Khái quát
Cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 là một trong những cuộc khởi nghĩa vũ trang tiêu biểu của phong trào yêu nước Việt Nam đầu thế kỷ XX. Đây là cuộc nổi dậy có sự phối hợp giữa binh lính khố xanh với các chính trị phạm bị giam giữ trong nhà lao Thái Nguyên, dưới sự lãnh đạo của Đội Cấn và sự tham gia quan trọng của Lương Ngọc Quyến. Mặc dù cuối cùng bị thực dân Pháp đàn áp, cuộc khởi nghĩa vẫn để lại tiếng vang lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc.
Đội Cấn và con đường đến với cách mạng
Trời đã ngã về chiều. Gió thổi lồng lộng. Từ trong rừng sâu vọng lại tiếng cọp gầm đến rợn người. Những thân nhân của người tù đang bịn rịn chia tay, từng giọt nước mắt vẫn dài, thảm sầu không kể xiết. Nhưng lần nào cũng vậy, duy có cô gái trạc chừng hai mươi xuân lên thăm hai ông anh ruột của mình vẫn cứ hồn nhiên như không. Cô cười nói tự nhiên nên lại càng xinh tươi lạ thường. Giữa rừng rú Thái Nguyên âm u lại có một nhan sắc như thế khiến Đội Cấn cũng mềm lòng. Dần dần, ông dành cho cô nhiều tình cảm và ngỏ lời muốn cùng cô kết nghĩa trăm năm, nhưng cô chỉ cười e thẹn chứ không trả lời dứt khoát.
Biết được chuyện này, chiều này, tranh thủ không có lính canh đang đứng soi mói canh chừng, ông anh đầu là Cả Thấu mới bảo với cô em út:
Em ạ! Biết em có tâm huyết và chia sẻ hành động của những người hy sinh vì Nước, do đó, anh mới tiết lộ cho em biết chuyện trọng đại…
Dừng lại, nhìn trước ngó sau, ông mới ra hiệu cho người em kế là Hai Vì tiết lộ bí mật:
Các đồng chí ở đề lao và bên trại lính đang mưu phá ngục, em có thể giúp cho lực lượng cách mạng bằng cách như thế này…
Giọng thì thầm của Hai Vì nhỏ dần. Nghe xong, cô trả lời bằng giọng quả quyết:
Dẫu có hy sinh nhưng vì đại nghĩa, em chẳng gì tiếc tấm thân.
Giây lát sau, cô nói tiếp:
Nhưng ở nhà còn có mẹ già, chỉ một mình em chăm sóc. Em phải thu xếp xong trước khi vâng theo lời dạy của hai anh.
Nói xong, cô vội vã xuôi về Sơn Tây. Khi gặp mẹ, cô trình bày với mẹ mọi kế hoạch mà hai anh đã bàn với mình, bà mẹ bảo:
Bố con bị chém giữa làng Vân Cốc, trước lúc mất cũng chỉ trăn trối như vậy thôi.
Cô rụt rè thưa:
Nhưng còn mẹ, nếu mọi chuyện vỡ lỡ ra con sợ giặc sẽ giận cá chém thớt, mẹ sẽ bị vạ lây…
Bà mẹ cười, không đáp. Tối hôm ấy, để các con khỏi bận lòng, bà lẳng lặng thắt cổ chết ngay sau bếp! Chôn cất mẹ xong, cô thu xếp lên Thái Nguyên và đồng ý làm vợ Đội Cấn với nhiệm vụ giác ngộ cách mạng cho chồng.
Nhưng Đội Cấn là người như thế nào?
Ông tên thật Trịnh Văn Cấn (còn có tên Trịnh Văn Đạt), không rõ năm sinh, quê làng Yên Nhiên, phủ Vĩnh Tường, tỉnh Vĩnh Yên (nay thuộc xã Vũ Di, huyện Vĩnh Lạc, tỉnh Vĩnh Phú). Xuất thân từ thành phần bần nông, lớn lên ông vào lính khố xanh được thăng đội trưởng đội lính cơ tập trong Lực lượng cảnh sát đặc biệt toàn Đông Dương. Do đó, mọi người thường gọi là Đội Cấn.
Trong đêm tân hôn, cô đã thủ thỉ cho chồng nghe bài thơ tuyệt mệnh mà bố mình – nhà cách mạng Phùng Văn Nhuận – đã đọc trước lúc bị chém:
Đời là thế, ấy đời là thế
Hồn có thiêng cũng hé miệng cười
Những quân dạ thú mặt người
Quá ham danh lợi, đạo trời kể chi
Lại gặp lúc nước suy thế ngặt
Lũ “rước voi” ra mặt tung hoành
Thi nhau bán nước cầu vinh
Còn đâu nghĩ tới chút tình keo son!
Nghe xong bài thơ, Đội Cấn suy nghĩ rất nhiều. Ông sực nhớ lại tháng ngày trước đây đã từng tham gia đàn áp phong trào Yên Thế của Đề Thám, nhưng biết cụ chủ trương chỉ giết giặc Pháp chứ không đánh lính khố xanh, khố đỏ nên Đội Cấn dần dần hiểu việc làm chính nghĩa của người kháng chiến. Hiểu và khâm phục nhưng nào dám tâm sự với ai, nay được vợ phân tích phải trái thì ông lại càng “tâm phục khẩu phục” và bộc bạch nỗi lòng với người đầu ấp tay gối:
Chả trách những người đang nằm bên đề lao kia, họ làm cách mạng là đúng. Sứ mệnh ấy vẻ vang biết chừng nào!
Từ đấy, mầm mống chống đối lại nhà nước Bảo hộ đã hình thành trong tâm trí Đội Cấn. Rồi mỗi ngày người vợ trẻ lại đem chuyện thù nhà nợ nước tỉ tê, khuyên lơn chồng sống sao cho đáng mặt làm trai. Đội Cấn xiêu lòng và tác động đến hai người bạn tâm giao là Đội Giá và Đội Xuyên.
Bấy giờ, để cai quản đám tù nhân dám “hiên ngang đối đầu cùng cái chết”, đã từng chiến đấu dưới ngọn cờ oanh liệt của Hùm thiêng Yên Thế Đề Thám, từng hoạt động trong tổ chức Việt Nam Quang phục Hội… nên nhà cầm quyền đã phái tên Darles từ Hà Nội lên làm công sứ Thái Nguyên. Sự tàn bạo của y khủng khiếp đến nỗi chính thống sứ Gallen đã nhiều lần khuyên y không nên giết người tù một cách man rợ và trong dân gian ta có câu nguyền rủa:
Nhất Đạc (Darles), nhì Ke (Ecker), tam Be (Galambert), tứ Bích (Brides)!
Thế nhưng với dòng máu thực dân sôi sục trong người, Darles không những cai trị người tù mà còn hành hạ cả đám lính khố xanh với tất cả thú tính! Nhiều lần chứng kiến tội ác của Darles, Đội Cấn có lần tâm sự với đồng đội:
Thân phận thằng cai tù anh em mình nào khác gì con chó! Chủ lệnh sủa thì sủa, chủ lệnh cắn thì cắn, chứ có biết việc làm của mình đúng sai thế nào đâu!
Chính thái độ của Darles càng làm Đội Cấn căm hờn bọn thống trị. Sau ngày cưới, để có thể thường xuyên giác ngộ anh em binh lính đang đánh thuê, vợ của Đội Cấn nhận thầu cơm lính. Mỗi ngày hai lần đem cơm vào đề lao, cô đã nhận thư từ của chính trị phạm nhất là của Ba Quyến gửi ra. Trong các thư này, ngoài việc giác ngộ cách mạng thì Ba Quyến luôn khuyến khích và thúc giục Đội Cấn mau mau khởi nghĩa vì đại nghĩa.
Lương Ngọc Quyến – người gieo mầm cho cuộc khởi nghĩa
Ba Quyến là ai mà dám kích động binh lính khố xanh quay súng bắn công sứ Darles và bọn giám binh nhà tù Thái Nguyên? Ông tên thật Lương Lập Nham, sinh năm 1890, quê ở làng Nhị Khê, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Đông (nay thuộc Hà Nội) là con trai thứ của cụ Lương Văn Can – một nhà duy tân tiếng tăm vang dội khắp Bắc kỳ. Do ảnh hưởng tinh thần yêu nước của cha, lớn lên Lập Nham không tiến thân bằng con đường khoa cử, mà thích được học về quân sự và ông đã toại nguyện.
Vì từ tháng 3/1905, có một sự kiện khiến các trí thức trong nước rất phấn khởi, đó là thời điểm chấm dứt cuộc chiến tranh Nga – Nhật! Không ai có thể ngờ rằng, Nhật thắng Nga! Đây là một trong những tác động khiến các cụ nhà nho cấp tiến của ta bảo nhau:
Vậy thì Á châu mình có kém gì Âu châu! Nhật Bản chỉ có mấy hòn đảo chênh vênh ngoài biển mà còn dám đánh nhau với đế quốc Nga đang là nước hùng cường ở châu Âu. Thế tại sao Việt Nam ta không dám ngóc đầu dậy đánh đuổi bọn Pháp lang sa?
Nhưng chiến lược đánh Pháp phải tiến hành như thế nào? Tất nhiên là tùy theo chủ trương của từng tổ chức cách mạng lúc ấy. Đối với chí sĩ Phan Bội Châu và các đồng chí của cụ như Tiểu La Nguyễn Hàm, Tăng Bạt Hổ, Kỳ ngoại hầu Cường Để, Đặng Tử Kính, Đặng Thái Thân… thì phải thành lập Hội Duy tân, tiến hành đường lối bạo động, khởi nghĩa võ trang. Muốn vậy, thì phải gấp rút bí mật tổ chức đưa các thanh niên có nhiệt huyết, có lý tưởng cách mạng ra nước ngoài học tập về quân sự.
Từ cuối tháng 7/1905, phong trào Đông du của Duy Tân hội bắt đầu đưa thanh niên xuất dương sang Nhật. Do ảnh hưởng từ những lời kêu gọi thống thiết của cụ Phan từ Nhật gửi về như Khuyến quốc dân du học văn, Khuyến quốc dân tư trợ du học văn… các nhà hảo tâm trong nước đã giúp tiền của đưa thanh niên xuất dương ngày càng nhiều. Dịp này, hai con trai của cụ Lương Văn Can là Lương Lập Nham và Lương Nghị Khanh cũng lên đường thực hiện ước mơ cháy bỏng của tuổi thanh xuân. Sang Nhật, Lương Lập Nham đổi tên Lương Ngọc Quyến, do là con thứ ba trong gia đình nên mọi người thường gọi Ba Quyến.
Có thể nói, Lương Ngọc Quyến, Lương Nghị Khanh, Nguyễn Thức Canh (tức Trần Trọng Khắc hoặc Trần Hữu Công) và Trần Điển là bốn học sinh Việt Nam trong phong trào Đông du đầu tiên được cụ Phan Bội Châu đưa vào học ở Chấn võ học hiệu Đông Kinh. Năm 1908, Ba Quyến tốt nghiệp loại ưu. Sự đời “vỏ quýt dày móng tay nhọn” là lẽ thường tình. Trước phong trào Đông du ngày một dậy sóng, thực dân Pháp càng hoảng sợ, chúng ngấm ngầm can thiệp một cách khôn khéo. Tháng 9/1908 điều ước Pháp – Nhật được thi hành, theo yêu cầu của chính phủ Pháp ở Đông Dương, chính phủ Nhật ra lệnh trục xuất lưu học sinh Việt Nam ra khỏi nước Nhật. Vì lẽ đó, Ba Quyến phải chạy sang Trung Quốc học tiếp, sau đó, ông nhận chức thiếu tá trong quân đội Trung Hoa.
Sau khi Duy tân Hội được cải tổ thành Việt Nam Quang phục Hội vào đầu tháng 2/1912, Ba Quyến là Ủy viên quân sự của Hội. Năm 1914, ông nhận nhiệm vụ trở về nước gây cơ sở cách mạng tại Nam kỳ, rồi sang Thái Lan, Hương Cảng… Trên bước đường công cán, ông bị mật thám Anh bắt rồi giao lại cho Pháp.
Bị đưa về nước, trong những ngày bị giam tại nhà lao Hỏa Lò, ông có làm bài thơ Tuyệt mệnh bằng chữ Hán (Đào Trinh Nhất dịch):
Bể học xông pha trải bấy lâu?
Thân tù ngoảnh lại nghĩ mà đau.
Trăm năm đất Tổ về quân mọi,
Bảy thước thân tàn mặc nước sâu.
Bạn tốt đời nay sao vắng cả?
Thù nhà kiếp khác dễ quên đâu!
Hồn ta gặp được Lam Sơn đế,
Quyết mượn oai linh chém Pháp đầu!
Sau đó, ông bị đưa lên giam ở nhà lao Thái Nguyên. Biết ông là con trai của cụ Lương Văn Can và trong gia đình các anh em đều tham gia cách mạng nên công sứ Darles tra tấn rất tàn nhẫn, sợ ông đào thoát nên y sai lính dùi thủng giữa bàn chân để buộc xích! Đối đầu bạo lực điên cuồng, nhưng ông không cung khai một lời. Do đó, không những anh em trong tù khâm phục mà ngay cả lính khố xanh cũng kính trọng ông. Những lá thư của Ba Quyến chuyển cho Đội Cấn đều trót lọt và qua đó đã tác động dữ dội đến suy nghĩ của người đọc thư. Nhưng kế hoạch khởi nghĩa cứ trù trừ mãi, chưa thể thực hiện được.
Quá trình chuẩn bị khởi nghĩa
Lần thứ nhất, các ông dự định tiến hành vào tháng 6/1917, lợi dụng lúc tên giám binh Noel đi Đại Từ đốc thuế, nghĩa quân sẽ giết y, cướp tiền rồi quay về tấn công vào trại giam, nhưng kế hoạch bất thành vì lính khố xanh chọn đi cùng Noel không phải là lực lượng đã được giác ngộ.
Lần thứ hai, nghĩa quân dự định đốt nhà của một vài người Pháp trong tỉnh thành, nhằm thu hút lực lượng binh sĩ chính quy Pháp đến chữa cháy. Lúc đó, nghĩa quân chia làm hai cánh, một cánh mai phục đánh bọn lính này, một cánh phối hợp với anh em trong trại giam nhất tề nổi dậy. Nhưng nhận thấy kế hoạch này không chắc thắng nên các ông phải dừng lại.
Lần thứ ba, nghĩa quân lợi dụng ngày quốc khánh Pháp (14/7), nhân lúc đi diễn binh thì sẽ quay súng về hướng khán đài, nhắm bọn quan chức Pháp mà nổ súng, rồi tấn công đánh chiếm luôn tỉnh lỵ. Nhưng rồi, họ hoãn kế hoạch này vì trong ngày “hội Tây” này có nhiều người dân đi dự thì sẽ “tai bay vạ gió”…
Trong khi ngày khởi sự lần thứ tư chưa định được, thì có tin một số hạ sĩ quan, binh lính khố xanh sẽ bị thuyên chuyển nơi khác hoặc giải ngũ, trong số này có cả Đội Cấn. Trước tình thế này, bộ chỉ huy của cuộc khởi nghĩa quyết định chọn đêm 30 rạng ngày 31/8/1917 sẽ khởi sự. Kế hoạch tấn công như thế nào đã được các ông Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn, Đội Giá, Đội Xuyên, Ba Chi, Cả Thấu, ông Tú Hồi Xuân… tính toán chu đáo.
Về tên gọi của nghĩa quân thì họ nhất trí với tên gọi mà khi lập Việt Nam Quang phục Hội cụ Phan Bội Châu đã đặt tên “Quang phục quân”, quốc kỳ là lá cờ nền vàng có 5 sao đỏ, đổi tên nước là Đại Hùng. Với tư cách là quân sư của cuộc khởi nghĩa và cũng là người giỏi văn chương nên ông Ba Quyến được phân công viết Tuyên ngôn kể tội ác thực dân và kêu gọi binh lính, đồng bào cùng tham gia khởi nghĩa.
Khởi nghĩa Thái Nguyên bùng nổ
Từng ngày chậm rãi trôi qua. Chẳng mấy chốc đã đến ngày quyết “đem máu nóng rửa nhục non sông”. Như thường lệ, đó là ngày mà binh lính, công chức ở các phủ huyện đổ về tỉnh lỵ Thái Nguyên lãnh lương, sau đó, sẵn có tiền trong tay chúng tụ tập ăn chơi cờ bạc. Trong nhà tù Thái Nguyên cũng thế, không khí náo nhiệt hơn mọi ngày.
Theo kế hoạch, đúng 23 giờ khuya, ông Đội Trường dẫn một toán lính khố xanh đến nhà tên giám binh Noel. Dù họ đập cửa liên hồi và nói có công điện khẩn từ Hà Nội gửi lên, nhưng ngờ ngợ chuyện chẳng lành nên Noel chần chừ không mở cửa. Giây lát sau, y tặc lưỡi rồi thò tay ra ngoài để nhận lấy bức công điện. Lập tức, một nghĩa quân cầm lấy lưỡi mác bén như lá lúa chém phập, y thụt tay lại và kêu rú lên! Nhanh như sóc, y đẩy cửa sau chạy qua trại lính bộ binh thuộc địa để cầu cứu, nhưng y vừa mới dợm chân thì Đội Trường đã rút súng lục bắn theo. Viên đạn xuyên qua ngực, y ngã gục xuống đất. Tiếng nổ bất ngờ này đã làm đảo lộn tính chất bí mật trong hợp đồng tác chiến, vì bọn lính Pháp đã được đánh động nên chúng phản ứng ngay. Trước hết, chúng thổi kèn báo động và tên trùm mật thám Bessait kịp thời chạy ra bưu điện để cấp báo về Hà Nội. Không một chút nao núng, nghĩa quân tiếp tục tiến về nhà tên quản Lạp bắt y phải đền tội và chĩa súng bắn như vãi thóc vào trại lính bộ binh thuộc địa. Lửa đạn xé màn đêm sáng rực cả một góc trời.
Bên trại lính khố xanh, nghĩa quân kéo nhau đi phá nhà lao để giải thoát cho tù nhân, phá kho vũ khí lấy súng đạn phân phát cho nhau. Riêng Ba Quyến do bị cùm lâu ngày nên liệt hẳn một chân, không đứng dậy được, một tù nhân tên là Ba Chi đã cõng ông ra ngoài nhập vào đoàn quân. Theo lệnh của ban chỉ huy, các toán nghĩa quân tiếp tục tiến đánh các công sở dinh thự của người Pháp. Nhóm quân của ông Đội số 935 đến phá nhà công sứ. May mắn cho Darles, y đi nghỉ mát tại Đồ Sơn trước đó dăm ngày nên thoát chết! Đội Xuyên dẫn một toán quân đem theo cốt mìn đến phá nhà quan lục lộ (tức quan công chánh) và giết chết y. Còn nhóm quân do Cai Mánh chỉ huy tấn công nhà dây thép (tức bưu điện) và phá toàn bộ máy móc.
Nhóm quân của Đội Năm đến phá nhà kho bạc (tức ngân hàng), họ đã lấy được 71.000 đồng… Lúc này, nhằm kích động tinh thần chiến đấu, trong trại lính khố xanh, nghĩa quân cắt đầu tên giám binh Noel và quản Lạp đặt trên một cái mâm lớn giữa kỳ đài làm lễ tế cờ. Trong lúc ai nấy đều hừng hực khí thế cách mạng, Đội Cấn ngước nhìn lá cờ “Nam quốc phục binh” lồng lộng giữa đêm đen, rồi ông dõng dạc đọc bản tuyên ngôn do Ba Quyến thảo ra:
… Chao ôi! Mỗi khi tưởng nhớ cơ nghiệp của tổ tiên đã đổ bao nhiêu máu mới xây dựng nên, mỗi khi nghĩ đến tình cảnh đất nước bấy lâu gian truân khốn khổ, chúng ta thấy bầm gan tím ruột, thương xót vô cùng. Chúng ta nhẫn nhục đã tới cực điểm, tấc lòng bi thống giang san, chủng tộc sôi sục như nung như đốt. Kẻ thù của chúng ta hiện đang bị công kích ở châu Âu; chúng bắt người mình đem sang bên Tây làm bức tường đỡ đạn; chúng bóc lột tài sản xứ sở mình để tiếp tế quân nhu. Bà con ta bị bắt đem sang bên Tây từ mấy năm nay, tội nghiệp người sống phải trần lực ra làm lụng vất vả, người chết cũng chẳng được chôn cất tử tế. Thương hại cho con côi vợ góa ngồi trong nhà kêu vang, ông già bà lão ra ngoài đường khóc lóc. Tình cảnh nước nhà đau khổ không thể tưởng tượng. Tóm lại, cái kiếp sống của dân ta điêu đứng đến nông nỗi này, không tài nào cam chịu được nữa! Nước ta khổ sở kiệt quệ, sống dở chết dở, cảnh ngộ có khác gì một sợi chỉ mong manh sắp đứt; chịu đựng đau đớn nhiều quá, bà con nhà ta như kẻ nằm liệt trên giường bệnh, hấp hối tắt hơi. Phen này chúng ta ra sức phấn đấu để khôi phục độc lập cho Tổ quốc, nếu mục đích không đạt, đại cuộc không thành thì cuộc đời hết cả sinh thú, chúng ta cũng chẳng thiết sống làm gì cho nhục nhằn, khốn khổ. Hôm nay thời cơ đã đến, trong nước thì có những bạn đồng tâm đồng chí cùng ta tuốt gươm chĩa súng, đánh giết quân thù; bên ngoài thì có những nhà cách mệnh ta bấy lâu trú ngụ bên Tàu, bên Nhật, giờ này sắp sửa đem quân nhu, khí giới về giúp ta, hợp lực với ta đánh đuổi Pháp tặc. Ta chiêu tập những anh em có tinh thần tự do độc lập, có nhiệt tâm yêu nước thương nòi, và hôm nay ta bắt đầu khôi phục lấy tỉnh Thái Nguyên. Lá cờ năm ngôi sao đã kéo lên phất phới trên kỳ đài, ta tuyên bố Thái Nguyên độc lập. Những ai đứng vào hàng ngũ ta, cùng ta tuốt gươm diệt giặc, ta rất hoan nghênh, ta để cho mỗi người được thi thố tài năng trong cuộc tranh đấu chung vì độc lập tự do. Còn những kẻ nào vẫn manh tâm nô lệ, phò tá quân thù, thì hãy coi chừng, ta sẽ lấy đầu không tha.
Tuyên ngôn của Quang Phục quân và việc củng cố lực lượng
Lời tuyên bố của Đội Cấn như tiếp thêm máu nóng cho nghĩa quân. Với tinh thần bất khuất của một dân tộc mấy mươi năm bị áp bức, nay vùng lên khởi nghĩa đã tạo thành một sức mạnh ngoan cường. Nghĩa quân đã làm chủ được tỉnh Thái Nguyên. Ngay sau thắng lợi bước đầu này, bộ chỉ huy đã họp chỉnh đốn lại đội ngũ. Tất cả có 351 nghĩa quân, trong đó là 220 tù nhân vừa được giải thoát, có 167 khẩu súng và 91.175 viên đạn. (Có tài liệu cho biết tổng nghĩa quân là 623 người).
Một cuộc họp quan trọng cũng diễn ra trong lúc này để bàn về kế hoạch quân sự trong những ngày sắp tới. Các ý kiến chia làm hai hướng, theo ông Tú Hồi Xuân, người đã tham gia cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân năm 1916, và các ông Ba Quốc, Ba Lâm v.v… thì nhân lúc giặc chưa phản công, ta nên chia quân đi tấn công các tỉnh lân cận như Bắc Giang, Phúc Yên, Bắc Cạn… Vừa đánh vừa kêu gọi nhân dân gia nhập nghĩa quân để phát triển thêm lực lượng. Trong khi đó một nhóm khác mà đại biểu là ông Ba Quyến lại cho rằng, cuộc khởi nghĩa vừa bùng nổ thì phải chấn chỉnh đội ngũ, lấy Thái Nguyên làm căn cứ lâu dài, nếu chia quân đi đánh khắp nơi là một việc làm mạo hiểm. Ý kiến này hoàn toàn phù hợp với thực lực của nghĩa quân, vì ngoài số lính khố xanh và một số ít người từng chiến đấu dưới ngọn cờ của cụ Đề Thám sử dụng thành thạo vũ khí, còn lại thì chưa mấy ai quen với súng đạn.
Trước hai luồng ý kiến trái ngược nhau, chủ tướng Đội Cấn nghiêng về phía Ba Quyến, nghĩa là chấp nhận phương án phòng ngự. Lúc này, dân chúng cũng đã ùn ùn kéo đến xin gia nhập vào hàng ngũ chiến đấu. Trưa ngày 31/8 trong trại lính khố xanh, Đội Cấn cho thiết lập bàn thờ tế trời đất biết việc làm chính nghĩa của nghĩa quân. Họ giết 2 con gà làm lễ tế cờ và giết 4 con bò khao quân.
Trong buổi lễ này, Đội Cấn đã đọc bài Tuyên ngôn thứ hai cũng do Ba Quyến thảo ra:
… Quân đội cách mạng ta có nghĩa vụ với dân, với nước, quyết không sách nhiễu, không xâm phạm đến tài sản của dân; bất cứ trong lúc hành binh hay khi đồn trú nơi nào, Quang Phục quân chỉ có một việc là thu phục bờ cõi của tổ tiên, diệt trừ quân giặc bạch chủng, để cho toàn thể quốc dân đồng bào được hưởng độc lập tự do, an cư lạc nghiệp.
Hỡi đồng bào! Ta phải cùng nhau gắng công ra sức phen này hầu làm cho trọn sự nghiệp vĩ đại, lá cờ Ngũ tinh được phất phới vẻ vang khắp cả năm châu, không phụ lòng trông nom tin cậy của Tổ quốc.
Hỡi đồng bào! Một quốc gia tân tạo, vững bền thiên thu vạn tuế bắt đầu xây dựng từ ngày hôm nay. Toàn thể đồng bào cùng có trách nhiệm tháo ách nô lệ đè đầu cỡi cổ chúng ta đã lâu quá rồi!.
Lời Tuyên ngôn vừa dứt thì tiếng hoan hô vang lên như sấm dậy. Sau khi ăn uống xong, các nghĩa quân chia nhau đi đóng ở các điểm chiến lược, các trục giao thông, đào công sự để sẵn sàng một mất một còn với lũ giặc sẽ kéo lên! Hai nhóm quân do Đội Giá, Cai Xuyên chỉ huy đóng trên trục đường đi Hà Nội, một nhóm quân do Cai Mập chỉ huy đóng trên đường đi Mõ Nhai, một nhóm quân của Đội Khôi đóng trên đường lên chợ Chu. Một nhóm quân do người lính khố xanh tên Phương trấn giữ đường đi Sơn Tây, một nhóm quân của Đội Năm đóng ở nhà giam v.v… Còn bộ chỉ huy với các ông Đội Cấn, Ba Quyến, Đội thư lại, Quan Hai Tàu thì đóng tại trại lính khố xanh, để kịp thời chỉ đạo công việc chung. Sự sắp xếp đội hình tác chiến như vậy là tạm ổn.
Những ngày chiến đấu giữ Thái Nguyên
Lúc 5 giờ sáng ngày 31/8/1917 tại Hà Nội, nhận được bức điện tín báo “quân phiến loạn” nổi dậy ở Thái Nguyên, thống sứ Gallen bàng hoàng, y nghiến răng gọi điện thoại công sứ Darles đang nghỉ mát tại Đồ Sơn phải trình diện gấp để tìm cách ứng phó. Ngay chiều hôm đó, Darles cùng dẫn một đại đội hương binh gấp rút lên Gia Sàng, cách tỉnh lỵ Thái Nguyên chừng 3 cây số, để nghe ngóng tình hình. Nhưng lúc vừa đặt chân đến nơi thì bị nghĩa quân chủ động tấn công, chúng phải tháo chạy. Dù chiều tối hôm đó, viện binh ở các đồn Đức Thắng (Bắc Giang) và Hà Châu (Phúc Yên) được lệnh lên tăng cường, nhưng trong tỉnh lỵ các cuộc đánh chiếm các công sở của Pháp vẫn tiếp tục diễn ra.
Qua sáng ngày 1/9 đại tá Berger nhận lệnh chỉ huy một lực lượng hùng hậu có trang bị vũ khí hiện đại cũng kéo lên Gia Sàng. Trong khi đó, giám binh Martini, Pellegrini cũng dẫn những toán quân khác lên chiếm đóng trên ngọn đồi ở bên phải con đường đi vào tỉnh lỵ. Đúng lúc 8 giờ sáng ngày 2/9, giặc Pháp bắt đầu phản công. Nghĩa quân đã cầm cự một cách dũng cảm, đánh lui từng đợt tiến quân của chúng.
Ngày 3/9, Pháp phải tăng cường 120 lính Pháp, 150 lính khố xanh, khố đỏ lên tiếp ứng. Nhưng chúng vẫn không tiến được vào tỉnh lỵ Thái Nguyên. Chúng đã vấp phải sự kháng cự dũng mãnh của một đội quân dù vũ khí thô sơ hơn, số lượng ít hơn nhưng có lợi thế hơn hẳn là thông thuộc địa hình, địa vật, đường ngang ngõ tắt nên bất ngờ giáng xuống đầu chúng những trận đòn sấm sét.
Sau khi tên giám binh Martini bị chết tại trận thì hàng ngũ của địch đã rối loạn. Trước tình hình này, ngày 4/9 quân Pháp quyết tâm phục thù. Chúng tăng cường 80 lính Lê Dương đang đóng ở Yên Bái lên Gia Sàng, tăng cường hỏa lực nhằm đánh phủ đầu đối phương trước lúc bộ binh xông lên. Trước lúc tấn công, bốn khẩu đại bác pháo kích điên cuồng vào tỉnh lỵ.
Trong bài Về Đội Cấn có cho biết:
Xe cộ tiếp viện đến nơi
Quân Tây đi trẩy ngất trời ghê thay!
Bài binh lính tập bủa vây
Thổi kèn súng bắn đạn bay vào làng
Đì đùng như thể ngô rang
Bắn như cuội rải trên đàng cái đi
Biết không thể chống chọi nổi, sáng ngày 5/9 Đội Cấn ra lệnh cho nghĩa quân chia làm bốn cánh quân tuần tự rút lui, để bảo toàn lực lượng. Trong lúc này, Ba Quyến vẫn được các đồng chí dùng võng cáng. Thấy lúc giữa “ngàn cân treo sợi tóc” mà mọi người vẫn bận bịu về mình nên ông không đành lòng. Ông đề nghị Đội Cấn bắn một phát súng vào giữa ngực để kết thúc sự sống. Đội Cấn nuốt nước mắt vào lòng để thực hiện ý nguyện cuối cùng của người đồng chí. Như vậy tính từ ngày khởi nghĩa đến nay, nghĩa quân của Đội Cấn đã làm chủ được Thái Nguyên gần một tuần lễ.
Sự hy sinh của Lương Ngọc Quyến
Nhận được tin này, một đồng chí của Ba Quyến là Dương Bá Trạc đã viết bài thơ:
Đoạn tuyệt gia đình với núi sông,
Lá cờ Đông học trẩy tiên phong.
Lục quân Nhật Bản thao tinh luyện,
Chiến địa Trung Hoa thỏa vẫy vùng.Bắc Hải ghi ơn lời thoại biệt,
Long Xuyên bao xiết chuyện trùng phùng.
Thái Nguyên độc lập năm ngày trọn,
Cho biết tay đây cọp xổ lồng.
Những tháng ngày chiến đấu cuối cùng của Đội Cấn
Từ đây, các cánh quân của Đội Cấn vẫn tiếp tục chiến đấu cho đến ngày 11/1/1918. Đó là ngày Đội Cấn anh dũng hy sinh. Ròng rã trong những tháng ngày đối mặt với hòn tên mũi đạn, Đội Cấn đã chứng tỏ là một người không chỉ giỏi về quân sự mà ông còn biết giáo dục nghĩa quân tinh thần “vì nhân dân phục vụ” nên rất được nhân dân thương yêu, giúp đỡ. Trong nhiều tài liệu cho biết, giặc Pháp phải hết sức gian nan mới có thể tiêu diệt được sự kháng cự của nghĩa quân trên địa bàn Tam Đảo, Vĩnh Yên, Phúc Yên, Yên Thế….
Để đàn áp cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, giặc Pháp phải:
tập trung một lực lượng lớn gồm có 1.088 sĩ quan, hạ sĩ quan, binh lính người Âu, 1.626 hạ sĩ quan, binh lính ngụy; tổng cộng là 2.712 tên; chưa kể còn có 1.139 lính tập, lính dõng, bồi bếp; có pháo binh tàu chiến trợ lực; và một màng lưới chức dịch, quan lại người Việt từ cấp xã lên đến cấp tỉnh ở Thái Nguyên và ở một số tỉnh khác tham gia chỉ điểm, hỗ trợ… Đây là cuộc khởi nghĩa vũ trang lớn nhất, kéo dài nhất và có tiếng vang lớn nhất ở nước ta trong thời kỳ Đại chiến thế giới lần thứ nhất.
Ngày 21/12/1917 trong một trận chiến đấu ác liệt tại căn cứ núi Pháo (Thái Nguyên), Đội Cấn bị thương nặng, dù binh mã tan tác, bị cắt đứt đường tiếp tế lương thực, nghĩa quân vẫn không rời bỏ vị trí chiến đấu. Nhưng đến cuộc đụng độ diễn ra trong ngày 8 và ngày 10/1/1918 thì lực lượng chiến đấu chỉ còn lại khoảng 18 người, cuối cùng chỉ còn hai nghĩa quân là Thọ và Sỹ. Qua ngày hôm sau, biết mình không thể sống nổi, Đội Cấn sai hai người này đào huyệt, ông nằm xuống huyệt, dùng súng tự sát để họ lấp huyệt chôn ông. Chiều hôm ấy, mây đen kịt, không một ngọn gió. Trong cánh rừng thâm u chỉ có vòm cây xào xạc như thương khóc cho người anh hùng vì Nước mà hy sinh… Dăm ngày sau, giặc Pháp bắt đầu tiến quân vào căn cứ núi Pháo để tìm kiếm nơi chôn cất Đội Cấn. Chúng đã quật xác, kiểm nghiệm tử thi, rồi cắt đầu ông đem về trại lính khố xanh để huênh hoang như một “chiến lợi phẩm” đắt giá nhất!
Ngày 20/1/1918, cánh quân của đại tá Maillard tuyên bố đã hoàn thành nhiệm vụ. Những người tham gia cuộc khởi nghĩa đều bị truy nã và bị kết án tù đày hoặc tử hình.
Thơ cảm vịnh
Khi những tù nhân này bị đày ra Côn Đảo, họ có kể lại chuyện khởi nghĩa cho anh em trong tù nghe. Cụ Tam Xuyên Ngô Đức Kế có làm bài thơ tứ tuyệt chữ Hán “Thái Nguyên thất nhật Quang Phục ký” (cụ Huỳnh Thúc Kháng dịch):
I.
Giữa đất bằng nghe trận sấm rền
Tiện gươm ngục tối dội rầm lên
Sử Nam cách mạng nào ai đấy
Trịnh Đạt ngàn năm hẳn có tên
II.
Quanh thành phất phới dọi năm sao
Quang phục quân reo tiếng nổi phao
Sáu chục năm trời im nước bệnh
Oai nghi nay bỗng thấy quan trào
III.
Đạn mưa súng khét góc trời mù
Gươm liệt cờ giăng suốt một màu
Thành quách Nam, người Nam chủ lấy
Bảy ngày dài dẳng xấp ngàn thu
IV.
Tấn kịch xin xâu đã hạ màn
Quả bom ngòi tắt, đảng vua tan
Non sông còn có mùi sinh khí
Tuồng Thái Nguyên lưu một tiếng vang
V.
Cốt vì cả nước mở đường đầu
Trời chứa chiều người biết tính sao?
Thế sự không bàn thành với bại
Vũ Xương nào kém nghĩa quân Tàu
VI.
Bút chửa xong, gươm cũng dở dang
Mười năm nín tiếng chốn cùng hoang
Non sông un đúc người xưa ấy
Cầu nguyện thường đêm cứ đốt hương
Đánh giá và ý nghĩa lịch sử
Cuộc khởi nghĩa cho dù bị dìm trong biển máu, nhưng tinh thần oanh liệt của những người yêu nước đã sống muôn đời với núi sông. Khởi nghĩa Thái Nguyên năm 1917 không chỉ là một cuộc nổi dậy chống thực dân Pháp đơn thuần mà còn là biểu hiện sinh động của sự chuyển biến trong phong trào yêu nước đầu thế kỷ XX. Cuộc khởi nghĩa đã quy tụ nhiều lực lượng khác nhau: những người từng tham gia phong trào Đông Du, Việt Nam Quang phục Hội, các chính trị phạm bị giam giữ và cả những binh lính đang phục vụ trong quân đội thuộc địa nhưng vẫn mang nặng tinh thần dân tộc.
Lương Ngọc Quyến, với vai trò là người truyền bá tư tưởng cách mạng, hoạch định kế hoạch và thảo các bản tuyên ngôn, đã trở thành linh hồn về mặt chính trị của cuộc khởi nghĩa. Trong khi đó, Đội Cấn bằng uy tín và khả năng tổ chức của mình đã trực tiếp lãnh đạo nghĩa quân chiến đấu suốt nhiều tháng trời trước lực lượng vượt trội của thực dân Pháp. Dù thất bại, cuộc khởi nghĩa đã để lại tiếng vang lớn trong lịch sử đấu tranh giải phóng dân tộc Việt Nam, góp phần khơi dậy tinh thần yêu nước và ý chí chống ngoại xâm của các thế hệ tiếp nối. Những tấm gương hy sinh của Lương Ngọc Quyến, Đội Cấn và các nghĩa quân đã trở thành biểu tượng cho lòng quả cảm và khát vọng độc lập của dân tộc Việt Nam đầu thế kỷ XX.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.