Nguyễn Hữu Thận (1757 – 1831)

Nguyễn Hữu Thận (1757 – 1831)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Người ứng đối ấy là ai? Trước đây ở vùng Quảng Trị thường lưu truyền những bài toán đố:

Anh đi thì quế chưa trồng
Anh về quế đã đâm bông trăm ngành
Một ngành mười tám bông xanh
Ba bông bốn trự (tiền) đố anh mấy tiền?

Hoặc:

Mai anh đi chợ
Gửi một quan tiền
Mua lấy thanh yên
Vừa cam vừa quýt
Cam ba đồng một
Quýt một đồng năm
Thanh yên một trái năm đồng
Chẳng nhiều chẳng ít, một trăm chẵn chòi

Ai là người đã đặt những bài toán ấy? Đó là Nguyễn Hữu Thận. Trong Đại Nam nhất thống chí do Quốc sử quán triều Nguyễn biên soạn không ghi tên ông vào phần nhân vật đời Nguyễn – mà chỉ ghi tên con ông (!). Người đó là Nguyễn Hữu Thận sinh tháng 4/1757, quê ở làng Đại Hòa, tổng An Dã, huyện Đại Lăng, phủ Triệu Phong (Thừa Thiên – Huế) hiệu Chân Nguyên, tự Ý Trai. Ông còn là người có công làm ra lịch, được nhân dân gìn giữ để sử dụng trong vòng 112 năm ở nước ta (từ 1813 đến 1945).

Năm 1802 Nguyễn Ánh lên ngôi lấy niên hiệu là Gia Long và vài năm sau mới sai sứ sang nhà Thanh báo tin vì theo lệ khi có vua kế vị, ta phải sang sứ sang Tàu báo tin vua cũ đã mất (hoặc bị truất phế hoặc vì lý do gì đó) và xin phong vua mới. Sau đó sứ Tàu mới đem sắc thư sang làm lễ phong, bấy giờ vua ta mới thành một quốc vương chính thức đối với họ. Tương truyền, khi phái đoàn của ta vào bái kiến vua Gia Khánh (Thanh Nhân Tông), một cận thần của triều Thanh đột ngột hỏi:

Quốc vương các ông đặt hiệu là Gia Long, có phải ý muốn ngang hàng với hai hoàng đế thiên triều là Càn Long và Gia Khánh không?

Chánh sứ của ta từ tốn đáp ngay:

Thưa không phải, nước chúng tôi phía Nam có Gia Định, phía Bắc có Thăng Long nên vua chúng tôi mới đặt hiệu như thế.

Câu trả lời khôn ngoan, khéo léo, thông minh khiến nhà Thanh phải khen tài ứng đối, vừa giữ được hòa khí vừa không nhục quốc thể. Ngày xưa, nước ta có những cơ quan nghiên cứu về thiên văn, chẳng hạn thời Trần có Thái sử cục lịnh, thời Lê có Thái sử cục, thời Lê – Trịnh có Tư thiên giám, sau đó là Khâm thiên giám… Các cơ quan thiên văn này, đồng thời cũng là nơi làm lịch. Ví dụ thời Lê – Trịnh đặt tên lịch là lịch Khâm Thụ (nghĩa là mệnh lệnh của trời). Năm 1780 khi xưng vương ở Gia Định, để tỏ rõ chính thống, Nguyễn Ánh đã ban hành lịch gọi là lịch Vạn Toàn (nghĩa là tính được chu đáo) và khi lên ngôi thì lịch này vẫn được sử dụng. Trong Lịch triều hiến chương loại chí, ở phần Lễ nghi chí, nhà bách khoa Phan Huy Chú có viết:

Hàng năm, Tư Thiên giám tính trước lịch công bố năm sau, đến tháng 6 viết ra hai bản dự thảo, một bản dâng lên vua và khải với chúa xin lãnh tiền công mua giấy mục để in. Bản lịch dự thảo dâng lên, vua xem xong rồi giao cho Trung thư giám viết lại, xong giao cho trị giám việc khắc in. Khi bản khắc xong, Tư Thiên giám vâng lịnh đối chiếu xem xét rồi cho in. Trong tháng 12 chọn ngày dâng lên, vua chuẩn y, đến ngày 24 tháng 12, là lễ Tiến lịch. Sáng ngày hôm ấy công hầu bá và các quan văn võ theo chỉ chúa, đều đủ phẩm phục, vào triều làm lễ. Làm lễ xong, Tư thiên giám bưng cái án lịch ở trước ngự tọa sang tiến ở phủ chúa. Quan Lễ khoa đem lịch ban cho các quan. Các quan quỳ xuống để nhận, giơ lịch lên ngang trán rồi lui ra.

Tài liệu này đã cho thấy ý nghĩa quan trọng của việc làm lịch thời ấy. Tư thiên giám sang đời Nguyễn được đổi tên là Khâm thiên giám. Cách làm lịch của ta hồi đó vẫn theo phép lịch Đại Thống (nhà Minh) hoặc lịch Thời Hiến của nhà Thanh.

Trong sách Ý Trai toán pháp nhất đắc lục, Nguyễn Hữu Thận cho biết là từ thuở 8 tuổi, ông đã được thân phụ dạy cửu chương hoặc giảng cho nghe về phép lịch Đại Thống của nhà Minh. Lớn lên, qua kiểm nghiệm của thực tế ông thấy lũ lụt, hạn hán thì năm nào cũng có nhưng lịch Đại Thống lại dự báo không đúng. Vậy làm sao sửa chữa, bổ cứu để cải tiến hầu giúp ích cho bà con nông dân? Câu hỏi ấy cứ âm ỉ trong lòng ông suốt năm tháng hoa mộng của tuổi trẻ.

Con đường làm quan 

Cơn lốc của thời đại đã cuốn ông trong biến động của thời cuộc. Khi ngọn cờ đào chính nghĩa của Nguyễn Huệ từ phía Nam kéo ra đánh đuổi chúa Trịnh khỏi Thuận Hóa, ông hăm hở ra giúp nhà Tây Sơn và làm đến chức Hữu thị lang bộ Hộ. Năm 1801 khi Nguyễn Ánh chiếm được Phú Xuân thì ông phải “hiệu thuận” – theo triều đại mới “đói công chuộc tội”(!). Buổi đầu ông làm Chế cáo ở Viện hàn lâm, rồi làm Thiêm sự ở bộ Lại. Ít lâu sau làm Cai bạ ở Quảng Ngãi. Năm 1809 ông lại trở về triều nhậm chức Hưu tri tham bộ Lại, vài tháng sau được cử làm Chánh sứ cùng với hai phó sứ là Lê Đắc Tần và Ngô Tuấn sang Trung Quốc. Chuyến đi này đã khiến ông rộn lên niềm vui và ước mơ của thời trai trẻ: lịch số và toán học. Do đó, trong suốt chuyến đi sứ ông đã dành nhiều thời gian lưu tâm, tìm kiếm để mua cho bằng được hai loại sách quý này.

Trong Đại Nam liệt truyện của Quốc sử quán triều Nguyễn, quyển 25 “Truyện các quan mục XXII” có ghi lại như sau:

Bọn Thận vào bệ từ, vua dụ rằng:

Bọn người phụng mệnh đi sứ, nên thận trọng về lời lẽ để trọng quốc Năm thứ 9, Thận từ nước Thanh trở về, đem quyển “Đại Thanh lịch tượng khảo thành thư” dâng lên. Vua hỏi, Thận tâu nói:

Kính báo cho thần dân biết thời tiết làm ruộng là công việc đầu tiên của người làm chủ một nước. Quyển lịch “Vạn toàn” của nước ta, cùng với quyển “Thời hiến thư” của nước Đại Thanh, từ trước đến giờ đều dùng theo như “Đại thống lịch pháp” của nhà Minh, hơn 300 năm nay chưa có đổi định lại, nên càng lâu càng sai. Khoảng năm Thanh Khang Hy mới tham khảo cách tính lịch của Tây dương, làm thành sách này, về phép đo lường, suy tính rất rõ ràng, so với sách Đại thống càng kỹ lưỡng hơn, mà về phép tính tam tuyến, bát giác tinh diệu, xin giao cho Khâm thiên giám, bảo các sinh viên về môn thiên văn xem xét tìm cách tính, thì độ số của trời được đều, mà tiết hậu được đúng vậy”.

Sự ra đời của lịch Hiệp kỷ

Bộ sách dâng lên cho vua Gia Long là bộ sách mà lâu nay các nhà thiên văn học của ta đều ước mơ – nó giảng giải rõ về những nguyên lý thiên văn và toán học về lịch, trình bày hướng dẫn các tiết mục phép lịch Thần Hiến và đặt sẵn các biểu đồ lập thành.

Đại Nam liệt truyện có viết thêm:

Năm thứ 10, Hộ bộ là Lê Quang Định nói: “Thận trong bụng mưu tính tinh thông, tài ấy có thể đại dụng”. Bèn từ Lại bộ chuyển (Thận) sang hữu tham tri Hộ bộ. Mùa xuân năm thứ 11, (Thận) kiêm phó quản các công việc ở Khâm thiên giám. Năm thứ 14, vua thường cùng với Thận bàn về thiên tượng, nói rằng: “-Ngày sóc ngày vọng mà gặp có nhật thực, nên bãi triều hạ và yến thưởng”, để tỏ ý biết sợ hãi tu tính. Thận nhân đó tâu nói: “-Thần suy tính thiên tượng đến tháng 4 và tháng 10 năm Đinh Sửu đều có nhật thực”. Vua nói: “-Nếu quả có, thòi 2 lễ hưởng về mùa hạ, mùa đông nên đổi ngày khác mới phải”. Lại bàn đến đạo Thiên Chúa giáo ở Tây dương, Nguyễn Văn Thắng tâu nói: “-Thiên Chúa ra đời tới nay đã được 1815 năm”, vua sai Thận tính thử, thời thuộc về năm Tân Dậu, niên hiệu nguyên thủy thứ 1 đời Hán Bình đế. Năm thứ 15, (Thận) được đổi bổ tả tham tri bộ Hộ lĩnh Hộ tào ở Bắc thành. Năm thứ 16 (1817) tức năm Đinh Sửu, quả có nhật thực. Vua cùng các quan bàn về phép làm lịch nói: “- Chức Khâm thiên giám, duy có học thuật của Nguyễn Hữu Thận mới đủ đương được”. Mùa đông năm ấy, cho triệu (Thận) về, thăng làm Lại bộ thượng thư. Năm Minh Mạng thứ 1, đổi (Thận) sang làm Hộ bộ thượng thư. Năm thứ 2 kiêm quản cả việc ở phủ Nội vụ, rồi kiêm quản cả công việc ở Khâm thiên giám.

Thời gian này, Nguyễn Hữu Thận đã tâu xin làm lịch Hiệp kỷ thay cho lịch Vạn Toàn đang sửdụng chính thống trong cả nước. Bộ lịch của ông được triều đình ban bố bắt đầu sử dụng từ năm 1813. So với những bộ lịch trước đó thì ông đã cải tiến nhiều như thời tiết được báo chính xác, giúp nông dân cày cấy kịp thời vụ v.v… Công việc đang hào hứng đối với ông thì năm 1816 nhà vua lại thăng cho ông lên làm Thượng Thư bộ Lại. Điều này khiến ông không vui. Năm 1820, khi Minh Mạng lên ngôi, ông xin được trở lại công việc mà mình đang đeo đuổi, hai năm sau ông mới được giao quản Khâm thiên giám chủ nhiệm sách Vạn niên thư. Lập tức ông tâu vua định tiết khí thời hậu ở kinh đô Phú Xuân, Gia Định và Bắc Thành: theo kinh độ địa lý mà tính giờ mọc lặn của mặt trời và ngày đêm ngắn dài: theo độ cao của địa điểm phía bắc mà định vĩ độ. Những đề nghị này cho thấy tầm nhìn khoa học của Nguyễn Hữu Thận và bộ lịch Hiệp kỷ (nghĩa là: Hợp với cương kỷ của tròi) ngày càng chính xác, phổ biến sâu rộng và được sử dụng mãi cho đến năm 1945. Do đó, không phải ngẫu nhiên khi Quốc sử quán triều Nguyễn dù không ghi tên ông vào Đại Nam nhất thống chí, nhưng cũng phải thừa nhận trong Đại Nam liệt truyện với dòng chữ tôn vinh chói lọi:

Hữu Thận cho học thuật, thạo việc làm quan, tính về lịch học, giỏi suy tính, nhà thiên văn học không có ai hơn được.

Quan điểm

Có lần vua Minh Mạng bảo triều thần rằng:

Trẫm từ khi lên ngôi đến nay lúc nào cũng nâm nấm, nem nép chỉ sợ chưa hợp ý Trời, nay hạn, dịch làm tai có phải đấng Thượng đế đã khiển trách ta là không có đức vậy ư?

Quan Lại Bộ Thượng thư là Nguyễn Hữu Thận tâu rằng:

Tai trời lưu hành từ đời xưa thường có. Đấng vương giả mỗi khi gặp tai biến biết sợ mà lo thêm sửa đức chính thời tai lại chuyển nguy làm lành vậy

Điều này cho thấy Nguyễn Hữu Thận đã kín đáo khuyên nhà vua làm thêm nhiều việc đức. Âu đó cũng là thái độ của trí thức trước mệnh nước,

Cuối đời

Ngoài việc soạn tác phẩm Ý Trai toán pháp nhất đắc lục (Một điều tâm đắc về toán pháp của Ý Trai) đã cho thấy không những giỏi về lịch mà ông còn giỏi cả về toán học. Nói như giáo sư Hoàng Xuân Hãn thì Nguyễn Hữu Thận là một nhà toán học Việt Nam đã bàn luận tới ma phương (carré magique). Tưởng cũng nên nhắc lại rằng, một ma phương cấp n là một hình vuông gồm n² số nguyên khác nhau được sắp xếp sao cho tổng số các số theo hàng ngang, hoặc theo cột dọc, hoặc theo đường chéo, là bằng nhau, và bằng một hằng số gọi là hằng số ma của hình vuông. Ma phương gọi là chuẩn khi n² số là n² số nguyên dương đầu tiên. Người ta chứng minh được rằng hằng số ma của ma phương chuẩn cấp là n(n²+1). Thấy được điều này để chúng ta hiểu hơn về đầu óc uyên bác của Nguyễn Hữu Thận.

Ông mất ngày 12-8-1831, một năm trước ngày mất ông còn viết tác phẩm Lập phương pháp biện ngôn vì “chưa thể thôi khổ công suy nghĩ tìm tòi được” như chính ông cho biết. Thật cảm động xiết bao khi biết năm đó ông đã ngoài 70 xuân, tấm lòng say mê lao động, luôn tìm tòi của ông đáng quý và đáng kính trọng biết chừng nào!

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Hữu Thận

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)