Văn bia “Đường Hồ Chí Minh những năm đánh Mỹ”
Núi rừng Trường Sơn hùng vĩ, từ ngàn xưa đã được coi là thế tựa của muôn đời. Đường Hồ Chí Minh chạy dọc dài Trường Sơn là một mắt xích hết sức trọng yếu trong toàn bộ hệ thống chi viện chiến lược của Mặt trận đoàn kết chiến đấu chống Mỹ, cứu nước của ba nước Đông Dương. Suốt 16 năm ròng, lớp lớp những người con của các dân tộc khắp mọi miền Tổ quốc, đã sống và chiến đấu trên tuyến đường mang tên Chủ tịch Hồ Chí Minh vĩ đại. Khi Hiệp định Genève năm 1954 bị kẻ dịch phá hoại toàn diện; dưới sự lãnh đạo của Đảng, cả dân tộc đã đứng lên quyết chấp nhận một cuộc đọ sức mới cực kỳ nghiêm trọng.
Ngày 19/5/1959, tuyến vận tải quân sự chiến lược đường Hồ ChíMinh được thành lập với nhiệm vụ vận chuyển cơ sở vật chất kỹ thuật, đảm bảo cơ động lực lượng và đưa đón cán bộ vào, ra cả ba chiến trường. Đồng thời, tuyến vận tải quân sự chiến lược đường Hồ ChíMinh cũng là một chiến trường chiến đấu lớn. Do vị trí hết sức lợi hại của tuyến đường nên đế quốc Mỹ và bọn tay sai của ba nước đã tìm trăm phương ngàn kế để đánh phá và ngăn chặn.
Cuộc chiến đấu giữa ngăn chặn và chống ngăn chặn trên đường Hồ Chí Minh đã diễn ra ngày càng quyết liệt: không quân đủ loại, bộ binh đủ quy mô, thủ đoạn đầy nham hiểm. Với gần 4 triệu tấn bom đạn đủ kiểu đã trút xuống tuyến đường, núi rừng Trường Sơn ngày đêm rung chuyển, đất đá bị cày xới, cỏ cây bị thiêu trụi. Đế quốc Mỹ tưởng rằng sẽ chặn đứng được sự chi viện của miền Bắc cho chiến trường miền Nam và các chiến trường bạn, nhưng kết quả đã không theo ý chúng, phía chống ngăn chặn đã đè bẹp kẻ đi ngăn chặn và chiến thắng lẫy lừng.
Với chân lý sáng ngời do Chủ tịch Hồ Chí Minh để xướng: “Nước Việt Nam là một, dân tộc Việt Nam là một”, “Không có gì quý hơn Độc lập, Tự do”, cả nước đã đứng lên “Tất cả cho chiến trường, tất cả để chiến thắng” với khí thế hào hùng như triều dâng thác đổ, quyết thắng giặc Mỹ, giải phóng miền Nam, thống nhất Tổ quốc. Từ trong sức mạnh đó, tuyến vận tải quân sự chiến lược đường Hồ ChíMinh với 500 chiến sĩ ban đầu tiến vào Trường Sơn soi đường, lập trạm, quân đi tính từng người, hàng chuyển tính từng cân, đã từng bước phát triển lớn mạnh, thực sự trở thành một chiến trường tổng hợp, hiệp đồng binh chủng trên quy mô lớn, đánh địch mà đi, mở đường mà tiến, luôn chủ động đáp ứng sự phát triển lớn mạnh của các hướng chiến trường.
Trong cuộc chiến đấu một mất, một còn với kẻ địch, cán bộ, chiến sĩ trên đường Hồ Chí Minh luôn luôn nắm vững tư tưởng cách mạng tiến công, nắm vững phương châm cơ giới hóa: Chủ động, sáng tạo, mưu trí, dũng cảm, không hề chùn bước trước bất cứ khó khăn ác liệt nào, người trước ngã xuống, người sau xông lên; cả Trường Sơn sáng ngời chủ nghĩa anh hùng cách mạng. Binh chủng nào, đơn vị nào cũng có những thành tích anh hùng; con đường nào, trọng điểm nào cũng là những mảnh đất thiêng liêng và rực lửa.
Lực lượng cầu đường đã nguyện làm “tượng đồng vách sắt”, kiên cường bám trụ, giành đi giật lại từng thước đường. Một đường bị chặn, hai, ba đường xuất hiện, đường chạy đêm bị đánh, đường chạy ngày xuất hiện, địch đánh một, ta làm mười. Hình thành trục đường, mạng đường… ngang nối dọc, đông nối tây, trong vòng 16 năm, đường Hồ Chí Minh đã có tổng chiều dài gần 16.000km vươn tới tất cả các hướng chiến trường.
Lực lượng vận tải từ bí mật luồn rừng mang vác, tiến lên cơ giới hóa đường bộ rồi đường sông, đường ống, hợp thành một binh chủng vận tải cơ giới phát triển đến đỉnh cao trong việc đảm bảo cơ sở vật chất – kỹ thuật và cơ động lực lượng chiến đấu cho các chiến trường, đặc biệt là chiến dịch mùa Xuân lịch sử năm 1975.
Nay giang son đã thu về một mối, đất nước đã độc lập trọn vẹn và thống nhất vĩnh viễn, cán bộ, chiến sĩ đường Hồ Chí Minh nguyện noi gương các đồng chí đã ngã xuống vì sự nghiệp cao cả, ra sức làm tròn hai nhiệm vụ chính trị của quân đội: bảo vệ và xây dựng đất nước.
Trên đây là toàn bộ văn bia “Đường Hồ Chí Minh những năm đánh Mỹ” đặt tại nghĩa trang liệt sĩ Trường Sơn. Nghĩa trang này được xây dựng tại xã Gio An, huyện Gio Linh (Quảng Trị) năm 1975, hoàn thành năm 1977, có tổng diện tích 140.000m², quy tụ (tính đến năm 1990) là 10.414 phần mộ liệt sĩ quê ở nhiều miền Tổ quốc. Đằng sau những con số khô khan ấy, là máu, là xương thịt của một thế hệ “xẻ dọc Trường Sơn đi cứu nước” mãi mãi còn gây xúc động cho hàng triệu con người trong hiện tại lẫn tương lai. Có thể khẳng định đây là biểu tượng của chủ nghĩa anh hùng cách mạng Việt Nam trong sự nghiệp chống Mỹ, cứu nước và thể hiện lòng biết ơn của nhân dân cả nước đối các liệt sĩ.
Võ Bẩm – vị tư lệnh đầu tiên mở đường Trường Sơn
Vị tư lệnh đầu tiên mở con đường huyền thoại Trường Sơn là thiếu tướng Võ Bẩm, người đã được Đảng và Nhà nước tặng Huân chương: Hồ Chí Minh, Quân công hạng 1, hạng 2. Ông sinh năm 1915 tại xã Tịnh Khê, huyện Sơn Tịnh (Quảng Ngãi). Thuở nhỏ, khi đi học chữ Nho, ông có tên là Võ Tân Vinh, năm 1934 lúc được kết nạp vào Đảng Cộng sản Đông Dương lấy tên Võ Hồng Đức, trong chín năm chống Pháp lấy tên Võ Văn Định và khi được giao nhiệm vụ mở đường Trường Sơn lấy tên là Võ Văn Phúc.
Năm 1916, ông mồ côi cha. Cha của ông là cụ Võ Thạc, một yếu nhân trong cuộc khởi nghĩa của vua Duy Tân ở Quảng Ngãi. Sau khi phong trào bại lộ, bị đàn áp, Pháp bắt cụ và tra tấn đến chết. Nuôi các con khôn lớn, người mẹ dặn dò:
Cha bọn bay chết là do tội ác của lũ đế quốc sài lang. Anh em bay nhớ khắc cốt, ghi xương mối thù này.
Lúc mới 15 tuổi, ông Võ Bẩm được Tỉnh hội Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội giao nhiệm vụ quản lý xe khách của Hội, chạy tuyến Đà Nẵng – Nha Trang và ngược lại, để thu tiền gửi vào nhà lao cho những đồng chí bị bắt giam. Năm năm sau ông bị giặc Pháp bắt giam, đày đi Lao Bảo, Ban Mê Thuột… Ngồi tù năm năm, được thả tự do ông tiếp tục hoạt động cách mạng, nhưng chỉ vài tháng sau ông bị giặc bắt lại và đưa đi an trí tại vùng rừng thiêng nước độc Ba Tơ. Trong tù, do bị bệnh nặng, thập tử nhất sinh, giặc thả ông để tự chạy chữa thuốc men, nhờ vậy ông trốn thoát nanh vuốt gông cùm của đế quốc. Từ đây, Võ Bẩm đã tham gia công tác cách mạng bằng tất cả nhiệt tình của tuổi trẻ. Một dấu ấn rực rỡ nhất trong cuộc đời của ông là đã được Đảng giao nhiệm vụ tổ chức tuyến vận chuyển, giao liên, vận tải quân sự chi viện cho miền Nam, khai phá con đường Trường Sơn.
Hoạt động cách mạng
Tổ chức Đoàn 559 và những bước đi đầu tiên
Ngày 5/5/1959, trung tướng Nguyễn Văn Vịnh – Ủy viên Trung ương Đảng, thứ trưởng Bộ Quốc phòng, Chủ nhiệm Ủy ban thống nhất Trung ương thừa lệnh Bộ Chính trị trực tiếp giao nhiệm vụ cho thượng tá Võ Bẩm, nguyên Cục phó Cục Nông trường để thành lập “Đoàn công tác quân sự đặc biệt”. Ông Bẩm vừa rút sổ tay ra ghi chép thì ông Vịnh bảo:
Cố nhớ mà nhập tâm. Không được ghi chép. Tôi nhắc luôn điều này. Kể từ nay, tất cả mọi công việc của đồng chí tuyệt đối không được ghi chép. Rồi đồng chí sẽ rõ công việc cần phải giữ bí mật đến như thế nào!
Dừng lại giây lát, ông Vịnh nói tiếp:
Con đường giao thông quân sự đặc biệt này phải mở trong thời gian ngắn nhất, để nhanh chóng đưa cán bộ, bộ đội và các thứ hàng cần thiết như vũ khí, đạn dược, thuốc men vào miền Nam theo kế hoạch của Bộ Chính trị. Việc lựa chọn cán bộ để thành lập đơn vị do đồng chí làm. Việc tuyển chọn người, nhất thiết chỉ chọn trong những anh em miền Nam tập kết. Vũ khí cũng chỉ chọn các loại vũ khí chiến lợi phẩm. Phương châm hoạt động là: Tuyệt đối bí mật và an toàn.
Trong buổi làm việc này, ông Vịnh còn cho biết trước mắt là Đoàn của ông Bẩm chỉ chuyển hàng và đưa người đến bờ bắc sông Bến Hải… Nhận chỉ thị xong, những ngày sau đó, ông Bẩm bắt tay vào triển khai nhiệm vụ. Ban đầu biên chế của đoàn chỉ có Ban chỉ huy đoàn, Đoàn vận tải 301 và các bộ phận xây dựng kho, bao gói, sửa chữa vũ khí… tất cả gồm 500 người. Ông Võ Bẩm là Đoàn trưởng kiêm Bí thư Ban cán sự. Thời gian đầu, trụ sở của đoàn làm việc tại các nhà 61, 63 và 83 phố Lý Nam Đế (Hà Nội). Những vị trí này xen giữa khu dân cư, gần cơ quan Bộ Quốc phòng, vừa thuận tiện liên hệ với cấp trên và cán bộ miền Nam ra công tác, vừa bảo đảm bí mật.
Sau này, ông Võ Bẩm cho biết:
Một sự trùng lập ngẫu nhiên nhưng đầy ý nghĩa: ngày đoàn chúng tôi chính thức nhận nhiệm vụ cũng là ngày kỷ niệm lần thứ 69 của Bác Hồ. Với tất cả lòng kính yêu Bác và bằng sự nhậy cảm đặc biệt chúng tôi thống nhất lấy ngày 19/5/1959 làm ngày truyền thống của đoàn và Đoàn công tác quân sự đặc biệt lấy tên là Đoàn 559. Và như một sự thống nhất biện chứng- con đường Trường Sơn được Đoàn 559 khai phá sau này cũng được chiến sĩ cùng đồng bào cả nước và bạn bè quốc tế gọi là Đường Hồ Chí Minh.
Khảo sát mở tuyến đường Trường Sơn đầu tiên
Đầu tháng 6/1959, ông Võ Bẩm trực tiếp vào Hồ Xá – Vĩnh Linh chủ trì cuộc họp cụ thể việc mở đường vào Nam với đại diện Khu 5 và Trị Thiên. Tại đây, mọi người đều nhận thấy thời gian này địch đã tăng cường hệ thống đồn bót, bổ sung lực lượng tuần phòng dọc đường số 9… Chúng ráo riết gom dân vào các trại tập trung, tung biệt kích rình mò, lùng sục dọc theo bờ nam sông Bến Hải; tuyến giao thông từ Tây Nguyên đến Trị – Thiên thường xuyên bị cắt đứt vì thế các cơ sở cách mạng trong vùng gặp không ít khó khăn… Nhưng khi bàn đến nhiệm vụ, mọi người đều bức xúc vì sao Đoàn 559 chỉ dừng lại bờ bắc mà không vượt qua bờ nam sông Bến Hải? Cuối cùng tất cả biểu quyết để đạt nguyện vọng lên Bộ Chính trị cho đoàn chuyển hàng vào sâu hơn nữa. Ý kiến này đã được chấp thuận.
Cuộc họp quan trọng này, dù diễn ra bí mật nhưng biệt kích địch vẫn phát hiện ra, đài Sài Gòn có đưa tin nhưng chúng không nắm rõ nội dung. Bộ Công an lập tức tìm biện pháp đối phó, nhờ sự giúp đỡ của nhân dân nên đã phát hiện ra tên gián điệp của Tàu Tưởng nằm vùng nấp trong vỏ bọc thợ sửa radio… Sau đó, Đoàn 559 tổ chức ngay đội khảo sát mở tuyến do Đoàn trưởng Võ Bẩm trực tiếp chỉ huy. Lâu nay đã có nhiều ý kiến tranh luận, trao đổi nhằm làm sáng tỏ một sự kiện của lịch sử là vị trí đầu tiên mà Đoàn 559 đã chọn để làm điểm xuất phát của đường huyền thoại Hồ Chí Minh tại đâu? Trong hồi ký Những nẻo đường kháng chiến, ông Võ Bẩm cho biết:
Qua tìm hiểu địa hình tây nam Quảng Bình, miền tây Vĩnh Linh và Trị – Thiên, để đảm bảo bí mật lại tránh được những nơi núi non quá hiểm trở, kết hợp nghiên cứu con đường do Lữ đoàn 270 của Quân khu 4 mở để cơ động lực lượng phòng thủ khu vực giới tuyến, chúng tôi quyết định chọn Khe Hó làm điểm xuất phát cho tuyến giao liên vận tải Trường Sơn. Khe Hó là một lạch nước sâu, nhỏ, ở dưới chân dãy núi Động Nóc, gần thượng nguồn rào Thanh, tây nam Vĩnh Linh; cách nông trường Bãi Hà non một cây số về phía tây nam; cách giới tuyến quân sự tạm thời không xa.
Từ Khe Hó, theo bước chân của người đồng chí Vân Kiều, chúng tôi phát triển theo hướng tây nam, qua làng Mít, vượt đỉnh 1001, đỉnh 1600, vượt sông Bến Hải, qua đỉnh 1701 còn gọi là động Voi Mẹp – động Hàm Nghi. Địa danh này là chứng tích của một thời đất nước đang cơn bĩ cực…
Leo được lên tới động Hàm Nghi, chúng tôi còn bắt gặp nơi đây những cây chè, gốc cam của quan quân nhà Nguyễn trồng thuở ấy. Sau này có những lúc trong tháng ngày trụ bám trên tuyến, bị sốt rét, tôi cũng được anh em cho ăn những quả cam hiếm hoi, uống những bát nước chè xanh tươi mát của những bậc tiền nhân để lại. Nhấm nháp những búp chè, quả cam gần như cây trái hoang dại, trong tôi trào lên cảm giác chua chát về những tháng ngày nước nhà tối tăm trong đêm trường nô lệ. Lẽ nào giờ đây, với một chính Đảng anh minh, Nhà nước công – nông, một quân đội bách chiến bách thắng, chúng ta lại phải chịu cảnh nước nhà bị chia cắt?
Từ động Hàm Nghi, chúng tôi chủ trương vạch một lối sang Chăng Hin, động Cà Lư, Cát Sứ, Rào Quán, vượt đường số 9, qua Đá Bàn, vào Tà Riệp, Pa Lin (tây nam Thừa Thiên)…
Về điều kiện tự nhiên, địa hình Trường Sơn nói chung và khu vực nam – bắc sông Bến Hải nói riêng đa phần hiểm trở, rừng nguyên sinh che phủ hoạt động vận chuyển trên mặt đất, giúp ta giành thế chủ động đối phó với kiểu chiến tranh ngăn chặn của địch. Nhưng địa bàn nơi đây chia cắt mạnh, gây nhiều khó khăn cho hoạt động vận chuyển của ta.
Địa hình bắc – nam sông Bến Hải sông suối dày đặc. Đỉnh Trường Sơn như nóc nhà. Sông suối phát nguồn từ đỉnh núi hoặc đổ về phía đông, chảy ra biển; hoặc trườn qua triền tây, đổ vào sông Mê Kông. Từ thượng nguồn, sông suối nơi đây có độ chênh rất lớn, lắm thác ghềnh. Mùa khô, đa phần sông suối cạn kiệt, nhưng vào mùa mưa, chỉ cần vài trận mưa rào, bỗng chốc chúng trở nên hung hãn, có thể cuốn phăng mọi thứ.
Dưới chân các dãy núi, thường là những thung lũng hẹp. Vào mùa mưa, gặp những cơn mưa to rất dễ biến thành những “túi nước” khổng lồ, chia cắt núi đồi thành những khu biệt lập. “Túi nước” là hiểm họa, nỗi kinh hoàng của những ai qua đây. Cộng vào đó, là sự nghiệt ngã của khí hậu vùng rừng nhiệt đới gió mùa hoang sơ, là môi trường lý tưởng cho các loại ký sinh trùng gây bệnh, đặc biệt là bệnh sốt rét. Rồi muông thú, cọp beo rình rập…
Vì nguyên tắc tuyệt mật, tuyến giao liên ban đầu phải tránh xa các bản làng… và vì yêu cầu bảo đảm sự bí mật tuyệt đối, khi khảo sát xoi đường, chúng tôi không đi theo những lối mòn, mặc dù điều đó rất thuận lợi; mà tìm lối đi mới ở bình độ cao hơn. Điều mà chúng tôi đúc kết thành một nguyên tắc cho mọi hành động lúc này là: “đi không dấu, nấu không khói, nói không tiếng”
Chuẩn bị vũ khí
Sau khi khảo sát xong, việc vận chuyển vũ khí được tiến hành gấp rút. Có một chi tiết mà không mấy người biết là 20 tấn vũ khí chiến lợi phẩm thu được trong kháng chiến chống Pháp thì loại súng như súng trường Mat, súng tiểu liên Tuyn của Pháp, Mỹ sản xuất đều phải hiệu chỉnh, sửa chữa lại; còn súng của Liên Xô, Trung Quốc, Hunggari… sản xuất đều phải tẩy xóa hết dấu vết nhãn mác, ký hiệu.
“Đề phòng trong quá trình vận chuyển gặp mưa gió, thậm chí gặp địch phải giấu xuống nước mà không bị hư hỏng, chúng tôi dùng vải có nhúng paraphin bọc kín súng sau khi bôi mỡ khắp lượt; ngoài cùng quấn ba lớp vải chống ẩm; sau đó vùi xuống sông Tô Lịch mấy ngày đêm. Khi vớt lên, tháo bọc vải, súng vẫn khô nguyên. Cùng với súng đạn, một số quân dụng thiết yếu như ống nhòm, địa bàn, dao găm… chiến lợi phẩm cũng được chọn sửa, bao gói cẩn thận”, ông Võ Bẩm đã cho biết như thế.
20 tấn vũ khí này nhanh chóng được bí mật chuyển tới khu tập kết của Đoàn 559 tại khu rừng già gần Khe Hó.
Các chiến sĩ tham gia vận tải vũ khí đợt đầu tiên trên danh nghĩa họ là công nhân khai thác gỗ hoặc công nhân của công trường chăn nuôi bò. Để tự vệ, cán bộ được trang bị súng ngắn, còn chiến sĩ mỗi tiểu đội chỉ phát 3 khẩu tiểu liên. Tất cả đều mặc áo bà ba đen, đội mũ lá, chân mang dép cao su, không dùng ba lô mà đeo gùi mây như đồng bào Vân Kiều; chỉ được nấu cơm vào ban ngày, ban đêm hạn chế tối đa việc sử dụng đèn pin; và nếu trên đường đi chẳng may bị địch phục kích bắt thì tự nhận là cán bộ nằm vùng để giữ bí mật tuyến giao liên.
Qua kết quả tuyến đường đã khảo sát, từ Khe Hó vào Tà Rụt, bắc A Lưới (tây Thừa Thiên) được chia thành cung đường, và mọi hoạt động vận tải vũ khí chỉ diễn ra vào ban đêm.
Sự ra đời chính thức của Đoàn 559
Ngày 13/8/1959, chuyến hàng đầu tiên của Đoàn 301, Đoàn 559 chính thức vượt Trường Sơn. Đó là thời điểm đã chứng minh cho nhận định của Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Bộ trưởng Bộ Quốc phòng là đúng đắn:
Con đường Trường Sơn, con đường Hồ Chí Minh là một công trình vĩ đại, nói lên ý chí, nghị lực, tinh thần dũng cảm và sáng tạo phi thường của dân tộc Việt Nam, quyết tâm đem sức người sức của của hậu phương lớn chi viện cho tiền tuyến lớn; là một trong những nhân tố chiến lược có ý nghĩa quyết định, đưa cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước đến thắng lợi hoàn toàn.
Để giữ bí mật tuyệt đối, lúc vượt đường 9 trong đêm tối, không trăng thì mỗi chiến sĩ gùi vác hàng, phải bình tĩnh dò dẫm đặt đúng bàn chân của mình vào hai miếng gỗ đặt dưới mặt đất, người đi cuối cùng qua đường phải nhặt theo các mảnh gỗ đó. Nhờ thế, sáng hôm sau nếu địch có đi tuần tra thì cũng không mảy may phát hiện ra một dấu chân nào của người lính để lại.
Ông Võ Bẩm cho biết thêm:
Khi vượt thượng nguồn sông Bến Hải, sông Ra Gã hoặc sông Đắc Krông… bộ đội phải dùng dây mây rừng buộc nối hai gốc cây giăng ngang sông, kết thân chuối rừng làm bè. Người vượt sông ngâm mình trong nước, kéo theo bè chuối chở súng đạn, men theo dây để sang sông. Hết sông sâu là núi cao, dốc đứng. Có những dốc cao, để vượt qua được, lúc đó bộ đội phải leo, nhích dần từng bước. Sau này anh em đã ghép ba hoặc bốn chiếc thang… nên mới có tên dốc là dốc Ba Thang, dốc Sáu Thang…
Sau 8 ngày đêm gian khổ băng rừng lội suối, những người lính quả cảm, gan dạ phi thường đã đưa được chuyến hàng đầu tiên an toàn vào đến Tà Riệp – bắc A Lưới. Ông Nguyễn Vạn – Thường vụ Khu ủy, đại diện Khu ủy Khu 5 đã xúc động nhận số hàng gồm 40 khẩu súng trường Mát, tiểu liên Tuyn, 10 thùng đạn và một ít quân dụng cần thiết. Tính đến hết tháng 8/1959, có đến 60 súng trung liên, 100 súng tiểu liên, súng trường và hàng ngàn viên đạn bộ binh được chuyển đến Khu 5. Thắng lợi này đã mở ra một triển vọng rất lớn nhằm thay đổi cục diện chiến trường miền Nam.
Tuy nhiên, điều khó khăn nhất, dễ lộ nhất vẫn là việc vượt đường số 9, cạnh đồn Rào Quán của địch. Qua những chuyến tải hàng lần sau, các chiến sĩ đã cải tiến bằng cách dùng một tấm ni lông trải qua đường, người vác hàng chạy trên đó, rồi người đi sau cùng sẽ cuộn lại đem theo. Nhưng về lâu dài xem ra cũng không ổn, sớm muộn sẽ bị lộ.
Do đó, khi báo cáo trực tiếp công việc với ông Lê Duẩn – Bí thư thứ nhất Ban Chấp hành Trung ương Đảng, ông Võ Bẩm đã nêu ra nỗi lo lắng của mình. Ông Lê Duẩn lắng nghe chăm chú rồi phát biểu:
Các đồng chí vào đó nghiên cứu xem có thể đào đường hầm xuyên qua đường số 9 được không?
Từ gợi ý sắc sảo này, ông Võ Bẩm chỉ đạo các chiến sĩ phải lưu ý tìm cho được một cống ngầm qua đường 9, vì thời trước khi thi công chắc chắn người Pháp đã làm không ít cống ngầm, có điều là ta chưa phát hiện ra thôi. Còn việc đào đường hầm thì không thể, vì sẽ gây tiếng động lớn và khó giấu đất đá. Quả nhiên, đúng như dự đoán trên, các chiến sĩ đã tìm ra cống ngầm cạnh đồn Rào Quán của địch. Đường kính cống chừng một mét, chui qua khá vất vả nhưng lại an toàn, kín đáo suốt một thời gian dài mà địch không phát hiện ra…
Đối với tuyến vận tải bộ, sau khi đã ổn định, phát triển về tổ chức, lực lượng và vận chuyển được những chuyến hàng thành công, ngày 12/9/1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 46/QĐ-QP chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc phòng; về Đảng, trực thuộc Tổng Quân ủy với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đưa đón cán bộ từ miền Bắc vào miền Nam, từ Nam ra Bắc; vận chuyển và đảm bảo hậu cần cho Đoàn 959 chuyên gia giúp bạn ở mặt trận Hạ Lào. Cùng với quyết định này, ông Võ Bẩm cũng nhận được quyết định giữ chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đoàn 559. Nhưng tất cả thắng lợi trên, đối với người lính mở đường huyền thoại Trường Sơn chỉ mới là bước đầu.
Những hy sinh đầu tiên trên tuyến đường Hồ Chí Minh
Bấy giờ, những đợt gió bấc tràn về, kéo theo những cơn mưa dầm. Quyết không để hàng ứ đọng, nên trên vai các chiến sĩ đã tăng cường số lượng hàng từ 30 ký đến 40 ký trèo đèo, vượt suối… Về phía địch, lúc này chúng cũng đã bắt đầu đánh hơi, phát hiện những hoạt động của ta. Do đó, chúng tăng cường “phòng tuyến chống thâm nhập”. Một mặt bọn thám báo cải trang thành những người đi tìm trầm, phu đồn điền cao su, cà phê để phục bắt bộ đội, mặt khác chúng còn tăng cường xây dựng hệ thống đồn bót dày đặc dọc đường số 9, chỉ riêng đoạn từ Cam Lộ đi Lao Bảo đã có tới bảy đồn!
Vào một đêm cuối tháng 10/1959, trong khi bảo vệ cho đội 6 và 7 giao hàng ở nam đường số 9, tổ trinh sát do thiếu úy Nguyễn Minh Thông (quê Nghi Lộc – Nghệ An) phụ trách đã lọt vào ổ phục kích của bọn thám báo tại bờ sông Đắc Rông. Lập tức một loạt đạn vang lên đanh thép xé tan không khí tĩnh mịch… Dù rơi vào thế bị động, nhưng các chiến sĩ trinh sát cũng dũng cảm đánh trả, tạo điều kiện cho các chiến sĩ vận tải rút lui an toàn. Trong cuộc đối đầu quyết liệt này, thiếu úy Nguyễn Minh Thông hy sinh và anh là liệt sĩ đầu tiên trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Trong Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh cho biết:
Ngay sau những “sự cố” trên, tháng 10/1959 Đoàn 559 quyết định chuyển chỉ huy sở, hệ thống kho tàng, sở chỉ huy tiểu đoàn 301, đội 1 ra làng Mít (Quảng Bình). Sở chỉ huy mới nằm sát tả ngạn sông Kiến Giang, cách Bang Rợn 10km về phía nam, cách đội 2 ở làng Mít (Vĩnh Linh) bắc sông Bến Hải một cung đường đi về khoảng 10 giờ.
Đồng thời theo lệnh của Ban Cán sự, đội 12, tiểu đoàn 301 khẩn trương cơ động theo hướng tây tới khu vực làng Ho, tây Quảng Bình – cách thượng nguồn một nhánh khác của sông Kiến Giang, sát chân đỉnh núi 1001, khẩn trương xây dựng lán trại, kho tàng. Đây là khu vực Đoàn chọn làm hậu cứ cơ bản, thuận tiện cho việc cơ động ở cả hai hướng đông và tây Trường Sơn (tr.46).
Tính đến hết năm 1959, chỉ với phương thức mang vác, Đoàn 559 đã chuyển cho Khu 5 và Trị Thiên được 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn, hàng ngàn quân cụ thiết yếu…
Mở đường Hồ Chí Minh trên biển
Không dừng lại ở việc mở đường bộ Trường Sơn, Bộ Chính trị còn quyết định mở thêm đường vận tải trên biển tiếp tục chi viện cho chiến trường miền Nam. Người đầu tiên được giao nhiệm vụ tổ chức, lần này, vẫn là ông Võ Bẩm. Đúng đêm 30 Tết Canh Tý (27/1/1960) chuyến vũ khí đầu tiên của Đoàn 603, do thiếu úy Nguyễn Bất làm thuyền trưởng, được lệnh rời cảng sông Gianh vào giao hàng cho Liên khu 5. Đây là những bước đi ban đầu để viết lên trang sử hào hùng của đường Hồ Chí Minh trên biển sau này….
Trở lại đường Trường Sơn, qua năm 1960, ông Võ Bẩm đề xuất một ý kiến táo bạo là cho phép chuyển các loại súng lớn. Ý kiến này được chấp thuận. Từ khi có súng đạn chi viện kịp thời, Khu 5 đã đánh thắng nhiều trận giòn giã. Địch lồng lộn đánh phá quyết liệt con đường vận chuyển đã hình thành. Chúng mở hai đợt chiến dịch “Hoành Sơn” với hàng ngàn lính chính quy và địa phương quân nhằm chặn cắt, xóa sổ tuyến giao liên. Trước tình thế nghiêm trọng này, không thể vận chuyển trên tuyến đường cũ, Ban Cán sự quyết định mở đường mới. Nhiều đoàn cán bộ, chiến sĩ được cử đi xoi đường ở tuyến đông Trường Sơn nhưng không có kết quả.
Với vai trò của mình, ông Võ Bẩm đã giải quyết tình huống sống còn này như thế nào? “Tháng 8/1960, Đoàn trưởng Võ Bẩm vào làng Mít trực tiếp chỉ đạo tổ chức lực lượng xoi đường mới dọc biên giới Việt – Lào, với phương châm “tránh địch, giấu dân”, vừa tìm đường vừa gây dựng cơ sở. Mãi đến tháng 3/1961, tổ xoi đường này mới bắt được liên lạc với đại diện Liên khu ủy 5 ở vùng Chun, trên dãy Trường Sơn” (SĐD, tr.58).
Về sau, ông Võ Bẩm cho biết rõ hơn ý định này:
Trên tinh thần hữu nghị đặc biệt và tình quốc tế vô sản, lực lượng yêu nước Lào đã đồng ý cho ta lật cánh đường mòn sang phía tây Trường Sơn. Con đường sẽ đi qua vùng đất mà lâu nay ta vẫn giúp bạn xây dựng cơ sở giữ vững thành quả cách mạng ở trung và nam Lào.
Bạn đồng ý cho ta mở đường này là tạo cho ta những thuận lợi to lớn, giúp việc chi viện miền Nam, có điều kiện mở rộng quy mô phù hợp với yêu cầu của thực tiễn phát triển ngày một lớn mạnh của cách mạng miền Nam trong cao trào đồng khởi.
Con đường này, bọn ngụy Sài Gòn không thể chủ động quấy phá ta; bọn ngụy Lào không dễ dàng ngăn cản ta. Điều quan trọng hơn là từ lâu tỉnh ủy Quảng Trị có mối hữu nghị mật thiết với những vùng dân cư biên giới giáp Lào…
(Xẻ dọc Trường Sơn – NXB Giao thông Vận tải – 1985, tr.52).
Song song với việc triển khai tuyến đường mới, lật cánh sang tây Trường Sơn để phát triển tuyến chiến lược thì Đoàn 559 vẫn quyết định quay lại tuyến đường cũ thăm dò quy luật hoạt động của địch để có hướng đối phó nhằm khôi phục lại. Trong thời điểm này, Mỹ ngụy tiến hành “chiến tranh đặc biệt” và gấp rút triển khai chương trình bình định miền Nam trong vòng 18 tháng. Vì thế, “phòng tuyến chống xâm nhập” được chúng đặc biệt quan tâm. Ngoài việc rải thám báo, biệt kích dọc theo biên giới Việt – Lào mà trọng tâm là đường số 9 thì chúng còn tung Sư đoàn 1 ra Quảng Trị lập đồn bót tại La Vang, Đông Hà…
Tháng 3/1961, chúng phối hợp với quân ngụy Lào đánh phá khốc liệt trên hành lang tây và đông Trường Sơn. Trước tình thế này, ta ngưng chuyển hàng và tìm biện pháp đối phó. Tháng 5/1961, công an vũ trang Vĩnh Linh cùng với trung đoàn 270, nhân dân địa phương tổ chức đợt đấu tranh chính trị kết hợp đấu tranh vũ trang ở khu vực phía tây đường số 9, buộc địch phải rút bỏ các vị trí A Rông, Tà Riệt, Nguồn Rôn, Tà Rụt… Cùng lúc liên quân Lào – Việt cũng phối hợp mở chiến dịch giải phóng đường số 9. Sau thắng lợi này, ta đã giải phóng một loạt căn cứ quan trọng nối liền vùng hạ Lào với miền Nam Việt Nam. Thừa thắng xông lên. Tuyến đường mới được khẩn trương thực hiện.
Trong Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh cho biết:
Ngày 14/6/1961, tuyến mới chính thức bước vào hoạt động. Phần lớn đoàn 70 (tức đoàn 301) chuyển sang hoạt động ở tuyến này. Trên tuyến hành lang cũ chỉ còn một bộ phận nhỏ làm nhiệm vụ giao liên.
Tuyến đường mới bắt đầu từ Vít Thù Lù (cao điểm 592) đi ngang qua động Vàng Vàng, bản A Chốc, vượt biên giới sang bản Tà Ha cao điểm 1034 (đất bạn), xuôi xuống bản Tà Lăng, qua Cha Ky, vượt sông Sê Pôn, đường số 9 (vùng Bản Keng), men theo chân cao điểm 549, qua Sa Đi, Mường Noòng tới La Hạp.
Cuối năm 1961, một số vùng huyện miền tây Quảng Trị được giải phóng, Đoàn 559 có điều kiện phát triển tuyến hành lang dọc theo biên giới Việt – Lào. Từ La Hạp, Đoàn 70 mở thêm một đường nữa vượt sông Tam Luông, qua Ta Oác vào tới Pe Hai giao hàng cho Trị Thiên và Khu 5.
Một đường khác được phát triển tiếp vào Ton Sa, làng Y Óp (thượng nguồn sông Sê Công, tây Bến Giàng khoảng 60km) rồi vào Tăng Non, giao hàng cho Khu 5 và Tây Nguyên.
Các tuyến mới mở ở nam đường số 9 có rất nhiều đoạn khá bằng phẳng; bộ đội ta chỉ cần mở rộng đường và gia cố thêm là có thể sử dụng xe đạp thồ để chuyển hàng (tr.71).
Những dòng tư liệu trên đây cho ta thấy từng bước phát triển của công việc vận chuyển trên đường Trường Sơn, từ chỗ năm 1959 bộ đội còn gùi hàng trên vai thì đến cuối năm 1961 đã dùng đến xe đạp thồ. Chiếc xe đạp thồ đầu tiên vào Trường Sơn là xe Favôrít có số khung là 20.220. Không dừng lại đó, có những tuyến đường ta còn sử dụng cả xe cơ giới. “Đến cuối tháng 6/1961, đường mới mở nối liền đường 12 ở Lằng Khằng tới Pác Nha Năng và đến tháng 12/1961 đã thông tới đường số 9 ở Mường Phin. Tuyến đường này dài trên 180km, mặt đường rộng 4m, vượt sông Sê Băng Phai, sông Sê Băng Hiêng và nhiều suối nhỏ. Do nối đường 12 với đường số 9 nên đường này có tên là đường 129. Thông đường 129 là một bước phát triển quan trọng của tuyến chiến lược 559 – đường Hồ Chí Minh. Từ thế độc tuyến Trường Sơn, Đoàn 559 đã mở thêm đường dọc theo biên giới Việt – Lào và đặc biệt quan trọng là đường tây Trường Sơn. Từ đơn thuần là đường gùi thồ nội địa và dọc biên giới, Đoàn đã tiến tới mở ở tây Trường Sơn đường cho xe cơ giới” (SĐD, tr.74). Đó là lúc mà Đoàn đã được trang bị 6 xe Gát 69, 2 xe Gát 51, 16 xe Gát 63 và hơn 600 xe đạp thồ v.v… Và lực lượng vận chuyển không còn phòng tránh lực lượng tấn công của địch mà họ còn được trang bị thêm súng bộ binh, lựu đạn đặng “đánh địch mà đi, mở đường mà tiến”…
Đưa pháo lớn và máy bay vào phục vụ tuyến đường chiến lược
Nhờ có những tuyến đường mới này, ta bắt đầu đưa pháo lớn vào chiến trường, loại pháo đầu tiên được chọn là pháo 75 ly. Và cũng trong thời điểm này, ta cũng bắt đầu dùng máy bay vận chuyển vũ khí đến sân bay Tà Khống (cách Sê Pôn khoảng 5km) hoặc thả dù gạo xuống trục đường 129.
Trong hồi ký, ông Võ Bẩm cho biết những thông tin rất thú vị:
Cái khó đối với việc cho máy bay hạ cánh ở sân bay Thà Khống là sau khi địch rút bỏ nơi này, đài dẫn đường không làm việc được, ta không có bộ phận điều khiển ở mặt đất.
Theo yêu cầu của anh Đặng Tính (Tư lệnh kiêm Chính ủy Bộ Tư lệnh Không quân) trong thời gian có mặt ở Sê Pôn, tôi tổ chức thông báo cho không quân ta. Cứ hai giờ một lần, chúng tôi báo cho sân bay Vinh, Đồng Hới biết thời tiết ở Sê Pôn, mây dày hay mỏng, trần mây thấp hay cao.
Một tuần sau, anh Tính mới cử được một tổ khí tượng sang làm việc ở sân bay Thà Khống. Cũng từ đó, được chuyên gia Liên Xô giúp đỡ, không quân vận tải của ta từ sân bay Vinh và sân bay Đồng Hới chở hàng sang hạ cánh tại sân bay Thà Khống, hoặc thả dù hàng xuống Mường Phin; trong đó có một số sơn pháo 75mm, súng cối, ĐKZ và nhiều máy vô tuyến điện.
Có một điều ít ai ngờ tới, nhưng thật sự là niềm vinh dự của những người con của miền Nam, là trong số hàng hóa mà máy bay ta chuyển vào thời điểm này có thiết bị kỹ thuật để lắp đặt Đài phát thanh Giải phóng Tiếng nói của Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam vừa được thành lập (tr.164 – 165).
Đối đầu với chiến tranh ngăn chặn của Mỹ
Trong cuộc chiến tranh thần thánh của dân tộc ta, những thắng lợi này chỉ mới là bước đầu. Trước sự lớn mạnh của tuyến đường Trường Sơn huyền thoại, Mỹ ngụy đã tập trung mọi phương tiện khoa học kỹ thuật hiện đại nhất để đối phó. Chúng đã trút xuống tuyến đường hàng triệu tấn bom, hàng vạn loạt B52, hàng trăm đợt máy bay rải chất độc hóa học suốt tuyến, nhất là ở cửa ngõ ra các chiến trường; chúng đã ném vào đây hàng chục sư đoàn, trung đoàn bộ binh được trang bị đầy đủ vũ khí để đánh phá dai dẳng. Nhưng cuối cùng chúng cũng đành bất lực trước sự lớn mạnh kỳ diệu và không ngừng phát triển của đường Trường Sơn. Có câu nói nổi tiếng trong cuộc chiến tranh vệ quốc của Hồng quân Liên Xô:
Ở đây mọi sắt thép đều chảy ra thành nước, chỉ có con người đi qua được
cũng có thể dùng để phản ánh tài trí của bộ đội đường Hồ Chí Minh. Chẳng hạn để chống lại hàng rào điện tử Macnamara, ta chủ trương mở lại đường 15, đi xuyên qua vùng núi phía tây Quảng Bình, từ đường này có nhiều lối sang Lào. Sau khi khảo sát thì có nhiều phương án đặt ra. Hoặc dùng phương pháp đục xuyên đường hầm, nhưng phải kéo dài thời gian trong vòng ba năm; hoặc làm đường vòng qua núi đá, nhưng con đường vận chuyển sẽ dài ra khoảng hơn 50km. Cuối cùng Bộ Chính trị chọn phương án là mở đường 15 thông với đường 9, đặt tên là đường 20. Ông Võ Bẩm cho biết: “Tôi phấn khởi trình bày kế hoạch làm đường. Đồng chí Lê Duẩn lại cắt ngang bằng một câu hỏi: Bốn tháng có thể làm xong không?Dạ, nếu Chính phủ tăng cường người và cung cấp đầy đủ những yêu cầu vật tư kỹ thuật thì nhất định có thể hoàn thành với thời hạn ấy. Tôi trình bày cụ thể về số lượng người, thuốc nổ, máy móc thiết bị, vật tư…
Đồng chí Lê Duẩn nói luôn: Tôi đồng ý với kế hoạch này. Về kế hoạch huy động người, Ban Bí thư chỉ đạo cho Đoàn Thanh niên tổ chức thanh niên xung phong. Còn về vật tư kỹ thuật thì Bộ Quốc phòng và Bộ Giao thông cùng bàn bạc với nhau… Cả hội nghị thống nhất với quyết tâm của đồng chí Bí thư thứ nhất, thế là con đường 20 chính thức khai sinh.
Bộ Tư lệnh 559, giao cho tôi chỉ đạo việc tổ chức thi công con đường ấy. Tôi bắt tay vào làm việc. Nhà nước đưa vào kế hoạch cho tôi 500 tấn thuốc nổ. Anh Vũ Quang và anh Đệ bên Trung ương Đoàn lo việc điều động 1 vạn thanh niên xung phong. Trung đoàn 10 công binh phá đá dốc Ba Thang được điều thẳng cho Đoàn 559. Khó nhất là việc phá núi đá dốc Ba Thang. Chúng tôi giao cho một trung đoàn công binh đảm nhiệm. Trung đoàn 10 này, đã được tập huấn cách đánh bộc phá với khối lượng thuốc nổ lớn, mỗi quả nổ từ 50 đến 80kg.
Hơn một vạn rưỡi quân tập trung trên một vùng núi để mở một tuyến đường dài hơn 100 cây số nên vấn đề tiếp tế trở nên căng thẳng. Phía đông có đường 15, chở gạo đến. Phía tây phải đi vòng trên đường 128 tây Trường Sơn. Dốc Ba Thang lại hoàn toàn chưa có một lối nào đi vào để tiếp tế. Anh em đã phải vất vả lắm mới khắc phục được khó khăn để chở gạo nuôi quân. Anh Tường Lân, Thứ trưởng Bộ Giao thông được phái sang làm Phó Tư lệnh 559, được cử đặc cách chỉ đạo mở đường này, đại tá Hồng Kỳ chủ nhiệm chính trị Đoàn 559 cũng được tăng cường về đây chịu trách nhiệm về công tác Đảng và công tác tư tưởng. Đây là công trường làm đường lớn nhất với thời gian nhanh nhất, có ý nghĩa chiến lược của hệ thống con đường mang tên Bác” (Xẻ dọc Trường Sơn – NXB Giao thông Vận tải – 1985, tr.76 – 77).
Đối với tuyến vận tải bộ, sau khi đã ổn định, phát triển về tổ chức, lực lượng và vận chuyển được những chuyến hàng thành công, ngày 12/9/1959, Bộ Quốc phòng ra quyết định số 46/QĐ-QP chính thức thành lập Đoàn 559 trực thuộc Bộ Quốc Phòng; về Đảng, trực thuộc Tổng Quân ủy với nhiệm vụ mở đường, vận chuyển vật chất, đưa đón cán bộ từ miền Bắc vào miền Nam, từ Nam ra Bắc; vận chuyển và đảm bảo hậu cần cho Đoàn 959 chuyên gia giúp bạn ở mặt trận Hạ Lào. Cùng với quyết định này, ông Võ Bẩm cũng nhận được quyết định giữ chức Đoàn trưởng kiêm Chính ủy, Bí thư Đảng ủy Đoàn 559.
Nhưng tất cả thắng lợi trên, đối với người lính mở đường huyền thoại Trường Sơn chỉ mới là bước đầu.
Bấy giờ, những đợt gió bấc tràn về, kéo theo những cơn mưa dầm. Quyết không để hàng ứ đọng, nên trên vai các chiến sĩ đã tăng cường số lượng hàng từ 30 ký đến 40 ký trèo đèo, vượt suối… Về phía địch, lúc này chúng cũng đã bắt đầu đánh hơi, phát hiện những hoạt động của ta. Do đó, chúng tăng cường “phòng tuyến chống thâm nhập”. Một mặt bọn thám báo cải trang thành những người đi tìm trầm, phu đồn điền cao su, cà phê để phục bắt bộ đội, mặt khác chúng còn tăng cường xây dựng hệ thống đồn bót dày đặc dọc đường số 9, chỉ riêng đoạn từ Cam Lộ đi Lao Bảo đã có tới bảy đồn! Vào một đêm cuối tháng 10/1959, trong khi bảo vệ cho đội 6 và 7 giao hàng ở nam đường số 9, tổ trinh sát do thiếu úy Nguyễn Minh Thông (quê Nghi Lộc – Nghệ An) phụ trách đã lọt vào ổ phục kích của bọn thám báo tại bờ sông Đắc Rông. Lập tức một loạt đạn vang lên đanh thép xé tan không khí tĩnh mịch…
Dù rơi vào thế bị động, nhưng các chiến sĩ trinh sát cũng dũng cảm đánh trả, tạo điều kiện cho các chiến sĩ vận tải rút lui an toàn. Trong cuộc đối đầu quyết liệt này, thiếu úy Nguyễn Minh Thông hy sinh và anh là liệt sĩ đầu tiên trên tuyến đường Hồ Chí Minh. Trong Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh cho biết:
“Ngay sau những “sự cố” trên, tháng 10/1959 Đoàn 559 quyết định chuyển chỉ huy sở, hệ thống kho tàng, sở chỉ huy tiểu đoàn 301, đội 1 ra làng Mít (Quảng Bình). Sở chỉ huy mới nằm sát tả ngạn sông Kiến Giang, cách Bang Rợn 10km về phía nam, cách đội 2 ở làng Mít (Vĩnh Linh) bắc sông Bến Hải một cung đường đi về khoảng 10 giờ. Đồng thời theo lệnh của Ban Cán sự, đội 12, tiểu đoàn 301 khẩn trương cơ động theo hướng tây tới khu vực làng Ho, tây Quảng Bình-cách thượng nguồn một nhánh khác của sông Kiến Giang, sát chân đỉnh núi 1001, khẩn trương xây dựng lán trại, kho tàng. Đây là khu vực Đoàn chọn làm hậu cứ cơ bản, thuận tiện cho việc cơ động ở cả hai hướng đông và tây Trường Sơn” (tr.46).
Tính đến hết năm 1959, chỉ với phương thức mang vác, Đoàn 559 đã chuyển cho Khu 5 và Trị Thiên được 1.667 khẩu súng bộ binh, hàng trăm nghìn viên đạn, hàng ngàn quân cụ thiết yếu…
Thậm chí, trên đường Trường Sơn này, một cây gậy đơn sơ cũng có phần góp sức hữu hiệu cho người chiến sĩ, khi họ hành quân đường dài, mang vác nặng, vượt qua dốc thẳm, núi cao, suối sâu một cách dễ dàng. Chiếc gậy này được đặt tên là “chiếc gậy Trường Sơn”, lần đầu tiên ra đời tại xã Hòa Xá – nằm trên triền sông Đáy, giáp ranh giữa đồng bằng và vùng núi, thuộc phía tây nam huyện Ứng Hòa (Hà Tây). Để xây dựng lực lượng thanh niên tại địa phương sẵn sàng chi viện cho Trường Sơn, xã này đã tổ chức ra “Phân đội dự bị” (còn gọi là “Bộ đội làng”). Trong quá trình luyện tập vất vả, mang vác vũ khí, trang bị giống như bộ đội vào chiến trường, các chiến sĩ trong phân đội đã nảy ra sáng kiến dùng chiếc gậy, vì nhận thấy nó có nhiều tiện lợi trong lúc hành quân. Ủng hộ tinh thần của thanh niên trong xã, các bậc phụ lão đã tổ chức sản xuất và đặt tên là “chiếc gậy Trường Sơn”, làm tặng vật khi con cháu của xã lên đường tòng quân đánh Mỹ. Từ đó, “chiếc gậy Trường Sơn” đã trở thành biểu tượng tinh thần của thanh niên- đúng như ca khúc của nhạc sĩ Phạm Tuyên đã viết:
“Thanh niên quê tôi làm chiếc gậy hành quân. Đặt cho tên gọi là chiếc gậy Trường Sơn. Luyện cho đôi chân vượt đường xa không mỏi. Luyện cho tinh thần là chỉ tiến không lui…”.
Những năm tháng công tác sau khi rời Trường Sơn
Đối với ông Võ Bẩm sau khi hoàn thành con đường 20 rất nổi tiếng này, ông được lệnh rút ra Hà Nội để chữa bệnh, vì đòn thù thời hoạt động bí mật trỗi dậy và những năm tháng lăn lộn trên đường Trường Sơn đã khiến sức lực của ông suy kiệt trầm trọng. Sau khi sang Trung Quốc chữa bệnh, trở về nước ông được Quân ủy Trung ương – Bộ Quốc phòng bổ làm Cục trưởng Cục Quản lý giáo dục, Bí thư Đảng ủy cơ quan Bộ Tổng Tham mưu kiêm Chủ nhiệm Chính trị Bộ Tổng Tham mưu, rồi năm 1970 ông lại được bổ nhiệm làm Phó Tổng Thanh tra quân đội và năm 1974 được phong quân hàm thiếu tướng.
Giá trị lịch sử của đường Trường Sơn
Con đường huyền thoại Trường Sơn hoàn thành được là do xương máu của hàng ngàn người con ưu tú của thế hệ Hồ Chí Minh. Trải qua 16 năm gian nan chiến đấu từ giai đoạn thiếu tướng Võ Bẩm làm Tư lệnh đến giai đoạn thiếu tướng Phan Trọng Tuệ, trung tướng Hoàng Văn Thái rồi trung tướng Đồng Sĩ Nguyên giữ cương vị này là cả một quá trình phát triển, sáng tạo không ngừng.
“Trong 16 năm đó, bộ đội Trường Sơn đã vận chuyển đến các chiến trường 1.349.060 tấn vũ khí và vật chất các loại, bảo đảm hành quân cho hai triệu lượt người gồm bộ đội, thương bệnh binh, cán bộ, quân dân, chính, Đảng, đồng bào và con em miền Nam vào chiến trường và ra miền Bắc, cơ động nhiều quân đoàn và sư đoàn chủ lực và các đoàn binh khí kỹ thuật trong các chiến dịch lớn, đáp ứng kịp thời yêu cầu của các chiến trường, qua các giai đoạn chuyển biến chiến lược của cuộc chiến tranh”.
“Thời gian sẽ lùi sâu về quá khứ nhưng huyền thoại về đường Hồ Chí Minh trong kháng chiến chống Mỹ, cứu nước vẫn mãi mãi ngời sáng trong trang sử oanh liệt của dân tộc ta như một thiên anh hùng ca bất tử tô thắm truyền thống đánh giặc, giữ nước của Quân đội nhân dân Việt Nam anh hùng, dân tộc Việt Nam anh hùng, tiếp sức mạnh cho mọi thế hệ bảo vệ và xây dựng thành công Tổ quốc Việt Nam xã hội chủ nghĩa” (Lịch sử Đoàn 559 bộ đội Trường Sơn đường Hồ Chí Minh – tr.684).
Đường Hồ Chí Minh trong thời bình
Ngày nay, thế hệ trẻ vẫn tiếp tục phát huy truyền thống đường Hồ Chí Minh huyền thoại. Tại làng Xuân Sơn, xã Xuân Trạch (Quảng Bình) – một trong những “tọa độ lửa” thời chiến tranh – ngày 5/4/2000, Thủ tướng Chính phủ Phan Văn Khải đã phát lệnh khởi công xây dựng đường Hồ Chí Minh. Trong tạp chí Báo ảnh Việt Nam của Thông tấn xã Việt Nam số phát hành tháng 10/2001 cho biết những thông tin rất thú vị:
Theo báo cáo của Ban quản lý dự án, trong tổng số 1.320 km đường Hồ Chí Minh được đầu tư trong giai đoạn 1 (2000-2003) cho 2 làn xe ô tô từ Hà Tây đến Kon Tum, chỉ có 220 km phải xây dựng mới, còn lại là cải tạo và nâng cấp các tuyến đường của hệ thống đường vận tải Trường Sơn thời chiến tranh. Cùng với quốc lộ 1 chạy theo trục dọc Bắc – Nam phía đông đường Hồ Chí Minh, sẽ là trục đường song song phía tây nhằm đảm bảo giao thông thông suốt quanh năm mà không ảnh hưởng của mưa bão. Trên nền quốc lộ 1 hiện đang khai thác, Việt Nam phải vay của các tổ chức tài chính quốc tế và Nhật Bản hàng tỷ USD cũng chỉ đủ vốn đầu tư để nâng cấp mặt đường – do nền đường quốc lộ 1 sau khi cải tạo vẫn còn bị ngập lụt gây ách tắc giao thông mỗi khi có mưa lũ vào khoảng thời gian từ tháng 8 đến tháng 11 hàng năm, đặc biệt là khu vực miền Trung. Trong khi đó, với khoảng đầu tư cho đường Hồ Chí Minh trong giai đoạn 1 khoảng 360 triệu USD. Khi hình thành đường Hồ Chí Minh, cùng với 63 trục đường ngang theo hướng Đông – Tây sẵn có sẽ nối thông quốc lộ 1 với đường Hồ Chí Minh tạo thành một mạng lưới giao thông thuận lợi. Trong đó, có những đường sẽ đóng vai trò hành lang giao thông từ lục địa Đông Dương và Nam Á ra các cảng biển phía Đông của Việt Nam như quốc lộ 6, 8, 12, 9, 18…
Đường Hồ Chí Minh với chiều dài bám dọc theo dãy núi Trường Sơn, đi qua 16 tỉnh, còn là con đường phát triển và giao lưu kinh tế, văn hóa trong khu vực 28 triệu người phần lớn sống dưới mức bình quân của cả nước và 10 triệu ha đất có khả năng trồng cây lâm nghiệp và công nghiệp chưa được khai thác do cách xa thị trường tiêu thụ…
Với bản lĩnh, trí tuệ, nhiệt tình của thế hệ trẻ chúng ta tin rằng đường Hồ Chí Minh sẽ được xây dựng hoàn chỉnh trong thời bình.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 6 – Danh nhân cách mạng Việt Nam, Nxb Trẻ.