Tuổi thơ của Trần Cao Vân
Chiều. Nắng nhạt. Những sợi nắng như tơ mềm còn vương víu trên ngọn cau. Hương cau thơm dịu dàng trong gió. Trong nhà của cụ Cử, lũ học trò tóc còn để chỏm đang học bài râm ran. Bỗng từ ngoài sân có tiếng chó sủa vang. Cụ Củ dừng đọc sách, ngước mắt nhìn ra thấy có người đàn bà hàng xóm đang bước vào nhà. “Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy” nên có mớ hành hương loại tốt, bà sang biếu thầy để làm giống.
Không dám nhìn thẳng vào mặt thầy, bà khiêm tốn thưa:
Bẩm cụ, có người nói hành này còn non mà tàn sóm, e giống khổng mạnh. Mong cụ xá lỗi mà nhận giúp.
Nghe người quê mùa, thất học nói thế. Cụ Cử bật cười. Bởi lẽ, khi bà ấy nói “khổng” là do cách phát âm tiếng “không” của người Quảng Nam, lại đi liền với chữ “mạnh” thành ra cứ như đang nói đến các cụ Khổng Tử, Mạnh Tử! Lúc người đàn bà ra về, cụ Cử thấy câu nói hay hay nên ra lấy làm vế đối và hứa sẽ thưởng cho cậu học trò nào đối lại được. Uống xong bát nước chè xanh Tiên Phước ngọt lịm, cụ hắng giọng đọc:
Hành tàn giống không mạnh
Cái khó của vế đối này là người nghe có thể hiểu theo hai nghĩa: “hành tàn sớm là do giống không tốt, không mạnh”; hoặc hiểu theo cách phát âm thì “hành tàn” cũng là “hành tàng”, ý muốn nói đời người lúc hành (động) hay tàng (thoái lui) đều phải theo phép đạo Khổng Mạnh.
Sau khi thày dứt lời, các cậu học trò tụ ba tụ bảy bàn tán, vắt óc tìm từng chữ thích hợp… Cụ Cử ngẫm nghĩ, lần này không biết có phải đứa học trò mồ côi mẹ đối lại trước nhất không? Đúng vậy, chỉ giây lát sau, cậu học trò mặt vuông, trán cao, đôi mắt sáng đã đứng dậy xin đối lại vế đối của thầy. Cậu đọc rành rõi:
Cải hóa con càn khôn
Vế đối lại rất thông minh, có thể hiểu theo hai nghĩa: “(rau) cải đến lúc nó “hóa”, tức nảy nở thì cây ngày càng lớn; bởi “càn khôn” còn được hiểu theo cách phát âm là “càng khôn”; hiểu theo cách thứ hai thì làm người cần phải biết thay đổi (cải hóa) để tiến hóa theo biến dịch của càn khôn, tức theo vạn vật trong vũ trụ.
Nghe đối lại như thế, cụ Cử mừng lắm, biết cậu học trò này về sau sẽ là bậc phi thường trong xã hội. Dịp khác, để xem suy nghĩ của mình có đúng không, nhân một đêm trăng rằm, trong lúc các học trò đang quay quần trước sân nhà để vui cổ trung thu, cụ thách đối:
Đèn treo rọi sáng bốn phương nhà
Lần này, không ngờ thầy vừa đọc xong, thì cậu học trò này đã lên tiếng:
Trăng tỏ khắp soi muôn cụm núi.
Tuy chưa phải là câu đối hay, và lạ nhưng khi cậu đối lại ngay tức là trong tâm hồn ấy đã nung nấu sẵn một ý chí lớn… Lại một lần khác, thầy lại ra đầu để bài thơ “Vịnh Cối xây lúa” để xem thử các học trò mình có chí hướng như thế nào? Một lần nữa, cậu học trò thông minh ấy đã khiến thầy phải khâm phục. Bài thơ như sau:
Khen ai xưa đã khéo trêu bày,
Bạn cối này ra vốn để xay.
Gốc “Tí” kiền khôn trồng giữa rốn,
Cán “Dần” tỉnh đấu vận trong tay.
Nghiến răng tựa sấm ỳ ẩm dậy,
Mở miệng đường mưa lác đác bay.
“Tứ trụ” dưới nhờ chân đế vững,
Cùng trên phụ bật sẵn hai tay.
Cụ Cử càng tin suy nghĩ của mình là đúng, vì bài thơ này vận dụng câu trong “Đạo thư” của Khổng Tử: “Thiên khai u Tý, địa tịch ư Sửu, nhân sinh ư Dần”, nghĩa là gốc “Tý” chỉ ngôi trời, cán Dần chỉ người. Ý nói làm mọi việc, nếu ý trời và lòng người cùng hợp lại thì thành tựu. Còn “tứ trụ” có thể hiểu, triều đình vũng là nhớ bày tôi ở dưới và bản thân mình nguyện sẵn sàng phò tá.
Xuất thân và những biến động đầu đời
Cậu học trò xuất sắc ấy tên là Trần Công Thọ, con trai của cụ ông Nguyễn Công Trực và cụ bà Đoàn thị, sinh năm 1866 người làng Tư Phú, tổng Hòa Đa, phủ Điện Bàn (Quảng Nam), lúc lớn lên khi đi thi lấy tên Trần Cao Đệ, lúc vào chùa lấy pháp danh là Như Ý, khi ra hoạt động cách mạng đổi tên Trần Cao Vân, biệt hiệu Hồng Việt và Chánh Minh, biệt danh Bạch Sĩ.
Năm 1882, lúc vừa 17 tuổi, với biết bao hăm hở trong đời, Trần Cao Vân nao nức chờ ngày lai kinh ứng thí, ước mơ đậu cao để sau này đem tài năng ra giúp nước như biết bao kẻ sĩ thời ấy. Nhưng chẳng may, sắp đến ngày vượt đèo Hải Vân ra Huế thi thì Trần Cao Vân bị bệnh nặng, không thể lai kinh ứng thí.
Trong thời gian này có một sự kiện đã làm thay đổi suy nghĩ của ông, đó là lúc các nhân sĩ Quảng Nam tổ chức trọng thể đưa thì hài Tổng đốc Hoàng Diệu từ Hà Nội về an táng tại làng Xuân Đài. Cái chết oanh liệt của ngài đã khiến bao người rơi lệ, những muốn cầm gươm mà xông ra chiến tuyến đối mặt với quân thù để rửa nhục cho Nước!
Sau khi thành Hà Nội thất thủ thì tên tướng giặc Henri Rivière tiếp tục xua quân đánh chiếm thành Nam Định… Giữa lúc việc nước đang rối như canh hẹ thì vua Tự Đức băng hà, rồi việc đưa người lên kế vị cũng thay đổi chóng vánh như lật bàn tay! Đã thế, ngày 25/8/1883, triều đình Huế và thực dân Pháp lại ký Hiệp định Hòa bình gồm 27 điều khoản, trong đó Triều đình Huế thừa nhận và chấp nhận Nam kỳ là thuộc địa của Pháp; thừa nhận và chấp nhận nền bảo hộ của Pháp tại Trung kỳ và Bắc kỳ! Rồi năm 1885, kinh thành Huế thất thủ, vua tôi Hàm Nghi rút chạy và phát động phong trào Cần vương chống Pháp.
Bước vào con đường cứu nước
Đứng trước những biến động lớn của thời cuộc, ai còn lòng dạ nào mà cắm mặt xuống những trang sách của thánh hiền? Nhưng phải làm gì để cứu nước? Noi gương Tổng đốc Hoàng Diệu, Trần Cao Vân quyết chí thực hiện chí lớn.
Trên bước đường đi tìm người cùng hội cùng thuyền, ông đã dừng chân tại chùa Cổ Lâm – một trong những ngôi chùa cổ xây dựng vào năm 1687, tại xã Đại Đồng, huyện Đại Lộc (Quảng Nam)/
Chùa Cổ Lâm và quá trình gây dựng lực lượng
Tại đây ông đã gặp một người tâm huyết cùng chí hướng với mình là Thừa Tô – con trai của cai tổng Trưng. Một người giỏi văn, một người giỏi võ đã cùng nhau bàn bạc kế hoạch chiêu tập chiến hữu để mưu việc lón.
Để che mắt kẻ thù, ông xuống tóc đi tu, ngày thường xem quẻ bói tình duyên, gia sự hoặc hướng dẫn cho bá tánh hướng xây nhà, đặt mỗ mả v.v… Thế là, ngôi chùa vốn tĩnh mịch xưa nay bỗng trở nên tấp nập khách thập phương. Nhờ thế ông và các đồng chí có dịp tiếp xúc với mọi người, qua đó gieo mầm yêu nước, giác ngộ tinh thần cách mạng cho
Học thuyết Trung thiên dịch và tư tưởng của Trần Cao Vân
Không giống như những sĩ phu thời ấy, sẵn sàng xông vào hòn tên mũi đạn, xả thân vì nghĩa lớn theo tiếng gọi Cần vương, còn Trần Cao Vân lại chủ trương khác. Với một bản lĩnh phi thường, ông đã lao tâm khổ tứ tìm kiếm một học thuyết để cứu nước.
Ông chủ trương dùng trí tuệ nhằm giải thoát dân tộc và bắt đầu nghiên cứu Kinh dịch và để ra học thuyết “Trung thiên dịch”. Trong tác phẩm này, Trần Cao Vân xây dựng trên căn bản chữ “Trung” nhằm đề cao vai trò con người giữa Trời – Đất. Học thuyết này gây tiếng vang lớn trong dư luận thời ấy và đến tận ngày nay, dù nó đã thất truyền, nhưng vẫn thu hút sự quan tâm của nhiều người muốn tìm hiểu.
Nhà văn Hoàng Phủ Ngọc Tường khi nghiên cứu về Kinh dịch cho biết:
Ngoài những ý tưởng thấp thoáng qua một số bài thơ lưu truyền tản mạn, Trần Cao Vân có để lại một bài thơ nguyên vẹn, hàm súc một cách kỳ lạ, về mối tương quan giữa Con Người và Trời – Đất trong dòng sinh hóa của vũ trụ.
Nguyên văn bài thơ như sau:
Vịnh Tam Tài
Trời Đất sinh
Ta có ý không?
Chưa sinh
Trời Đất có Ta trong.
Ta cùng
Trời Đất ba ngôi sánh,
Trời Đất in ta một chữ đồng.
Đất nứt
Ta ra Trời chuyến động,
Ta thay
Trời mở Đất mênh mông.
Trời che Đất chở
Ta thong thả,
Trời – Đất – Ta đây đủ hóa công.
Chính sức dồn nén và bùng nổ của ý tưởng quanh ba phạm trù căn bản Trời – Đất – Người trong bài thơ này đã khiến tôi nghĩ rằng, Vịnh Tam tài nếu chưa phải là bản tuyên ngôn toát yếu thì cũng là chương mở đầu trong Trung thiên dịch. Dịch có nghĩa là biến động. Sáu mươi bốn quẻ dịch chỉ ra sáu mươi bốn thời biến động trong việc đời, Nguyễn Hiến Lê giới thiệu Kinh dịch (chủ yếu là diễn giảng Phan Bội Châu) đã nói hai điều cốt yếu về bộ kinh này. Một là, cả bộ Dịch chỉ tóm lại trong một chữ Thời. Thứ hai, mỗi quẻ của Kinh dịch đều khuyên bảo về đức này hoặc đức khác, nhưng tổng hợp lại chỉ gồm hai chữ Trung Chính. Vậy Kinh dịch dạy cho người ta phải giữ được “Trung Chính”: biết nắm vững cái bất biến để đáp ứng với vạn biến trong cõi đời.
“Trong bài Vịnh Tam tài, Trần Cao Vân không nhấn mạnh về chữ “Thời”, mà dồn tất cả sự chú trọng vào nhân tố “Con Người”: Con người như một chủ thể tham dự vào sự tiến hóa bằng hành động, và hành động theo kiểu “tự cường bất tức”, bởi vì Thiên – Địa – Nhân hợp thành một chủ thể hành động gọi là “Hóa công”. Tổng hợp cả Tiên Thiên và Hậu Thiên để tạo lập cơ sở triết học hành động thúc đẩy Con Người dấn thân vào giữa vùng xoáy của biến dịch (ở đây chính là lịch sử); đấy có lẽ là ý tưởng mới mẻ của Trung thiên dịch mà Trần Cao Vân tìm kiếm một cách cấp thiết, nhằm giải quyết những bức xúc của trách nhiệm kẻ sĩ trước đất nước và dân tộc…
Xét vị trí Con Người đứng giữa Trời và Đất, tôi nghĩ rằng Trung thiên dịch chính là Nhân dịch. Dù chưa hoàn tất bản thảo, qua bài thơ Vịnh Tam tài, chúng ta vẫn nhận rõ ở Trần Cao Vân diện mạo của một nhà tư tưởng lớn, với một Kinh dịch Việt Nam mang tư tưởng nhân bản chưa từng có. Đó cũng chính là niềm ngưỡng vọng đầy đau đớn của chính cụ Huỳnh Thúc Kháng khi khóc vĩnh biệt tác giả Thiên trung dịch:
Văn trước,
Hy sau vẫn kinh này
Riêng giữa “Trung thiên” đứng một tay
Học thuyết đem nhuộm bầu tâm huyết
Trời Nam dịch mới tiếc không thẩy
Thế nhưng, những việc làm của Trần Cao Vân và các đồng chí của ông không thể che mắt được kẻ thù mãi. Thực dân Pháp đánh hơi được và khủng bố. Tháng 7/1891, chùa Cổ Lâm bị địch ra lệnh khám xét, thanh lọc các sư ở trong chùa. Trước tình thế nguy hiểm này, để đánh lạc hướng kẻ thù, Trần Cao Vân phải từ biệt chùa Cổ Lâm trở về làng Đại Giang.
Hoạt động tại Bình Định – Phú Yên
Sau nhiều ngày thăm dò ý kiến của các đồng chí, năm 1892, vợ chồng ông tìm đường vào Bình Định. Ngoài nghề dạy học, ông còn đóng vai người thầy địa lý, đi xem đất cho thiên hạ để dò xét, tìm kiếm người đồng chí hướng.
Bấy giờ, tại huyện Phù Cát và các xã nam huyện Phù Mỹ (Bình Định) đang có bệnh ôn dịch. Các nhà sư trong chùa Đá Bạc ở thôn Chánh danh đã dùng thuốc Nam để chữa bệnh cho dân. Tiếng lành đồn xa. Người đến xin thuốc đông như trẩy hội. Trần Cao Vân cũng tìm đến, nhưng chưa lần nào ông được gặp vị sư trụ trì. Ngày nọ, nhân thấy trước bàn thờ Phật có cây bút lông, ông liền viết lên trên mỗ năm chữ: “Tất giả chánh danh hồ?”. Câu này rút từ sách Luận ngữ của Khổng Tử, có nghĩa: (việc các ông làm) tất chính danh ư?
Trong số các đệ tử tại chùa quan tâm nhất đến câu này là ông Võ Trứ, một nho sinh yêu nước, từng tham gia phong trào khởi nghĩa của anh hùng Mai Xuân Thưởng, sau khi phong trào bị đàn áp, ông vào chùa xin làm đệ tử của Hòa thượng chùa Đá Bạc. Khi được đọc câu này, ông nghĩ ngay đến Trần Cao Vân, là người bấy lâu nhân dân trong vùng đã đồn đãi về tài bói quẻ lục nhâm thái ất, xem tử vi…. Vì thế, ông sai môn đệ đi tìm cho bằng được người mà từ lâu mình đã từng ngưỡng mộ.
Lúc Võ Trứ diện kiến Trần Cao Vân, cả hai gặp nhau như rồng lên mây, cá xuống nước, tâm đắc như tri kỷ vong niên, thường trò chuyện không dứt. Dần dần cả hai ông thống nhất về việc xây dựng lực lượng chống Pháp. Ý định này được các vị chân tu trong chùa ủng hộ.
Tuy nhiên, về chủ trương hành động sau nhiều lần thảo luận vẫn chưa đi đến thống nhất. Ông Võ Trứ chủ trương dùng yếu tố bất ngờ tấn công địch để giành thắng lợi; còn Trần Cao Vân cho rằng thời cơ chưa đến, không chỉ tập hợp tầng lớp tu sĩ mà còn phải tập hợp được đông đảo quần chúng, phải đúc khí giới, phải tìm địa hình hiểm trở xây dựng căn cứ địa nếu bị giặc đàn áp thì có chỗ thoái lui v.v…
Nhưng trước mắt, theo kế hoạch đã phân công, Võ Trứ được tổ chức phái vào tỉnh Phú Yên vận động quần chúng. Phương thức tuyên truyền của ông là phát thuốc, bùa trị bệnh, xem quẻ tốt xấu… cho dân để qua đó giác ngộ tinh thần ái quốc. Với cách làm này, ông phát triển tổ chức nhanh chóng, nhưng lực lượng nghĩa quân lại được kết nạp dễ dãi, do đó, đã lộ vài sơ hở khiến mật thám Pháp ít nhiều đã đánh hơi được việc làm táo bạo này.
Sau khi công việc tiến hành đã tạm ổn, ông cho mời Trần Cao Vân vào Phú Yên để trù hoạch cuộc bạo động.
Nhân ngày rằm tháng bảy năm 1897, tại ngôi chùa Đá Trắng thuộc phủ Tuy An, cách sông Cầu độ hai mươi cây số, lợi dụng khách thập phương ùn ùn kéo đến chùa chiêm bái nên các lãnh tụ trong cuộc bạo động đã nhanh chóng tổ chức một cuộc họp bí mật. Sau cuộc họp này, các nghĩa quân được lệnh rèn gươm, đúc súng sẵn sàng chiến đấu…
Khởi nghĩa Võ Trứ và những hệ lụy
Trong đang lúc ẩn náu chờ thời cơ thuận lợi, thì tại Phú Yên lại hạn hán, mất mùa, nhân dân đói kém, thiếu tiền đóng sưu thuế nên họ bị bắt bớ đàn áp dữ dội. Võ Trứ suy nghĩ: Lúc này lòng dân đang căm giận bọn phong kiến đế quốc, nếu không tiến hành cuộc bạo động thì còn chờ lúc nào nữa? Hơn nữa, nếu không ra tay sớm thì không khéo những người bị bắt không chịu nổi đòn tra tấn sẽ làm lộ ra âm mưu đang tiến hành.
Thế nhưng, đường sá xa xôi làm sao thông báo kịp thời để lực lượng các nơi cùng nổi dậy?
Trong tình thế tiến thoái lưỡng nan đó, cuối tháng 8/1898, Võ Trứ đột ngột đơn phương quyết định khởi binh. Một đêm trăng sáng, dưới bóng cờ “Minh Trai chủ tể”, Võ Trứ ngồi trên ngựa đốc suất dân quân, dàn binh bố trận cả ba hướng đồng loạt tấn công vào tỉnh lỵ Phú Yên.
Quyết định hấp tấp này, khiến dân quân các tỉnh lân cận bối rối, không kịp chuẩn bị nên không thể phối hợp như kế hoạch đã định trước, vì thế, cuộc nổi dậy tại Phú Yên trở nên đơn độc.
Nghĩa quân của Võ Trứ khi ra trận ngoài vũ khí là rựa giáo mác, cung nỏ thì họ còn đeo một lá bùa hộ mệnh, vì tin rằng đạn không bắn xuyên qua người được! Việc dùng bùa phép khi xông trận, ta thấy sau này, năm 1913, khi lãnh tụ Phan Xích Long tổ chức cuộc khởi nghĩa tại Sài Gòn cũng thực hiện tương tự. Điều này cho thấy, khi đối đầu với vũ khí hiện đại của phương Tây, những người yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX ngoài bầu nhiệt huyết còn tin vào sự phù hộ của thần thánh!
Nhưng súng đạn bất chấp bùa phép. Nghe tin có cuộc bạo loạn, công sứ Phú Yên cho quân dàn hàng ngang nã đạn như vãi thóc! Lớp đi trước trúng đạn, lớp đi sau xông lên cũng ngã xuống, chết như rạ! Nghĩa quân đâm ra hoang mang vì bùa phép không linh nghiệm, họ hoảng sợ quay lui khiến đội hình trở nên rối loạn! Chỉ trong một thời gian ngắn, dân quân quả cảm nhưng ô hợp, đã bị toán lính tập tinh nhuệ đánh tan rã, và tàn sát thảm khốc.
Các nhân vật lãnh đạo, trong đó có Võ Trứ và hòa thượng Từ Quang lần lượt bị bắt giữ. Để tránh tổ chức bị phá vỡ toàn diện, các cơ sở dân quân tỉnh lân cận quyết định tự giải tán. Các nhân vật lãnh đạo phân tán khắp nơi che dấu tung tích.
Trần Cao Vân được đệ tử đưa lên miền thượng du trốn trong động Bà Thiêng. Khi bị bắt, dù bị tra tấn thừa sống thiếu chết, nhưng người anh hùng Võ Trứ trước sau chỉ khai một lời:
Trứ là người giữ ấn Ngũ Công Quan Âm nên chỉ một mình Trứ là người chỉ huy. Tất cả các đồ đảng đi theo Trứ là do Trứ xúi giục!
Toàn bộ giấy tờ tịch thu tại nhà Võ Trứ, giặc Pháp thu được nhiều tài liệu, phần mở đầu ghi “Chánh Minh tâm giám” và cuối có ký tên “Chánh Minh”, nhưng chúng không thể biết đây là biệt hiệu của Trần Cao Vân, vì Võ Trứ không chịu hé răng khai lấy nửa lời.
Bí mật đó, được Võ Trứ mang xuống tuyển đài, khi mà ông cùng các đồng chí hiên ngang bước ra pháp trường chịu án chém! Nhờ vậy, sau khi trốn ở động Bà Thiêng quay về, Trần Cao Vân bị bắt nhưng giặc không thể tìm ra được chúng cứ gì cụ thể để kết tội ông!
Những lần bị bắt giam
Sau mười một tháng tù, Trần Cao Vân tiếp tục sống bằng nghề dạy học và lại tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện học thuyết “Thiên trung dịch”. Nhân dân hai tỉnh Bình Định, Phú Yên đi theo thuyết này rất đông. Trong nhà của các môn đệ đều có treo một tờ giấy viết sáu chữ, ở giữa “Trung thiên”, trái “Tiên thiên” và phải “Hậu thiên” và họ thường kéo đến nhà Trần Cao Vân để nghe ông giảng giải về thuyết này. Nhà cầm quyền âu lo khi nhận ra điều bất thường này, ghép ông vào tội viết những điều xằng bậy để xúi dân làm loạn! Chúng ra lệnh tịch thu các tài liệu liên quan đến “Thiên trung dịch” và bắt giam vợ chồng Trần Cao Vân cùng các đồ đệ thân tín.
Dù bị tra khảo thảm khốc tại sao lại viết “loạn thư yêu ngôn” Thiên trung dịch, nhưng trước sau như một, Trần Cao Vân chỉ nói:
Ngày nọ, tôi đến viếng Ngũ Hành Sơn ở Quảng Nam, gặp một tiên ông đạo cốt đang thong thả dạo chơi, đi sau cụ là một thanh đồng. Trên tay của cụ, tay phải cầm hoa sen, tay trái cầm ba quyển cổ thư. Tôi tò mò bén gót theo cụ, giây lát sau thấy cụ ngồi trên tảng đá, nét mặt nghiêm trang, tôi liền đến xin thọ giáo. Cụ đã đưa cho tôi ba quyển “Thiên thư”…
Không khai thác được gì thêm, quan Bố chính cáu tiết, viết án tuyên tử hình gửi ra Huế xin triều đình phê chuẩn! Nhưng các đại quan nhận thấy phạm nhân chưa phải chịu đến mức án ấy, chỉ kết án ba năm tù giam khổ sai; riêng cha mẹ ở quê nhà cũng bị phạt 40 quan tiền vì không giáo dục con.
Ông nhận bản án với nụ cười khinh bỉ và ứng khẩu đọc hai câu thơ:
Một lỗ cùm xây vòng tạo hóa;
Hai vai gông nặng gánh kiền khôn.
Ngồi tù một năm tại Bình Định, ông bị đưa về nhà tù Quảng Nam giam thêm hai năm nữa. Gông xiềng và bạo lực không khuất phục được ý chí của bậc ái quốc. Mãn hạn tù, Trần Cao Vân trở về nhà và tiếp tục liên hệ với những người cùng chí hướng.
Phong trào chống Pháp đầu thế kỷ XX và Côn Đảo
Lúc này, công việc tổ chức lực lượng chỉ mới bước đầu, chưa vào đâu thì ngày 11/3/1908, tại huyện Đại Lộc (Quảng Nam) đã nổ ra cuộc biểu tình vĩ đại chống sưu cao thuế nặng. Ảnh hưởng của cuộc biểu tình này thật to lớn, nó đã lan vào Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên và dội ra cả Hà Tĩnh, Nghệ An…
Kế tiếp ngày 27/6/1908, đảng Nghĩa Hưng của lãnh tụ Đề Thám đã phối hợp với anh em bồi bếp, binh lính người Việt thuộc trung đội công nhân pháo thủ Hà Nội làm nên sự kiện “Hà Thành đầu độc” rúng động trong giới cầm quyền!
Hoảng sợ trước tinh thần nổi dậy của nhân dân, thực dân Pháp đã đàn áp tàn khốc. Dù không có chứng cớ rõ rệt, nhưng thực dân Pháp vẫn biết đứng sau các vụ bạo loạn này là ai. Do đó, chúng đã bắt hàng loạt các nhà duy tân, các bậc trí thức tống giam ngoài Côn Đảo.
Trần Cao Vân bị bắt lại trong trường hợp này, vì chúng nghi ngờ ông là một trong những người có nhúng tay xúi giục. Ngày tháng ở tù, có làm bài thơ nói lên khí phách phận làm trai (Lâm Quang Thự dịch):
Hỏi sao ta lại đến Côn Lôn?
Cửa ngục mờ trông sóng biếc dồn.
Nước mất thù này trai chưa trả,
Cha già còn đó hiếu không tròn.
Biển đưa tin cá trao tâm huyết,
Trời nổi tăm nghê tỉnh mộng hồn.
Nhớ lại Lạc Hồng công dựng nước,
Thể thân còn có có giang sơn.
Sau sáu năm tù ở “địa ngục trần gian”, Trần Cao Vân được trả tự do. Chao ôi! Thời gian vùn vụt trôi qua. Mới ngày nào đây, vừa mới ngoài 20 xuân đưa vợ vào Bình Định, đã trải qua bao sóng gió của cuộc đời, thoáng chốc nay đã gần tuổi “tri thiên mệnh” mà chữ hiếu vẫn chưa trả xong! Ra tù, Trần Cao Vân chỉ phụng dưỡng cha già vỏn vẹn dăm ngày thì phải tiễn cha về suối vàng! Giữa lúc tình nhà đang ngổn ngang, nhưng nợ nước khiến ông không thể ngồi yên.
Hôn nhân và cuộc sống gia đình
Lúc bịn rịn chia tay, vì quá yêu mến nhân cách và học thức của Trần Cao Vân nên ông Thừa Tô quyết định gả em gái mình cho bạn. Đó là cô Võ Thị Quyên – mà mọi người quen gọi là cô Ba Bàn, sinh năm 1868, vốn là con một gia đình hào phú nên cha mẹ rất cưng chiều. Dù ngoài 23 tuổi, nhưng “tường đông ong bướm đi về mặc ai”, gia đình còn đợi nơi môn đăng hộ đối. Do đó, khi ông Thừa Tô đặt vấn đề sẽ gả cho Trần Cao Vân – một thư sinh không đỗ đạt gì – thì bà mẹ cương quyết cự tuyệt. Ông Thừa Tô phải hết lời năn nỉ, thuyết phục mẹ, cuối cùng mới được chấp thuận.
Kết thúc năm tháng ở chùa Cổ Lâm, ông có lưu lại bài thơ:
Chí quyết tan bồng vỡ bốn phương,
Chông nằm chỉ để ghé râu vương.
Ba thù quyết trả đền ơn trọng,
Một giận mong ra gỡ tiếng ương.
Nợ nước đã toan tròn nghĩa vụ,
Tình nhà đành gác nỗi tư lương.
Nam mô nguyện trả xong rồi nợ,
Mối thánh đem về cõi Hạ, Thương.
Cưới vợ xong, Trần Cao Vân đưa vợ về làng Đại Giang, sống bằng nghề dạy học. Tuy nhiên, do trong lòng vẫn canh cánh nên ông luôn nghĩ đến việc tìm đến một vùng rừng núi, địa thế hiểm trở, lúa gạo nhiều, hội đủ những điều kiện phát triển và tập hợp lực lượng kháng chiến.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.