Nguyễn Văn Hưởng (1906 – 1998)

Nguyễn Văn Hưởng (1906 – 1998)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Lạ thay cho tình người, ở tuổi 80 nhưng khi nhắc về người mẹ thì người ta vẫn bồi hồi, xúc động như trẻ thơ. Đối với bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng, cái chết của mẹ ông đã có ảnh hưởng lớn đến con đường lập nghiệp của ông sau này. Ông tên thật Nguyễn Thành Tâm, sinh năm 1906 tại xã Mỹ Chánh, tổng An Bình nằm trên Cù Lao Giêng (nay là xã Mỹ Hiệp, huyện Chợ Mới – An Giang) trong gia đình nho học và làm thuốc Nam. Năm ông lên năm tuổi thì trong làng xảy ra nạn dịch tả. Mẹ của ông cũng bị bệnh, chữa chạy mãi không khỏi. Do đó, ông nội của ông lập bàn thờ ngoài sân, khấn trời đất xin được chết thay con. Nhưng nguyện vọng đó không được thỏa mãn. Vài ngày mẹ ông qua đời. Mười ngày tiếp theo ông nội đau buồn chết, và một năm sau bà nội cũng theo về chín suối. Trong nhà ba cái tang vì bệnh dịch tả, đã để lại ấn tượng ảm đạm trong tâm trí của Nguyễn Văn Hưởng.

Học tập và hoạt động y học

Sau khi thôi học ở trường Mỹ Tho, ông chuyển lên học trường Chasseloup Laubat và thi tốt nghiệp với hạng ưu. Lúc nầy, cha của ông còn đang phân vân không biết nên cho ông thi vào trường Đai học nào, thì ông xin học y khoa vì muốn cứu nhân độ thế. Suy nghĩ nầy đã nung nấu trong lòng ngay sau cái chết của người mẹ mà ông rất yêu thương. Trong những năm 1927-1930, ông học ở Hà Nội và hai năm sau sang Paris học hết chương trình và bảo vệ luận án. Những tháng năm ở nơi phồn hoa đô hội, ông không có niềm vui nào khác là chúi mũi vào trang sách và dự học bổ túc những lớp về bệnh lao, bệnh trẻ con… để bổ sung kiến thức của mình.

Năm 1933, ông trở về nước. Bao nhiêu hăm hở của tuổi trẻ đã cuốn hút ông vào công việc. Trong thời gian làm việc ở bệnh viện Pasteur, ông cùng với bác sĩ Delbove nghiên cứu bệnh sốt phát ban của chuột ở Việt Nam (typhus naurin) và cùng bác sĩ Souchard nghiên cứu đề tài Bệnh trứng tóc ở Nam Kỳ (le piédra de Cochinchine). Sau năm năm làm việc, năm 1939 ông xin đi tu nghiệp ở Viện Pasteur Paris. Những tưởng, việc học tập chính đáng nầy, nhằm nâng cao trình độ chuyên môn sẽ được đồng ý, nhưng ông đã nhận được câu trả lời lạnh lùng: “Chính sách này chỉ áp dụng cho người Pháp, chứ không dành cho người bản xứ”. Đối đầu với chính sách phân biệt nầy, không một chút chần chừ, ông phản đối bằng cách xin nghỉ việc rồi sau đó, mở phòng mạch riêng và phòng xét nghiệm tại nhà số 244 đường d’Arras (nay là đuờng Cống Quỳnh). Trong lúc hành nghề, ông luôn luôn theo truyền thống gia đình, giữ đạo đức, nhớ lời cha ông từng dặn dò “coi chừng nhất thế y, tam thế suy!” Vì vậy, đối với những bệnh nhân nghèo, ông không những không lấy tiền mà tìm mọi cách để an ủi, giúp đỡ họ.

Bác sĩ Nguyễn Duy Cương kể, lúc còn sinh viên đã đến khám bệnh tại phòng mạch của Nguyễn Văn Hưởng:

Tôi có một thoáng thất vọng. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng mà tôi đang chờ đợi, theo trí tưởng tượng của tôi, phải là một người cao lớn ăn nói dõng dạc, có thể điều binh khiển tướng như ông đã từng điều khiển đám vi trùng của ông. Nhưng đứng trước mặt tôi là một con người nhỏ thó, mình dây, đi đứng khoan thai, ăn nói nhỏ nhẹ, cốt cách của một văn nhân. Một vầng trán cao, những tiếng ấm áp ân cần, một sự thuyết phục tuyệt đối, một sức hút kỳ lạ.

Phòng mạch của ông và của bác sĩ Phạm Ngọc Thạch thời kỳ đó là “điểm hẹn” của những người bệnh nghèo, lúc nào cũng đông người. Một bác sĩ người Pháp đã than phiền là ông giành bệnh nhân của họ (!). Ông trả lời:

Tôi là một bác sĩ người bản xứ, nước Việt Nam chúng tôi rộng mênh mông và phì nhiêu. Nếu như bệnh nhân không đến chữa bệnh ở chỗ tôi thì tôi về quê cày ruộng, tôi vẫn sống được, tôi đâu phải cần giành giựt bệnh nhân mà tự bệnh nhân đến với tôi.

Tham gia kháng chiến 

Năm tháng trôi qua. Cuộc cách mạng vĩ đại Tháng Tám 1945 đã đổi đời số phận cả một dân tộc nô lệ. Là một người căm ghét thực dân Pháp và luôn lấy đức độ của nhà bác học Pasteur làm gương thì Nguyễn Văn Hưởng đi theo cách mạng và kháng chiến cũng là điều dễ hiểu. Sau khi Nam Bộ kháng chiến, ngày 23/9/1945, ông tản cư về nông thôn. Chỉ gần một tháng sau, ông nhận được điện của Ủy ban nhân dân Nam Bộ mời xuống Mỹ Tho giúp về y tế. Trong gian khổ của cuộc kháng chiến, tại Tiểu Cần – cách Trà Vinh 28km, gần bờ sông Hậu, trên một chiếc ghe tam bản chở dụng cụ, kính hiển vi, lò hấp ướt và lò hấp khô, ông vẫn không ngừng nghiên cứu. Trước hết, ông xin hai con ngựa để bào chế huyết thanh chống uốn ván; rồi tiếp tục bào chế thuốc sốt rét, thuốc ghẻ ngứa v.v…

Sau Hiệp định sơ bộ 6/3/1946, ông trở lại Sài Gòn với nhiệm vụ giúp đỡ thuốc men, dụng cụ cho kháng chiến; chữa bệnh cho chiến sĩ, nhân dân từ chiến khu chuyển ra và hoạt động trí vận trong anh em trí thức để đấu tranh chính trị với Pháp. Lúc này nhằm thực hiện chính sách “chia để trị” thực dân Pháp đẻ ra quái thai Nam Kỳ tự trị, đứng đầu là bác sĩ Nguyễn Văn Thinh. Quái đản hơn là chúng còn lấy những câu thơ mở đầu trong Chinh phụ ngâm để làm… quốc ca! Nhưng rồi cỗ máy chính trị lỗi thời và phản động này cũng không thể tồn tại. Bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng cũng được mời tham gia vào cái chính phủ này, ông trả lời thẳng thắng với bác sĩ Thinh:

Anh đã đi ngược dòng lịch sử rồi, xin anh nghĩ lại. Trên thế giới có xu hướng chung là thống nhất đất nước: Guillaume Ler và Bismarck ở Đức, Victor Emmanuel II và Cavour ở Ý đã làm cho hai nước ấy được thống nhất và hùng cường.

Rất tiếc sau này bác sĩ Thinh mới ý thức được chân lý này, ông ta tự hối lỗi bằng cái chết của chính mình. Vào sáng ngày chủ nhật 10/11/1946, đốc phủ Lộc, thư ký riêng của Thinh đến gõ cửa phòng nhưng không thấy mở. Khi phá tung cánh cửa vào được trong phòng, người ta thấy ông ta đã chết, ngang họng buộc một sợi dây đồng và trên bàn có cuốn sách thuốc mở đến trang nói về thắt cổ! Thời điểm này, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã ký tên vào bản tuyên ngôn của 200 trí thức Sài Gòn, đăng trên báo La Dépêche bày tỏ thái độ ủng hộ kháng chiến. Lúc Bollaert sang Việt Nam làm Cao ủy Pháp, thì ông cùng với Lưu Văn Lang, Đặng Văn Trứ – đại diện trí thức Sài Gòn – tìm đến gặp. Cuộc gặp gỡ này không đi đến đâu vì tên cáo già thực dân này trước sau chỉ công nhận Lê Văn Hoạch – người thay Thinh – là thủ tướng của cái Nam Kỳ quốc. Biết không thể dùng ngôn ngữ để dạy cho chúng chân lý “Nam Bộ là máu của máu Việt Nam, là thịt của thịt Việt Nam” mà chỉ có thể giải quyết bằng vũ trang. Do đó, sau cuộc gặp gỡ này, năm 1947, ông rời gia đình đi kháng chiến. Ra chiến khu, ông được giao nhiệm vụ ủy viên Ủy ban Kháng chiến Hành chánh Nam Bộ, kiêm giám đốc Sở Y tế Nam Bộ.

Cùng với các đồng nghiệp của mình, ông đã tổ chức sản xuất văc-xin chống bệnh đậu mùa, tả, thương hàn; đào tạo cán bộ y tế, xây dựng nếp sống vệ sinh trong nhân dân… Để hình dung ra công tác phòng, chống bệnh tại chiến trường Nam Bộ thời kỳ này, chúng ta hãy nghe chính bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng kể lại một trong những công việc của ông đã làm:

Để làm Vắc-xin phòng bệnh đậu mùa, chúng tôi dùng con nghé. Nghé được nhốt vào chuồng, tắm bằng xà bông và nước hấp chín trong những hũ (loại hũ đựng nước mắm được súc rửa rất sạch chuyên dùng đựng nước hấp để tắm cho nghé), dùng khăn hấp để lau cho nghé. Cạo sạch lông ở hông và bụng, dùng bàn nạo dừa đã hấp kỹ, cạo da lông và bụng cho trầy rươm rướm máu. Mủ đậu khô nghiền nhuyễn hòa với glycérine, bôi khắp vùng da trầy, xong dùng vải đã hấp có dây buộc bao bụng nghé lại rồi buộc dây trên lưng, giữ cho chỗ trống trải được sạch. Từ lúc này, ngày cũng như đêm, anh em luân phiên thức canh, nếu nghé đái, phải dội nước hấp chín rửa sàn ngay, thấy nghé dóng đuôi lên thì phải đưa kỵ vào hứng liền không cho phân rớt trên ván. Canh như vậy khoảng ba ngày đêm, nếu trên bụng da nghé có những nốt tròn có mủ và mọc đều hết là trái mọc tốt. Dùng dao bào đã hấp để cạo mủ, không có máy làm khô, tôi nhớ những người Hoa kiều bán thuốc đã giữ sâm trong những hộp đựng gạo rang, sâm khô cứng không bị mốc, tôi cho làm những hộp tôn tròn, có nắp đậy kín, đường kính 60cm, cao 20cm, hơ thùng cho nóng để diệt trùng, rang gạo vàng đổ vào chiều cao bằng 2/3 của hộp, trên gạo trải vải trắng đã hấp tiệt trùng. Cạo mủ rồi banh lên vải, đậy nắp hộp lại, bên ngoài ràng cao su ruột xe đạp cho thật kín. Theo dõi khi mủ khô, dùng cối đá và chày nghiền ra bột, nếu muốn để làm giống thì pha với glycérine, nếu muốn chủng ngừa thì dùng mật ong để pha (vì không có đủ glycérine để pha nên phải pha bằng mật ong). Sau đó cho vào vỏ chai pénicylline đã hấp tiệt trùng, đậy nút và có thể đưa đi trồng trái cho người (mật ong giữ thuốc không bị nhiễm độc và nhiễm mốc).

Công tác sau năm 1954

Sau năm 1954, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng tập kết ra Bắc, ông đi chuyến tàu áp chót trên chuyến tàu Kilenski của Ba Lan. Từ ngày 5/7/1955 đến ngày 19/9/1955, bác sĩ Phạm Ngọc Thạch giao ông làm Viện trưởng Bệnh viện 303. Tại đây ông chữa bệnh bằng thuốc Nam, khi mà thuốc Tây “bó tay”. Trong bản tham luận đầu tiên đọc trước Quốc hội năm 1956, ông khẳng định:

Giá trị thuốc Nam không nhỏ, nó dựa một phần trên y lý Trung y và phần lớn trên kinh nghiệm của nông dân để giải quyết một cách đơn giản những trường hợp bệnh thông thường và phổ biến. Lực lượng Đông y ấy dưới thời Pháp thuộc chưa được tổ chức, giúp đỡ đúng mức để sử dụng hết khả năng của nó góp vào việc bảo vệ sức khỏe của nhân dân.

Do đó, ông đề nghị Chính phủ lập bệnh viện Đông y, mở trường dạy Đông y, tổ chức bào chế, nghiên cứu thuốc Nam và thành lập Hội đồng Đông y. Sau đó, ông được Chính phủ giao nhiệm vụ đi tham quan và nghiên cứu về vi trùng học ở Trung Quốc. Trở về nước, ông được bổ nhiệm làm Viện trưởng Viện vi trùng học. Ở lĩnh vực này ông có nhiều đóng góp lớn khi nghiên cứu Đông y thực nghiệm với nhiều công trình nghiên cứu có giá trị. Cùng với các đồng nghiệp trẻ như Nguyễn Đức Minh, Nguyễn Thị Cảnh, Đặng Thị Hồng Sinh, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã công bố tính kháng chuẩn của 1.500 cây thuốc ở Việt Nam, phát hiện hơn 200 cây có tính kháng khuẩn đối với nhiều loại vi trùng Gram- và Gram+. Trong những năm 1960 – 1961 ông giữ chức Phó chủ tịch ủy ban thường trực Quốc hội. Trong một kỳ họp Quốc hội, ông đã đọc tham luận “Xây dựng một nền y tế nhân dân để đáp ứng nhu cầu của nhân dân”. Sau khi nghe xong, Thủ tướng Phạm Văn Đồng mời ông lên báo cáo lại, sau đó chuyển ông làm Vụ trưởng Vụ Đông y kiêm Viện trưởng Đông y và chủ nhiệm bộ môn Đông y trường Đại học Y dược Hà Nội. Năm 1969, sau khi bác sĩ Phạm Ngọc Thạch hy sinh ông được cử làm Bộ trưởng Bộ y tế.

Sức làm việc của ông trong thời gian này thật dữ dội, không ngoài mục đích nâng cao sức khỏe cho nhân dân. Đó là một trong những nguyên nhân dẫn đến tình trạng ông bị tai biến mạch máu não – lúc 15 giờ ngày 29.6.1970 – khi đang công tác tại Liên Xô. Sự kiện này đã đánh dấu một phương pháp tự chữa bệnh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng. Sau này ông kể lại:

Trong suốt 5 năm trời (1970-1975) tôi lấy thân mình và bệnh mình làm đối tượng nghiên cứu. Do đó, tôi ghi chép rất kỹ trong 4 tập giấy từng ngày diễn biến của bệnh, các loại thuốc, các phương pháp đã dùng và kết quả đã thu được.

Phương pháp trị bệnh của bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng gồm có: tập luyện; dùng thuốc Nam, thuốc Bắc và thuốc Tây; bấm huyệt.

Ông quan niệm:

Trên toàn thế giới ai cũng công nhận phương pháp tập luyện là tốt nhất để giải quyết bệnh mãn tính. Đó là thuyết Tinh – Khí – Thần của Đông y từ ngàn năm để lại có cải tiến theo y học hiện đại. Trong con người có ba yếu tố bao trùm mọi hoạt động sinh lý của con người. Tinh là tinh hoa của thức ăn, là chất dinh dưỡng, là máu huyết, là tinh sinh dục để bảo tồn nòi giống. Khí là khí hơi của tạo hóa cho ta, là dưỡng khí, là oxy. Có khí hít vào kết hợp với chất tinh thì mới tạo ra khí lực. Khí lực gồm nhiệt năng (sức nóng), cơ năng (sức lao động), điện năng (sức điện), hóa năng (sức tạo ra hóa chất) để cho cơ thể sống và hoạt động. Thần là khí cao cấp do bộ thần kinh cho ta gồm tư duy, trí tuệ, tình cảm, ý chí, óc tưởng tượng, biết phải trái, biết tạo ra nghệ thuật. Tinh khí thần theo quy luật chuyển hóa: tinh biến thành khí, khí biến thành thần, thần lãnh đạo tất cả cơ thể con người. Nếu sự chuyển hóa đều thì ta mạnh khỏe, nếu chuyển hóa rối loạn thì ta đau, nếu ngưng chuyển hóa thì ta chết. Nếu ta tập luyện tinh khí thần làm cho nó phát triển tốt, chuyển hóa tốt thì ta giữ được sức khỏe, sức đề kháng sẽ lên, các bệnh mãn tính lần lần bị tiêu diệt.

Lấy chính bản thân mình làm đối tượng nghiên cứu và kiên trì tập luyện, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã chứng minh phương pháp luyện tập của mình là đúng. Từ một người bị tai biến mạch máu não, sau này, khi lành bệnh, ông đã mở lớp hướng dẫn cho các bệnh nhân khác. Đến nay phương pháp dưỡng sinh, trị bệnh của ông đã truyền bá rộng rãi và đạt kết quả tốt. Với những cống hiến tích cực cho nền y học nước nhà, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã được Đảng và Nhà nước tặng thưởng nhiều danh hiệu cao quý – mới đây nhất ông được truy tặng giải thưởng Hồ Chí Minh (đợt một).

Cuối đời 

Suốt một đời sống và cống hiến cho nền y học nước nhà, trái tim nhân hậu, tận tụy vì sức khỏe của nhân dân đã vĩnh viễn ngưng đập vào lúc 11 giờ ngày 4/8/1998 tại bệnh viện Thống Nhất (TP.HCM). Một điều rất cảm động là lúc đang nằm viện, bác sĩ Nguyễn Văn Hưởng đã trích 40 triệu đồng tiết kiệm trao tặng Quỹ từ thiện báo Sài Gòn Giải Phóng với ý nguyện hỗ trợ một phần chăm sóc cho sinh viên y khoa nghèo, hiếu học và các cán bộ y tế tình nguyện phục vụ vùng sâu vùng xa. Hoài bão đó đã được báo Sài Gòn Giải Phóng xây dựng thành Quỹ học bổng Nguyễn Văn Hưởng – góp phần không nhỏ trong việc hỗ trợ, động viên cho những bác sĩ tương lai và những cán bộ y tế hết lòng vì cuộc sống của con người.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Văn Hưởng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)