ
Hiu quạnh bên trong một tiếng hò!
Đâu gió cồn thơm đất nhả mùi
Đâu ruồng che mát thuở yên vui
Đâu từng ô mạ xanh mơn mởn
Đâu những nương khoai ngọt sắn bùi?
Đâu những đường con bước vạn đời
Xóm nhà tranh thấp ngủ im hơi
Giữa dòng ngày tháng âm u đó
Không đổi nhưng mà trôi cứ trôi…
Gì sâu bằng những trưa hiu quạnh
Ôi ruộng đồng quê thương nhớ ơi!
Đâu những lưng cong xuống luống cày
Mà bùn hy vọng nức hương ngây
Và đâu hết những bàn tay ấy
Vãi giống tung trời những sớm mai?

Bài thơ Nhớ đồng của nhà thơ Tố Hữu viết tháng 7/1939, có ghi “Tặng Vịnh”. Ít người biết đó là tên thật của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh – sinh ngày 1/1/1914 ở thôn Niêm Phò, huyện Quảng Điền, tỉnh Thừa Thiên trong một gia đình nông dân nghèo – một con người mà sau này khi mất, Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt Nam ghi nhận “Đồng chí từ trần là một tổn thất rất lớn đối với Đảng ta, quân đội và nhân dân ta. Đảng ta mất một đồng chí lãnh đạo trung thành, lỗi lạc. Quân đội ta mất một người chỉ huy mưu lược, tài trí, một người đồng chí dũng cảm, kiên quyết. Nhân dân ta mất một người con ưu tú, một nhà lãnh đạo xuất sắc”. Việc đặt tên Nguyễn Chí Thanh kể ra cũng thú vị, tại Đại hội Tân Trào – họp ngày 14/8/1945, Ủy ban khỏi nghĩa toàn quốc được thành lập và ra Quân lệnh số 1, lệnh cho quân và dân cả nước tiến hành Tổng khởi nghĩa-khi công bố danh sách lãnh đạo có tên Nguyễn Chí Thanh thì chính Nguyễn Vịnh không biết là ai, hỏi thì được ông Phạm Văn Đồng trả lời: “- Tên của anh, chứ còn của ai nữa!”. Ngoài ra, ông còn có các bí danh khác như Hà, Sáu, Dy, Thao, Sáu Di…

Hoạt động cách mạng

Đại tướng Nguyễn Chí Thanh tham gia cách mạng rất sớm, ngay từ lúc còn đi làm thuê, ông đã tham gia đấu tranh với cường hào địa chủ- tất nhiên chỉ mới là sự tự phát. Chỉ sau này, qua nhiều thử thách trong đấu tranh chính trị, tháng 7/1937 được kết nạp vào Đảng, rồi làm Bí thư Chi bộ thì sự đấu tranh ấy mới thật sự có chiến lược lâu dài. Đó là những năm tháng ông cùng một vài thanh niên đến Bến Ngự thăm cụ Phan Bội Châu đang bị giam lỏng. Tại nhà của bậc chí sĩ đang được quốc dân đang ngưỡng mộ, kính trọng thì ông được gặp người cộng sản Phan Đăng Lưu – vừa mới ở tù ra. Sau đó, Phan Đăng Lưu đã giới thiệu ông gặp một cán bộ cao cấp của Đảng là Nguyễn Chí Diểu – vừa từ Côn Đảo về. Đây là những bước đường đầu tiên đánh dấu sự chuyển biến tư tưởng của ông. Từ năm 1938, ông được cử làm Bí thư Tỉnh ủy Thừa Thiên nhưng đến cuối năm đó bị bắt. Ra tù, tiếp tục giữ cương vị cũ thì cuối năm 1939, ông lại bị bắt lần thứ hai, giam ở nhà lao Huế, Lao Bảo, Buôn Ma Thuột… Không thể để chế độ khắc nghiệt của nhà tù đế quốc giết dần giết mòn, ông cùng với hai bạn tù là Lê Tắc Đắc và Phạm Văn Dứa tìm cách vượt ngục. Sau khi đi chung với nhau mấy ngày đường thì họ chia tay nhau, mỗi người đi một hướng để tránh sự bủa vây, truy bắt của Pháp. Nguyễn Chí Thanh đi về hướng đông bắc, ông đã đi đến Phú Yên, Bình Định ẩn náu, rồi quay trở về Thừa Thiên và tiếp tục hoạt động.

Giai đoạn bị bắt (1943 – 1945)

Rồi năm 1943 trong một chuyến đi công tác ở huyện Phú Lộc (Thừa Thiên), ông lại sa vào tay giặc. Biết ông là một cán bộ cách mạng, giặc Pháp tra tấn tàn nhẫn để moi tin tức của Đảng, nhưng chúng thất bại trước khí phách của người cộng sản. Cuối cùng, chúng lại đày ông lên nhà lao Buôn Ma Thuộc, ghép vào loại tù nguy hiểm. Ngày 9/3/1945, Nhật đảo chính Pháp. Các tù nhân đứng lên phá ngục đòi tự do, Nguyễn Chí Thanh cùng các đồng chí của mình ra khỏi tù và nhanh chóng về địa phương hoạt động. Tháng 8/1945, thay mặt tổ chức Đảng ở Trung kỳ, ông đi dự Hội nghị của Đảng ở Tân Trào, sau đó, được cử làm Ủy viên chính thức của Ban chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Đông Dương và Đảng chỉ định ông làm Bí thư Xú ủy Trung kỳ – với nhiệm vụ nặng nề trong tình hình đang có nhiều chuyển biến phức tạp, một là thực dân Pháp đang lăm le chiếm lại nước ta, hai là lực lượng vũ trang của ta còn non trẻ.

Kháng chiến chống Pháp ở Huế 

Trở về Huế, Nguyễn Chí Thanh đã tổ chức Hội nghị quân sự đầu tiên của tỉnh để phổ biến tinh thần của cuộc kháng chiến toàn diện, phối hợp chiến thuật du kích với phương pháp bất hợp tác với giặc… Hưởng ứng lời kêu gọi của Chủ tịch Hồ Chí Minh: “Không! Chúng ta thà hy sinh tất cả, chứ nhất định không chịu mất nước, nhất định không chịu làm nô lệ”, tại Huế từ ngày 25/3/1947 bộ đội ta bắt đầu rút ra khỏi thành phố. Tại làng Nam Dương, huyện Phong Điền – sau lưng địch, cách khoảng 20km – Nguyễn Chí Thanh đã tổ chức một hội nghị đặc biệt có tính chất quyết định cho hướng chiến đấu sắp tới của dân quân Bình Trị Thiên. Sau này, Trung tướng Trần Quý Hai – nhân chứng của hội nghị – có kể lại:

Anh Thanh, thay mặt Tỉnh ủy, đề ra những việc phải làm trước mắt. Một là, phải tập họp và củng cố lại đội ngũ trong quân đội, sau đó đánh một vài trận để gây lòng tin trong nhân dân… Hai là, cán bộ, nhất là đảng viên hiện nay đang lẩn tránh trên chiến khu, phải cấp tốc trở về địa phương mình, bám đất, bám dân, ra sức phát triển lực lượng, xây dựng cơ sở quần chúng, giáo dục, động viên nhân dân tin tưởng là kháng chiến vẫn còn, cách mạng vẫn còn, rồi dần dần tổ chức các tổ du kích, diệt tề trừ gian và tham gia chiến tranh du kích tiêu diệt những toán quân đi lẻ tẻ.

Về điểm này, anh nói rất rõ, như lời Bác dạy, địch càng rải ra nhiều thì lực lượng địch càng mỏng. Trước đây, chúng ẩn nấp trong các nhà kiên cố, có công sự vững chắc nên ta rất khó đánh. Sau đó, chúng tiếp vận, quân số tập trung rất đông, vũ khí đầy đủ, ta cũng rất khó đánh. Bây giờ chúng rải quân đi càng quét, số quân chẳng bao nhiêu lại không dựa vào công sự vững chắc, ta dễ đánh, dễ tiêu diệt chúng hơn.

Về diệt tề, trừ gian, anh nói, đó cũng là một vấn đề rất quan trọng. Bọn địch ở xa đến không biết gì đến ta. Nó phải lấy bọn Việt gian, phản động làm tai mắt để truy lùng cán bộ kháng chiến và ép nhân dân, làm cho nhân dân sợ. Bây giờ ta tiêu diệt chúng nó đi thì địch có mắt cũng như mù, có tai cũng như điếc và nhân dân sẽ không sợ hãi nữa, sẽ ủng hộ chúng ta… Những lý lẽ của anh Thanh làm cho chúng tôi rõ thêm một số vấn đề về chiến tranh du kích, chiến tranh nhân dân.

Vấn đề thứ ba, anh nhấn mạnh là phải tăng gia sản xuất. Anh bảo: “Thực túc thì binh cường”. Về lương thực, ta phải dựa vào dân là chính. Nhưng hiện nay, các vùng vựa lúa đều bị địch kiểm soát, dân chua cung cấp được. Chúng ta phải tạm thời lo liệu lấy, giải quyết tạm thời cái ăn. Do đó nên động viên bộ đội chưa đi chiến đấu, động viên đồng bào mới tản cư lên, chỗ nào làm được thì làm, tranh thủ trồng thật nhiều khoai, sắn. Đây không phải là kế tạm thời mà là kế lâu dài.

Anh còn nêu lên một số vấn đề khác như củng cố chiến khu, chăm sóc thương bệnh binh, chăm lo đời sống cho bà con tản cư… Chúng tôi lẳng lặng nghe, lòng đầy tin tưởng ở ngày mai.

Sau hội nghị này, Tỉnh ủy Huế đã ra Nghị quyết với tư tưởng chỉ đạo là nhanh chóng tấn công giặc, không chỉ lúc chúng đi càn quét mà còn tấn công ngay tại vùng đồng bằng chúng đang chiếm đóng… Nhờ quyết tâm này mà bộ đội ta đã đánh thắng ở Hộ Thành, Đất Đỏ khiến dân tin tưởng ở cách mạng và ủng hộ cuộc kháng chiến lâu dài… Cùng lúc, ông Nguyễn Chí Thanh chỉ đạo cho Tiểu đoàn của Trần Quý Hai phải đánh vào ba huyện phía Nam của Bình Trị Thiên là Phú Lộc, Phú Vang, Hương Thủy – vì theo ông nhận định nơi đây thế lực của giặc rất yếu, nếu đánh nhanh, đánh mạnh thì sẽ giành được đất, được dân… Qua thực tế chiến đấu đã cho thấy nhận định này là đúng.

Trong thời gian này, Trung ương nhận thấy ba tỉnh Bình Trị Thiên do hoàn cảnh địa lý đã hình thành một chiến trường nên quyết định thành lập Phân khu ủy Bình Trị Thiên, Nguyễn Chí Thanh được chỉ định làm Bí thư Phân khu ủy. Với cương vị trên, năm 1948 ông đã triệu tập hội nghị đề ra kế hoạch quan trọng là tổng phá tề trong ba tỉnh Bình Trị Thiên. Đây là công việc không dễ dàng, vì khi tiến hành chiến tranh xâm lược bất cứ thằng giặc nào, dù trong tình huống khó khăn nhất cũng lập ngụy quyền để phục vụ cho ý đồ lâu dài của chúng. Chiến dịch này kéo dài trong nhiều tháng và đã đạt một kết quả khả quan là trước chiến dịch có đến 93% các xã có hội tề thì sau chỉ còn lại 7%. Sau đó, Nguyễn Chí Thanh lại được cử làm Bí thư Liên khu ủy Liên khu IV.

Chủ nhiệm Tổng cục chính trị (1950 – 1959)

Đầu năm 1950, theo quyết định của Trung ương, Nguyễn Chí Thanh ra Việt Bắc để nhận nhiệm vụ Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị và Phó bí thư Tổng quân ủy. Tại Đại hội Đại biểu Đảng lần thứ hai, năm 1951, ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Đảng và được cử vào Bộ Chính trị. Dù ở cương vị nào, ông vẫn giữ tác phong sâu sát với dân, gần gũi với bộ đội để nhanh nhạy nắm bắt vấn đề đang phát sinh và biết tìm cách giải quyết dứt điểm. Ông Đồng Sĩ Nguyên – nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị cho biết: “Khi làm Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, anh Nguyễn Chí Thanh có nguyện vọng cháy bỏng, cùng với anh Võ Nguyên Giáp, cùng với Quân ủy Trung ương đã đề xuất và thực hiện thành công việc cải tiến công tác chính trị, tư tưởng, tổ chức trong quân đội, nhằm củng cố chế độ chính ủy, tăng cường cơ quan chính trị, tăng cường vị thế, vai trò lãnh đạo trực tiếp của Đảng đối với quân đội; trọng tâm là đẩy mạnh chỉnh huấn, chỉnh quân, rèn cán để bồi dưỡng, nâng cao trình độ chính trị, tư tưởng, quan điểm, lập trường, ý chí chiến đấu, trình độ tổ chức, chỉ huy, trình độ chiến thuật, kỹ thuật của cán bộ, nay gọi là “nhân tố con người”. Thành công đó là của tập thể Quân ủy Trung ương, nhưng riêng về cải tiến công tác chính trị, tư tưởng, vai trò lãnh đạo của Đảng trong quân đội, chế độ chính ủy, thì anh Nguyễn Chí Thanh đã đóng góp công sức lớn lao. Thành tựu đó, đã góp phần tạo nên nhân tố có ý nghĩa chiến lược để chiến thắng trong các chiến dịch lớn, đặc biệt là chiến dịch Điện Biên Phủ. Về sau, tạo cơ sở để xây dựng quân đội anh hùng đánh thắng Mỹ, ngụy, giải phóng miền Nam.

Sau “chiến công vang dội địa cầu”, trở về Hà Nội, năm 1959, Nguyễn Chí Thanh được phong quân hàm Đại tướng Quân đội Nhân dân Việt Nam. Bấy giờ, ông được Văn phòng Trung ương cấp cho ngôi biệt thự sang trọng loại 1 đường Cổ Ngư (nay đường Thanh Niên). Nhưng ít lâu sau, ông chủ động trả lại nhà để Nhà nước sử dụng và dọn về căn nhà nhỏ ở Cửa Đông. Sau đó, Bộ Quốc phòng lại chuyển gia đình ông sang một biệt thự loại 3 khang trang hơn ở phố Lý Nam Đế để tiện việc tiếp khách, nhất là khách nước ngoài. Nhưng chỉ đến năm 1967, khi ông mất thì vợ con ông cũng trả biệt thự này lại cho Nhà nước. Biết chi tiết này để ta cùng hiểu rõ hơn sự thanh liêm của một vị Đại tướng.

Thời kỳ miền Bắc xây dựng

Ngay sau hòa bình lập lại ở miền Bắc, với chiến lược xây dựng quân đội trở nên chính quy hiện đại theo lời dạy của Bác Hồ “… lấy thi đua huấn luyện quân sự làm chính”. Trên cương vị Chủ nhiệm Tổng cục Chính trị, ông đã trực tiếp đến các đơn vị cơ sở để tìm hiểu tâm tư, nguyện vọng của bộ đội. Từ thành tích bắn pháo của Đại đội 2 pháo binh, Sư đoàn, ông đã khái quát thành phong trào thi đua “Ba nhất”: – Kỷ luật và năng suất giỏi nhất; thành tích các mặt đều nhất; số đơn vị giỏi, người giỏi nhiều nhất. Phong trào này, năm 1961 được Ban Bí thư Trung ương Đảng ra Nghị quyết đẩy mạnh trong toàn quân.

Năm 1961, do yêu cầu của công cuộc cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nông nghiệp và cải tạo thương nghiệp, ông được Trung ương Đảng giao phụ trách Ban Nông nghiệp Trung ương. Thời kỳ này, Đại tướng đã lập nên một kỳ tích với các cao trào thi đua “gió Đại Phong”, “sóng Duyên Hải” rất có ý nghĩa thiết thực trong sản xuất. Thực hiện nhiệm vụ này, ông đã đi xuống với dân. Chính từ thực tế này, ông đã nhìn ra nhược điểm của nền nông nghiệp đã hợp tác hóa. Ông phát hiện ra “Có nơi tổ chức nông dân vào hợp tác xã quá ồ ạt mà thiếu sự chuẩn bị về tư tưởng, tổ chức… Công tác quản lý hợp tác xã còn yếu và kém; việc xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật còn ít; dân chủ trong hợp tác xã còn thiếu, thậm chí có cán bộ quản trị độc đoán, thô bạo với xã viên, tư tưởng làm chủ của xã viên chưa cao và việc giáo dục chính trị làm chủ chưa tốt… Nạn lãng phí còn nhiều, cần phải kiên quyết đấu tranh để trừ bỏ tệ tham ô xẩy ra và đang đục khoét một số hợp tác xã…”. Từ đó, ông đã có hướng chỉ đạo sít sao để chấn chỉnh và thúc đẩy phong trào thi đua trong nông nghiệp toàn miền Bắc.

Thời gian này, có nhiều chuyện thú vị về ông được nhiều người nhớ mãi. Lần nọ, có một vị chỉ huy quân đội muốn lội qua suối mà ngại cởi giày liền nhờ một người nông dân công giúp. Qua khỏi suối, vị chỉ huy ấy mới biết người vừa cõng mình chính là cấp trên tối cao: Nguyễn Chí Thanh! Lại có anh lái buôn xách cân đến chợ hỏi mua xương bò. “- Lên xã trên mà mua, trên ấy năm nay mổ bò vô tội vạ!”. Anh lái buôn liền lên xã theo lời chỉ bảo của đồng bào. Cả chủ nhiệm và đảng ủy xã ấy lập tức bị kỷ luật về tội tham ô, vì anh lái buôn ấy chính là Nguyễn Chí Thanh! Hoặc năm 1962, khi Đảng và Chính phủ phát động phong trào thi đua thì nhiều địa phương đã báo cáo láo nhằm phô trương thành tích. Vì vậy khi giáp hạt thiếu lương thực, dân chết đói thì tỉnh không dám báo cáo lên Trung ương. Biết được tình trạng này, ông cùng vài ba cán bộ xuống tận xã kiểm tra. Vẫn bộ quần áo nâu như mọi nông dân bình thường, phái đoàn của Chính phủ đã đến tận nhà kiểm tra từng hủ gạo, nồi cơm… của dân và khi biết có người chết đói thì Đại tướng vội vã về tỉnh kiểm tra kho dự trữ lương thực quốc gia, thấy còn lúa gạo ông ra lệnh xuất cứu đói ngay cho dân. Lãnh đạo tỉnh chần chừ vì “chưa có lệnh của Trung ương”, nhưng ông vẫn cương quyết viết phiếu xuất kho và nói: “ – Tôi hoàn toàn chịu trách nhiệm!”. Hành động giải quyết kịp thời này đã ngăn chận được nạn đói có nguy cơ tràn lan… Bà con nông dân rất phấn khỏi và rủ nhau đến phà Hàm Rồng để cám ơn và cũng để xem mặt ông Đại tướng. Lúc ấy, nhìn thấy anh Chất bảo vệ của ông dáng cao to, oai phong lẫm liệt nên họ lầm tưởng đó là Nguyễn Chí Thanh! Nhờ thế, ông mới thoát khỏi đám đông, kịp lên xe về Hà Nội.

Miền Nam chống Mỹ (1964–1967)

Trong khi miền Bắc đang từng bước xây dựng thì tại miền Nam, đế quốc Mỹ đã hà hơi tiếp sức để dựng lên thây ma Ngô Đình Diệm để đàn áp phong trào kháng chiến, phản bội lại lợi ích của dân tộc. Khi xâm lược Mỹ tiến hành “Chiến tranh đặc biệt” với phương thức sử dụng lực lượng phản cách mạng tại chỗ cộng với sự cung cấp đến mức cao nhất phương tiện chiến tranh hiện đại thì Đại tướng Nguyễn Chí Thanh được lệnh vào Nam, giữ chức Bí thư Miền, thay mặt Bộ chính trị trực tiếp chỉ đạo cuộc cách mạng miền Nam. Trước lúc lên đường, tháng 9/1964, nhà thơ Tố Hữu có tặng ông bài thơ Tiễn đưa – trong có hai câu thơ hay mà đến nay nhiều người còn nhớ:

Dẫu một cây chông trừ giặc Mỹ, Hơn nghìn trang giấy luận văn chương.

Tại Căn cứ Trung ương Cục, Đại tướng đã cùng Bộ chỉ huy Miền thường xuyên theo dõi, nắm bắt kịp thời mọi động thái mới của địch trên chiến trường kịp thời đề ra chủ trương, biện pháp. Trước những đòn sấm sét của quân dân “thành đồng Tổ quốc”, đế quốc Mỹ phải tung quân viễn chinh vào miền Nam. Tháng 2/1965, những đơn vị đầu tiên lính thủy đánh bộ Mỹ đổ bộ lên Đà Nẵng. Đến cuối năm 1965, Mỹ sử dụng trên chiến trường miền Nam hơn 20 vạn quân Mỹ và chư hầu cùng với trên nửa triệu quân ngụy! Trước tình thế này hàng loạt câu hỏi được đặt ra: Phải chăng tương quan lực lượng đã thay đổi mà Mỹ ngụy đang giữ ưu thế? Phải chăng ta phải thay đổi phương châm chỉ đạo, không thể tiếp tục tấn công mà phải quay về phòng ngự? Mỹ có hỏa lực mạnh, cơ giới nhiều, biên chế chế đầy đủ, ta đánh bằng cách nào? Đại tướng Nguyễn Chí Thanh vẫn giữ quan điểm mà trong bài viết từ tháng 7/1963 đăng trên tạp chí Học tập “Ai sẽ thắng ai ở miền Nam Việt Nam?”, ông đã khẳng định: “Chúng ta không có ảo tưởng đối với Mỹ. Chúng ta không khinh thường đối tượng chiến đấu khá mạnh và khá xảo quyệt là đế quốc Mỹ. Nhưng chúng ta không sợ Mỹ”.

Chính từ ý chí kiên quyết “không sợ Mỹ” mà từ thực tế của chiến trường miền Nam, ông đã xây dựng được quyết tâm đánh Mỹ, phát huy chủ nghĩa anh hùng cách mạng trong các phương châm chỉ đạo tác chiến độc đáo như “Tìm Mỹ mà đánh, tìm ngụy mà diệt”, “Bám thắt lưng Mỹ mà đánh”, lập các “Vành đai diệt Mỹ”, cổ vũ phong trào thi đua “Dũng sĩ diệt Mỹ”… Ông đã khẳng định: “Kinh nghiệm thực tế chỉ rõ rằng, không có chiến tranh du kích thì không thể có tác chiến tập trung. Chiến tranh du kích là cái bửu bối số một của bất cứ cuộc chiến tranh giải phóng nào. Ở miền Nam, ta đánh với chiến tranh thực dân mới của Mỹ, chiến tranh du kích lại càng có một địa vị chiến lược hết sức quan trọng và căn bản”. Với bản lĩnh của nhà quân sự lão luyện, một mặt phát huy kinh nghiệm đấu tranh chính trị, quân sự phong phú của dân quân miền Nam thì ông cũng quyết tâm xây dựng những quả đấm thép chủ lực của quân giải phóng để thắng Mỹ ngụy từ những trận đầu. Tháng 5/1965, tại Đại hội Anh hùng, Chiến sĩ thi đua các Lực lượng Vũ trang Giải phóng miền Nam lần thứ nhất, Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã đề ra đường lối chiến tranh nhân dân của cách mạng miền Nam trong đó có những điểm chiến lược quan trọng như: “Phát động toàn dân tham gia tích cực cuộc chiến tranh cách mạng, làm cho cuộc chiến tranh cách mạng của chúng ta càng ngày càng có tính chất nhân dân rộng rãi, sâu sắc, quyết liệt và bền bĩ” v.v…

Những ngày cuối đời

Sau năm tháng lăn lộn ở tuyến đầu, tháng 6/1967 ông nhận được điện của Bộ Chính trị triệu tập ra Bắc báo cáo tình hình miền Nam và nhận chỉ thị mới. Trước ngày vào lại chiến trường, thì đột ngột Đại tướng Nguyễn Chí Thanh mất. Đại tá Nguyễn Thị Bảo – bác sĩ thuộc Ban Quân y thủ trưởng sức khỏe các gia đình có cán bộ đi B thời đó, sau này cho biết những giây phút cuối cùng của ông: “Còn một ngày trước khi lên đường mà bao nhiêu công việc dồn dập: trưa ngày 5/7/1967, ăn cơm chia tay với Bác Hồ, nghe Bác dặn dò thêm, chiều đồng chí Võ Nguyên Giáp mời ăn cơm tối và trao đổi thêm nhiệm vụ. Sau bữa cơm về nhà muộn, anh Thanh còn làm việc với đồng chí Song Hào, Lê Quang Đạo, Phạm Ngọc Mậu, rồi đồng chí Vũ Tuân bên văn phòng Trung ương sang làm việc thêm. Khoảng 11 giờ đêm anh mới được nghỉ và bắt đầu nói chuyện với chị Cúc (vợ của Đại tướng), dặn dò các con trước khi đi xa. Anh Thanh còn nhắn bác Diệp nấu ăn lên dặn: Chuẩn bị cho hai cốc cà phê vào lúc 4 giờ sáng (6/7/1967), một cốc cho anh và một cốc cho bác sĩ Thuận đi theo anh vào B.

Gần 1 giờ sáng anh mới đi ngủ. Khoảng 3 giờ sáng, anh Chắt bảo vệ đến nhà dưới đánh thức bác sĩ Thuận – người phụ trách sức khỏe riêng của anh Thanh, thấy anh Thanh kêu đau tức ngực và nóng ran trong bụng như cào xé, bác sĩ Thuận đo huyết áp: 140/80; mạch 80 và khuyên anh nằm yên để mời kíp cấp cứu Viện Quân y 108 đến nhà. Anh Thanh bảo bác sĩ Thuận đi gọi điện báo cáo Trung ương tình trạng anh bị ốm bất ngờ, bác sĩ Thuận đưa anh lên ô tô. Trên xe với tư thế nằm, anh vẫn nói chuyện với anh Chắt bảo vệ và anh Thuận. Xe đến phòng cấp cứu Viện Quân y 108, bác sĩ Thuận đề nghị đưa cáng ra khiêng anh vào giường. Anh Thanh đùa: “-Chú Thuận chúa hình thức, quan trọng hóa”, rồi anh ngồi dậy đi thẳng vào buồng cấp cứu. Ở đó đã có Viện trưởng Nguyễn Thế Khánh và bác sĩ Phạm Tử Dương ra đón ngay. Anh Thanh vừa ngồi xuống giường, rồi nằm xuống, tự nhiên anh phát ra một tiếng “ặc”, mặt và toàn thân tím ngắt. Các bác sĩ xoa bóp ngoài lồng ngực, tiêm các thuốc trợ tim, điều trị cấp cứu tích cực nội khoa, nhưng không kết quả. Thế là các nhà chuyên môn phải chuyển anh lên phòng mổ, can thiệp ngoại khoa mở rộng lồng ngực, kích thích trực tiếp vào tim do giáo sư Phạm Gia Triệu và bác sĩ Nguyễn Thị Ngọc Toản thực hiện. Ngay sau đó, các đồng chí Vũ Văn Cẩn, Cục trưởng Cục Quân y, đồng chí Bộ trưởng Bộ Y tế Phạm Ngọc Thạch, giáo sư Tôn Thất Tùng và bao nhiêu chuyên gia tim mạch trong và ngoài quân đội đến đầy đủ để tham dự cấp cứu anh. Nhưng tim anh vẫn chỉ co bóp rời rạc. Đến 9 giờ sáng ngày 6/7/1967 tim anh ngừng đập và anh đã tắt thở hoàn toàn, với chuẩn đoán cuối cùng: nhồi máu cơ tim (gây cơn đau ngực, lan xuống động mạch chủ bụng) gây chết đột ngột (mort subite).

Tưởng niệm

Cái chết của Đại tướng Nguyễn Chí Thanh đã gây xúc động lớn trong toàn quân, toàn dân. Nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của ông, Giáo sư Vũ Khiêu có viếng câu đối đã nói lên được tài đức của một vị tướng mẫu mực:

Định hướng ưu dân, tam đại hồng kỳ hưng quốc vận; Quyết ngôn thắng địch, bách vô giá bảo chấn quân uy.

dịch:

Theo hướng lo dân, ba ngọn cờ hồng tài trị nước; Quyết tâm thắng địch, một lời sấm dậy thế ra quân.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 10 – Danh nhân chính trị, Nxb Trẻ.  

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Chí Thanh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)