Khái quát
Văn học và y học dù tiến hành bằng phương tiện khác nhau, nhưng cũng đều xuất phát từ con người nhằm đến mục đích vì con người. Văn học cứu rỗi linh hồn, còn y học chăm sóc thân xác. Trên con đường chọn lựa nghề nghiệp lúc vào đời, có người đang học y khoa nhưng sau đó chuyển qua hoạt động văn học. Có thể kể đến văn hào Lỗ Tấn. Năm 1906, nhân xem phim chiến sự Nga – Nhật thấy lính Nhật chém đầu một thường dân Trung Quốc bị tình nghi là gián điệp của Nga, thế mà những người Trung Quốc đứng quanh chứng kiến lại dững dưng vô sự. Chàng sinh viên y khoa Lỗ Tấn bị xúc phạm dữ dội và nhận thức ra rằng, dân một nước mà tinh thần còn nhu nhược thì cơ thể có khoẻ mạnh, cường tráng cũng trở thành đón hèn, vô dụng. Do đó, ông bỏ học ngành y để sau đó để xướng ra phong trào văn nghệ mới. Hoặc nhà cách mạng Nguyễn An Ninh, năm 1916 ra Hà Nội học Cao đẳng Y Dược, nhận được tin Phan Xích Long khỏi nghĩa bằng gươm đao và bùa phép nên bị giặc Pháp dìm trong máu, ông ý thức được rằng một dân tộc khi tâm trí còn mê muội thì sự chữa trị thân xác cũng vô nghĩa. Vì vậy đang học y, ông bỏ nửa chừng, chuyển qua học luật rồi hoạt động chính trị. Thế nhưng, vẫn có người kết hợp được cả hai lĩnh vực y học và văn học là văn hào Tchekhop, thi sĩ Nguyễn Đình Chiểu v.v… Trong số những danh nhân này chúng ta còn nhớ đến thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu,
Thân thế và con đường học tập
Ông tên thật là Nguyễn Trọng Thoát sinh ngày 5.8 năm Mậu Tuất (1898) tại làng Ngái, xã Hương Ngãi, huyện Thạch Thất (Hà Tây) trong một gia đình Nho học có truyền thống yêu nước. Thế hệ của ông lớn lên khi nước mất nhà tan. Ngọn gió Tây học đã thổi dạt những trang sách chữ Hán ở cửa Khổng sân Trình. Những bậc túc nho như Ông đồ trong thơ Vũ Đình Liên cũng chỉ còn đem nét chữ “như phượng múa rồng bay” ra bán ngoài chợ đời xô bồ để kiếm sống đắp đổi qua ngày… Ngay cả cô bán sách Thánh hiền cũng mỏi mệt “lim dim ngủ” trong thơ Tú Xương. Con đường tiến thân của thế hệ này không còn bắt đầu bằng việc dùi mài kinh sử, sau đó, đi thi với mơ ước “ngựa anh đi trước võng nàng theo sau” nữa. Dù vậy thế hệ Nguyễn Tử Siêu, Cao Xuân Huy, Phạm Thiều, Lương Văn Can… cũng một lần lều chỏng. Tháng 10/1915, họ đã dự thi Tam trường ở Nam Định – khoa thi cuối cùng của chế độ thi cử chữ Hán. Sau đó, không như những nhà nho khác quay về làng kiếm sống với nghề “nho, y, lý, số”, họ đã kịp thời chuyển sang học chữ Quốc ngữ để theo kịp với trào lưu mới. Nguyễn Tử Siêu cũng vậy… Thời cuộc đã thay đổi. Làm gì để giúp ích cho đời? Ngoài việc học chữ Quốc ngữ, ông lao vào nghiên cứu sách thuốc để bốc thuốc cứu dân, rồi mở trường dạy học. Nhưng công việc mà ông tâm đắc nhất vẫn là thể hiện chí hướng của mình trên trường văn trận bút ở Hà Nội.
Hoạt động văn học và lòng yêu nước
Từ năm 1928 đến năm 1930, Nguyễn Tử Siêu đã viết 5 tác phẩm là Đỉnh núi cành mai, Vợ ai, Lý Nam Đế, Mai Hắc Đế, Hồ Hải duyên văn. Trong đó, ông đánh thức người đọc về cái nhục mất nước. Vì lẽ đó, thực dân Pháp ra lệnh cấm lưu hành tác phẩm của ông. Sau đó, chúng buộc ông phải trở về quê và chịu chế độ quản thúc, mỗi tháng phải lên trình diện tri huyện một lần. Không nản chí, ông lại mở trường – dạy học, nghiên cứu về thuốc và tiếp tục viết sách.
Chắn chắn, ông là nhà văn Việt Nam viết tiểu thuyết lịch sử với số lượng nhiều nhất. Có thể kể đến Tiếng sấm đêm đông (1928), Đinh Tiên Hoàng (1929), Vua Bố Cái (1929), Lê Đại Hành (1929), Trần Nguyên chiến kỷ (1935), Việt Thanh chiến sử (1935), Hai Bà đánh giặc (1936) v.v… Tổng cộng có trên 30 tác phẩm. Giáo sư Nguyễn Huệ Chi và nhà nghiên cứu Vũ Thanh nhận định: “Với những đóng góp lớn lao cho việc khích lệ lòng yêu nước của dân tộc, cho sự hình thành và phát triển của một thể loại văn học lúc bấy giờ còn mới mẻ ở Việt Nam; cũng như sự phát triển của chữ Quốc ngữ nói chung và ngôn ngữ nói riêng, những sáng tạo nghệ thuật của Nguyễn Tử Siêu trong giai đoạn 1925-1936 không chỉ dừng ở thể loại tiểu thuyết lịch sử mà còn góp phần vào sự phát triển của văn học nói chung và tiểu thuyết hiện đại nói riêng”.
Còn nhà văn Tô Hoài cho biết khi những tác phẩm của Nguyễn Tử Siêu nổi tiếng thì tác giả Dế mèn phiêu lưu ký mới còn đang học tiểu học và “Đấy là những tác phẩm đầu tiên không những về phương diện hình thức, mà về phương diện nội dung, đã đưa suy nghĩ chúng tôi về con đường yêu nước”. Thật đáng khâm phục cho sức làm việc của ông. Vì ngoài chuyện viết văn, ông còn dạy học và viết, dịch sách thuốc.
Ròng rã suốt mấy chục năm trời nghiên cứu y học, bốc thuốc cứu dân thì việc thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu đi theo cách mạng cũng là điều dễ hiểu. Sau Cách mạng tháng Tám – cuộc cách mạng đã thay đổi số phận của cả một dân tộc – ông được giữ chức Chủ tịch Mặt trận Liên Việt tỉnh Sơn Tây. Đến năm 1950, ông xin nghỉ công tác để dành tâm lực cho việc nghiên cứu Đông y và những năm sau ông được bầu vào Ban chấp hành Trung ương Hội Đông y Việt Nam khoá I, khoá II. Những năm tháng này, ông đã góp phần không nhỏ vào việc đào tạo các thế hệ kế tiếp. Có lẽ, một trong những điều vui của ông là khi con cái trong nhà cũng theo nghề của ông, chẳng hạn, lương y Nguyễn Thiên Quyến – Chủ tịch Hội Y học dân tộc Hà Nội là con trai thứ của ông.
Sự nghiệp giáo dục
Thật cảm động khi những người ở lứa tuổi “cổ lai hy” mà nay vẫn còn nhớ như in bài học từ thập niên 1930 khi học ở Hương Ngãi học đường với thầy Nguyễn Tử Siêu:
Cha mẹ công đức sinh thành
Ra trường thầy dạy học hành cho hay
Muốn khôn thì phải có thầy
Không thầy dạy dỗ đố mày làm nên
Mười năm luyện tập sách đèn
Công ơn gặp bước chớ quên ơn thầy
Trọng thầy mới được làm thầy
Những phường bội bạc sau này ra chi
Con đường tự học y và quan điểm nghiên cứu
Nhưng có lẽ, đóng góp lớn lao nhất của Nguyễn Tử Siêu vẫn là ở lĩnh vực nghiên cứu y học. Trong tác phẩm Tử Siêu y thoại, ở phần kinh nghiệm học tập, ông cho biết:
Tôi làm thuốc chỉ là tự học, vớ được bộ nào là học ngay bộ ấy, không biết nên học bộ nào trước, bộ nào sau. Sau khi đã đọc qua mấy bộ như Thị Thế bảo nguyên, Vạn bệnh hồi xuân, Thạch thất bí lục v.v… mới mượn được bộ Thương hàn luận thiển chú của Trần Tu Viên. Đọc thấy từng chữ, từng câu đều có bao hàm một ý nghĩa rất sâu, khác hẳn với loại sách mà mình đã đọc qua mấy năm trước liền đâm ra say mê. Suốt năm, suốt tháng không mấy lúc là không nghiên cứu thương hàn. Tôi lại theo phương pháp đọc sách của Chu Hy: chép riêng chính văn ra, đọc đi, đọc lại tự mình suy nghĩ, bao giờ không thể hiểu được thì mới giở đến chú giải ra để coi. Tôi cứ nghiền ngẫm như thế tới hai, ba năm. Mãi tới năm 1935,1936 tôi mới mua được bộ Nội kinh do Mã Huyền Đài và Trương Ấn Am chú giải. Trong thời gian đọc Nội kinh thì trái lại, không thấy có cảm giác chán như đọc các loại sách khác. Nhất là sau khi đọc thiên Dị pháp phương nghi luận trong Tố vấn thì tư tưởng lại tự thấy khác hẳn. Trong đầu óc bao giờ cũng lởn vởn mấy vấn đề: nước Việt mình ở về phương Nam, ở vào khoảng giữa ôn đới và nhiệt đới; con người tùy thổ nghi, khí hậu mà phú bẩm khác, đã do thổ nghi, khí hậu mà phú bẩm khác nên nguyên nhân phát bệnh cũng khác; do nguyên nhân phát bệnh khác nên phương pháp điều trị và dụng dược tất cũng phải khác.
Đây là một trong những nhận thức quan trọng của ông khi nghiên cứu về y học.
Tư tưởng y học và y đức
Tinh thần nghiên cứu của thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu thể hiện khá rõ ở chỗ: “Người thầy làm thuốc chữa bệnh, không những có học thuật tinh tường, không sao nhãng thuyết cổ, mà cũng không câu nệ thuyết cổ, lại cần phải có đơm lược mới nắm vững được lập trường, khỏi thấy sóng cả mà rã tay chèo”; và “Bệnh tình thiên biến vạn hóa, người làm thuốc cũng phải thiên biến vạn hoá. Theo thời theo chứng, cứu tệ bổ thiên, nguyên tắc tuy nhất định, mà bệnh tình không nhất định… ta có thể cứ dựa vào nguyên tắc mà không hỏi đến sự biến hoá của bệnh tình được sao?”.
Tư tưởng trị bệnh cứu người của ông thể hiện qua câu:
Bất trí thiên, địa, nhân, bất khả dữ y ngôn;
Bất trí Nho, Phật, Tiên, bất khả dữ y ngôn.
Nghĩa là: không hiểu biết về trời đất, con người, không hiểu biết về đạo Nho, đạo Phật và thánh hiền thì không bàn về y học được.
Về mảng sách nghiên cứu y học, trong thư mục của ông có cả thẩy 71 quyển đã xuất bản – do ông vừa biên soạn, vừa dịch thuật ròng rã trong vòng 30 năm trời (1931-1965). Chúng ta có thể kể đến loại sách mà ông biên soạn là Y học tùng thư, Khoa thuốc trẻ em, Khoa thuốc đàn bà, Tinh dược giải nghĩa, Sách thuốc sởi đậu, Nhật hoa y học, Nguyên tắc trị liệu của Đông y v.v… hoặc loại sách dịch như Hoàng Đế nội kinh tố vấn, Hải Thượng quyền thu, Hoàng Đế nội kinh linh khu, Châm cứu lâm sàng trị liệu học v.v… Lương y Nguyễn Thiên Tích – Chủ tịch Hội Y học cổ truyền Việt Nam – khẳng định: “Cụ đã vắt hết ruột gan, moi tận đáy lòng… dành toàn tâm toàn ý hiến dâng cho nghề thuốc, lúc nào cũng muốn dành hết sức mình trước thuật cho nhiều để dựng ngọn cờ Hồng cho ngành y”; và ông Nguyễn Doãn Thuật – bí thư huyện uỷ Thạch Thất cho biết: “Nhiều lương y có tài năng và nổi tiếng đã tìm được những kinh nghiệm quý giá trong những bộ sách này”. Tâm huyết với nghề nên cho dù cuối đời, ở xấp xỉ tuổi 70, Nguyễn Tử Siêu cũng dành tâm lực để viết tác phẩm Tử Siêu y thoại – trình bày lại kinh nghiệm điều trị và học tập làm thuốc – gồm 204 điều mà ông thu thập trong suốt một đời tâm huyết với nghề.
Ngay trong điều 1 nhận thức về y đạo, ông viết:
Một danh y triều Mãn Thanh bên Trung Quốc thường nói: “Người thầy thuốc nên có tấm lòng coi ở đời không có một loại bệnh tật nào không chữa khỏi; sở dĩ có bệnh không chữa khỏi, đều do mình chưa hết lòng đó thôi”. Hải Thượng Lãn Ông cũng viết ở bài Tiểu dẫn trong tập Âm án: “Người ta khi ốm đau, đem cả tính mạng gửi vào trong tay người thầy thuốc. Nếu gặp bệnh biến khó khăn mà khoanh tay từ chối không chữa, thì đời còn quý chi người thầy thuốc ấy nữa. Vậy dù biết bệnh chết đến nơi, cũng chỉ nên bảo nhỏ cho gia đình bệnh nhân biết, còn tự bản thân ông thầy cũng phải cố gắng nghiên cứu suy nghĩ, hoạ may còn cứu vãn được phần nào, tuyệt nhiên không nên “thấy sóng cả mà rã tay chèo”. Xem hai câu nói của hai vị trên, thật đáng là danh y.
Trong cuộc đời tôn Hải Thượng Lãn Ông làm thầy, Nguyễn Tử Siêu cũng phấn đấu như thế. Học tập gương thầy, ông cũng ghi lại những kinh nghiệm lâm sàng của mình và của những bậc danh y khác.
Những kinh nghiệm lâm sàng tiêu biểu
Đây là một trong những “ca” bệnh mà ông đã điều trị:
Năm 1960, tôi tản cư sang làng Mai Đình, huyện Hiệp Hoà (Bắc Giang) chữa một người là Tạ Thị Hào 39 tuổi. Mới đẻ được hai ngày, đến ngày thứ ba bỗng dưng nóng sốt, kêu la rầm rĩ chạy đi khắp xóm, đã thành hẳn là chứng cuồng. Người nhà bắt về trói trong buồng kín, đến sáng hôm sau đã đỡ kêu, đến mời tôi khám bệnh. Khi đó, tôi tuy tản cư, nhưng vẫn có thuốc mang theo. Tôi chuẩn bệnh thấy thần sắc không còn mà ngoài chỉ hơi nóng. Hỏi kỹ người nhà về quá trình phát bệnh thì được biết: khi đẻ huyết ra mất quá nhiều. Tôi nghĩ, huyết ra mất quá nhiều nên can mất sự nuôi dưỡng, phong mộc do đó không được yên. Trong Tố vấn thiên Âm dương ứng tượng đại luận có câu: “ở tạng là can, ở tiếng là hỗ”; thiên Ngũ thường có câu: “Ở bệnh là can… ở bệnh sẽ là chứng dao động sợ sệt”; thiên Sinh khí thông thiên luận lại có câu: “Âm không thắng được dương, thì mạch đi nhanh chóng, dồn cả lại sẽ phát cuồng”; thiên Bình nhiệt luận cũng nói: “Nếu âm hư, dương sẽ lấn vào”. Xem như vậy thì các chứng điên rồ, chạy chọt, kêu la rầm rĩ, sốt nóng v.v… của thị Hào đều không ngoài mấy câu đó. Bệnh tình tuy biểu hiện ba trạng thái khác nhau nhưng gốc chỉ là một: âm hư. Tôi liền dùng các vị Câu kỷ, Thục địa, Dương quy, Đảng sâm, Huyền sâm, Mạch môn, Trúc như, Bạch vi… cắt thành một thang lớn cho uống. Uống hết một thang, mười phần bớt được sáu, bảy; uống hết thang thứ hai thì khỏi hẳn. Trong bài thuốc tôi cắt trên, lấy vị Huyền sâm làm chủ dược là tôi căn cứ vào lời chú giải vị Huyền sâm của Từ Hồi Khê: “Sau khi đẻ, huyết thoát thì âm hư, do đó hỏa không còn gì kìm chế được. Nhưng cái hoả đó không thể dùng loại thuốc hàn lương dập tắt, mà trong khi khí huyết còn chưa yên, cũng không thể tiếp thụ được loại thuốc bổ mạnh. Chỉ có Huyền sâm vừa có tác dụng dẹp yên được hoả, đồng thời cũng bổ ít nhiều”. Đây là lần đầu tiên tôi dùng Huyền sâm chữa chứng huyết thoát của sản phụ mà thu được kết quả nên chép để rút kinh nghiệm.
Những bài thuốc dân gian
Một điều thú vị khi đọc những chứng bệnh mà các danh y đã chữa, là ta thấy họ dùng thuốc có tính toán kỹ lưỡng như dụng binh. Hải Thượng Lãn Ông cũng từng dạy dụng thuốc như đánh giặc là vậy. Tuy nhiên, có những phương thuốc mà các danh y sử dụng theo kinh nghiệm dân gian mà chưa lý giải được. Trong Tử Siêu y thoại có kể lại một bài thuốc Nam rất lạ lùng mà chưa ai lý giải nổi do lương y Lê Hữu Thành (dòng dõi cụ Hải Thượng) kể lại:
Một người đuổi gà bị đâm một cái dằm vào giữa ngón chân cái, cái dăm chiều ngang bằng ba que diêm, gãy thụt vào trong móng, sâu tới hết móng, máu chảy lênh láng hàng bát, mặt tái hẳn đi, đau nhức vô cùng. Người chữa tạm buộc chặt ngón chân lại cho máu đỡ ra. Rồi mang con dao thật sắc, tìm một cây chuối, chém ngang một nhát thật mạnh cho đứt đôi. Để chừng một giờ, nõn chuối sẽ trồi lên chừng nửa đốt ngón tay. Người bệnh cắn chỗ nõn chuối mới trồi lên, thêm vào mấy hạt muối, nhai thật nát nhuyễn, đắp vào đầu ngón chân, buộc lại, chỉ bốn tiếng đồng hồ sau là có thể rút được dằm ra.
Với chuyện này, Nguyễn Tử Siêu cũng nhớ lại:
Hồi còn bé, thấy một ông lang thuộc châu Chiêm Hoá (Tuyên Quang) chữa chứng kinh niên của chị tôi. Ông ta bảo tìm cây chuối tiêu cao, chém ngang cây bỏ một nửa, rồi đào lấy cả củ, đem về dựng tại xó nhà phía đông. Qua một đêm, sáng hôm sau, nõn chuối sẽ mọc trồi lên tới ngót một đốt ngón tay. Bệnh nhân ngủ dậy, đừng súc miệng, đem sẵn một nhúm muối chia nõn chuối ra làm ba miếng, thêm vào mấy hạt muối, nhai rồi nuốt. Sau khi nuốt cả ba miếng xong chỉ tráng miệng một hớp nước lã nóng. Chị tôi chỉ ăn một lần như vậy, mà chứng đau bụng bị tới ba, bốn năm khỏi hẳn. Khi đó bố tôi hỏi ông lang: “Các chứng đau bụng khác có chữa như thế được không?”. Ông không trả lời được. Vậy nõn chuối vì sao có tác dụng như thế, xin nhờ các nhà khoa học phân tích.
Qua trường hợp này thế mới biết nghề y khó biết dường nào!
Cuối đời
Thầy thuốc Nguyễn Tử Siêu mất tại Hà Nội vào ngày 27/12/1965. Sống trọn vẹn với nghề y, trước lúc xuôi tay nhắm mắt, ông có thể tự hào viết rằng:
Tôi hành nghề y đã hơn 50 năm, mà đối với bệnh nhân phải lo lắng từng giờ, từng phút, nghe từ tiếng nói, trông từ lúc co tay, lúc duỗi chân, có lúc quên cả ăn, mất cả ngủ, bao giờ thấy bệnh tình chuyển hướng được đúng như mong mỏi của mình, lúc bấy giờ mới như trút được gánh nặng, nỗi niềm sung sướng có phần hơn cả thân nhân người bệnh.
Chỉ qua những lời tâm sự ấy cũng đủ hiểu hết y đức đáng quý của ông.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ.