Trần Văn Giáp (1898 – 1973)

Trần Văn Giáp (1898 – 1973)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Trong thập niên 30 của thế kỷ này, GS Prezyluski một nhà nghiên cứu nước ngoài nổi tiếng đương thời với nhiều tác phẩm nghiên cứu về Đông Phương đã khẳng định: “Tôi hoàn toàn tin tưởng vào sự thành công của ông Giáp, người mà tôi theo dõi những nỗ lực của ông, người làm việc vừa có tinh thần bền bỉ, vừa có tâm huyết”.

Khi Trần Văn Giáp từ trần, cố vấn Phạm Văn Đồng – nguyên Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng đã phát biểu: “Tôi đến đây với tấm lòng trân trọng và khâm phục một nhà khoa học nổi tiếng và có công. Bác Giáp là một vị trí thức rất dũng cảm, có sức chịu đựng rất cao, luôn một lòng vì Đảng, vì sự nghiệp khoa học”.

Cuộc đời 

Quê Trần Văn Giáp ở Từ Ô, Thanh Miện, Hải Dương (nay thuộc xã Tân Trào, huyện Thanh Miện, Hải Dương). Ông sinh ngày 26-11-1898, là con trai của cử nhân Trần Văn Cận (1858-1938) một nhà nho thanh bạch, dù đỗ đạt nhưng không ra làm quan mà tham gia phong trào Đông kinh Nghĩa thục. Từ nhỏ ông học chữ Hán với cha. Năm 17 tuổi ông vác lều chõng đến trường Nam để dự khoa thi Hương năm Ất Mão (1915) và đã đỗ Tam trường. Nhưng thời thế “ông nghè ông tú cũng nằm co” (Tú Xương) nên người anh là Trần Văn Ngoạn đem ông ra Hà Nội, khai sụt tuổi để xin vào học trường Pháp – Việt ở Yên Phụ. Vì nhà nghèo nên mới tốt nghiệp tiểu học ông đã thi vào trường sư phạm. Học được một năm thì người anh mất, không còn chỗ dựa, ông phải bỏ học để tự kiếm sống.

Làm việc tại Trường Viễn Đông Bác Cổ và du học Pháp

Nhờ có chút vốn liếng chữ Hán nên năm 1920, ông xin vào chép sách thuê cho trường Viễn Đông Bác Cổ (EFEC). Không yên phận với công việc này, ông tranh thủ tự học thêm tiếng Pháp. Trong một lần kiểm tra công việc của ông, vị giám đốc của trường đã phát hiện ra ông đã đọc được rất nhiều tác phẩm văn chương của Pháp bằng nguyên tác nên tỏ ý mến phục và muốn giúp đỡ ông tiến xa hơn. Trong vòng gần sáu năm làm công việc chép sách, được thỏa thuê tiếp xúc với thư tịch Hán – Nôm, ông đã làm một việc mà trước đó chưa ai làm được. Đó là lập được một “Mục lục sách Trung Quốc ở thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ” bằng tiếng Pháp. Công việc nặng nhọc này hoàn thành vào năm 1926, lúc đó ông tròn 28 tuổi. Như vậy ông phải xử lý thông tin trên một khối lượng sách chữ Hán rất lớn gồm 17.000 cuốn – của thư viện trường Viễn Đông Bác Cổ. Biết ông là người có chí, có tài và ham học nên năm 1927, vị giám đốc của trường đưa ông sang Pháp học. Ông đã theo học và tốt nghiệp các trường Cao đẳng thực hành Sorbonne, Khoa thư mục thuộc Viện Hán học, Đại học Văn khoa Paris (môn văn minh Trung Quốc) và Trường đại học Pháp (môn ngữ âm thực hành). Ngoài ra trong thời gian ở Pháp, ông còn theo học các môn khác như Ngữ âm học, Ngôn ngữ học, Thư viện học, Lịch sử vùng Viễn Đông tại trường Ngôn ngữ Đông Phương.

Một tài liệu do chính ông viết, có kể rằng: “Trong hồi tôi qua Pháp, vì nhà trường Bác Cổ gửi tôi đi nên hàng tháng vẫn có lương, tôi để lại biếu thày tôi một số tiền hàng tháng. Thày tôi khẳng khái không thèm tiêu số tiền ấy và cũng không cho vợ con tôi. Thày tôi để dành một chỗ, trích lại tậu cho tôi một số ruộng (chừng 1-2 mẫu trở lại). Khi tôi ở Pháp về, thày tôi bảo: “Số tiền mày để lại, tao tậu cho món ruộng đấy”. Tuy vậy tôi vẫn không chú ý đến ruộng ấy, chị dâu tôi vẫn cấy cày lấy hoa lợi. Sau khi thày tôi mất, tôi vẫn cứ để cho chị tôi sử dụng món ruộng ấy như cũ”.

Nhắc lại chi tiết này để thấy rằng, ông Giáp dường như sinh ra để học và làm việc, chứ không phải để tận hưởng. Cả cuộc đời ông, từ lúc bước chân vào đòi và kết thúc cuộc đời cũng đều gắn bó với trường này. Khi nhắm mắt xuôi tay, từ giã thế giới khoa học, ông vẫn tá túc trong căn phòng tầng hai của EFEO cũ tại 26 Lý Thường Kiệt, Hà Nội.

Trở thành nhà thư mục học chuyên nghiệp

Năm 1932, ông tốt nghiệp các trường nói trên với những luận văn như Phật giáo Việt Nam từ khởi nguyên đến thế kỷ XIII và Những thiên thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú được viết bằng tiếng Pháp. Như vậy, xét về thời gian và nghề nghiệp được đào tạo thì Trần Văn Giáp là người Việt Nam đầu tiên của thế kỷ XX có chuyên môn về Thư mục – Thư viện học. Lâu nay, do thiếu thông tin nên nhiều người cứ lầm tưởng vai trò đó dành cho Ngô Đình Nhu. Thật ra không đúng, vì mãi đến năm 1938, Ngô Đình Nhu mới tốt nghiệp trường Quốc gia Cổ tự học (Khoa lưu trữ và thư viện).

Trở về nước, Trần Văn Giáp được cử làm phụ trách kho sách Hán Nôm và cổ tích Trung Quốc tại EFEO. Ông rất có ý thức trong những việc làm để nâng cao dân trí và xem đó là một trong những nhiệm vụ hàng đầu của mình. Ông thường nói: “Có ra nước ngoài, mình mới thấy càng hổ thẹn. Nước mất dân ngu, mình còn biết làm gì. Một số, người ta nuôi dạy thì lại quay lưng với cái hay của cha ông, còn một số khác thì chạy theo cái nhố nhăng và tầm thường. Thật buồn”.

Ngoài công việc ở Thư viện ông còn viết các bài khảo cứu; dạy Hán văn, Việt văn ở các trường trung học công và tư; giảng về Phật giáo và văn học cổ tại trường đại học ở Hà Nội… Ngoài việc đi dạy, viết báo, tham gia phong trào xóa nạn mù chữ theo chủ trương của Đảng Cộng sản Đông Dương, ông đã bắt tay vào chuyên môn. Trong những năm 1932-1935 khi phong trào chấn hưng Phật giáo rầm rộ diễn ra từ Nam chí Bắc, ông vào Hội Phật giáo Bắc kỳ và phụ trách tờ Đuốc tuệ. Ông cũng có chân trong Hội Khai trí Tiến đức và là một trong những người biên soạn Việt Nam từ điển 

Hoạt động văn hóa, giáo dục và phong trào truyền bá quốc ngữ

Qua đoạn tường thuật trên báo Tin tức (số 9 ra tháng 6-1938) về việc ra mắt Hội Truyền bá Quốc ngữ tại Hà Nội, ta có thể thấy vai trò của Trần Văn Giáp trong phong trào văn hóa yêu nước: “Diễn giả hôm đó (25/5/1938) có các ông Nguyễn Văn Tố, hội trưởng và ông Phan Thanh, hai người này nói bằng tiếng Pháp. Tiếp đấy là bà Vũ Ngọc Phan (tức nữ sĩ Hằng Phương) và ông Trần Văn Giáp nói bằng tiếng Việt. Bài kết thúc của ông Giáp được cử tọa hoan nghênh nhiệt liệt. Cuối cùng, ông Trần Văn Giáp nhắc qua lại mục đích và chương trình của Hội Truyền bá Quốc ngữ. Chú ý là chương trình của Hội được ông Giáp nói rõ, được hoan nghênh: Lập các lớp dạy học cho tất cả mọi người mà không lấy tiền. Làm sách in cho học trò cũng không lấy tiền.

Ông kết luận: “Mục đích và chương trình của Hội chúng ta tuy tóm lại chỉ có mấy điều nhưng công việc to tát lắm, tốn kém lắm và lại cần kíp nữa. Nào dạy học các nơi, nào in sách biếu không. Những công việc ấy trông vào đâu? Xin anh em mỗi người mỗi tay, mỗi người hy sinh một chút. Đó là nghĩa vụ chung của mọi người, việc công ích này không nên trì hoãn, xin anh em kíp hưởng ứng để chúng ta chóng cùng nhau làm việc”. Như vậy đủ thấy Trần Văn Giáp đã trở thành một trong những chiến sĩ tiên phong trong phong trào diệt dốt lúc ấy.

Các công trình nghiên cứu trước Cách mạng Tháng Tám

Cũng trong thời gian này, ông cật lực bắt tay vào chuyên môn với những tác phẩm viết bằng tiếng Việt như Lược khảo khoa cử Việt Nam từ khởi thủy đến năm 1918, Vần quốc ngữ (soạn chung với Hoàng Xuân Hãn, Vũ Hy Trác). Còn những tác phẩm viết bằng chữ Hán thì gồm Hà Nội Viễn Đông khảo cổ học viện hiện tàng, Việt Nam Phật điển lược biên (xuất bản tại Tokyo), Hán văn trích thái diễn giảng khóa bản (soạn chung với Bùi Kỷ). Ngoài ra còn có những tác phẩm viết bằng tiếng Pháp như Phật giáo ở Việt Nam từ nguồn gốc đến thế kỷ XIII, Phác thảo lịch sử Phật giáo ở Bắc Kỳ…

Đóng góp trong kháng chiến và công tác bảo tồn thư tịch

Cuộc Cách mạng Tháng Tám thành công rồi 9 năm kháng chiến, Trần Văn Giáp đã có mặt trong cuộc kháng chiến và kiến quốc. Ông là người đầu tiên tham gia xây dựng trường Trung học Kháng chiến ở Phú Thọ và cũng là người đầu tiên lên lớp dạy môn lịch sử và văn học tại trường này. Năm 1948, ông dạy chữ Hán ở trường Hùng Vương (Phú Thọ) v.v… Mãi đến năm 1957 ông lại được phân công tiếp quản cơ sở EFEO. Chỉ trong vòng một năm trời, ông trực tiếp tổ chức và hướng dẫn biên soạn các được tập sách quý như Mục lục các sách chữ Hán và chữ Quốc ngữ viết về Việt Nam (8 tập), mỗi tập 250 trang; rồi soạn xong cuốn Văn bia Việt Nam, 2 tập gồm những giải đề và phản ánh trên 200 bia từ thời Lý đến nhà Mạc.

Về vấn đề nghiên cứu văn bia, trước ông đã có Lê Quý Đôn từng sử dụng văn bia để bổ sung tài liệu khi biên soạn Đại Việt thông sử, đồng thời chép được 17 bài trong Kiến văn tiểu lục; Cao Huy Lãng chép được 82 văn bia ở Văn Miếu; Hoàng Xuân Hãn với 6 văn bia để biên soạn cuốn sách nổi tiếng về Lý Thường Kiệt. Biết được những con số đó để thấy Trần Văn Giáp là người có công lớn trong lĩnh vực này. Bộ sách “Tìm hiểu kho sách Hán Nôm” Từ năm 1957, được sự khuyến khích của người bạn thân Nguyễn Văn Xước – giám đốc Thư viện Quốc gia – ông đã giành phần nhiều thời gian để biên soạn cuốn sách Tìm hiểu kho sách Hán Nôm – nguồn tư liệu văn học, sử học Việt Nam (2 tập) và chủ biên; đồng tác giả biên soạn cuốn Lược truyện các tác gia Việt Nam (2 tập). Đây là một trong những tác phẩm có tầm vóc lớn nhất mà Trần Văn Giáp đã thực hiện được. Nếu năm 1932, ông viết luận văn Những thiên thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú lần đầu tiên giúp cho các nhà nghiên cứu trong và ngoài nước biết đến tác phẩm Hán văn của Việt Nam thuộc môn loại thư mục học thì bây giờ chính ông bắt tay vào công việc thực hiện. Trần Văn Giáp cho biết là ông đã lấy những thiên thư mục của Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú làm gốc, nhưng thực sự ông đã vượt lên trên các bậc tiền bối vì trong công trình Tìm hiểu kho sách Hán Nôm đã thu nhặt, giới thiệu cả thảy 429 tác phẩm. Số lượng này gấp đôi số sách mà Phan Huy Chú giới thiệu trong Văn tịch chí và gấp bốn lần số sách mà Lê Quý Đôn giới thiệu trong Nghệ văn chí.

Về giá trị thông tin, ông cố gắng cung cấp bức tranh toàn cảnh về tình hình thư tịch của nước ta từ đời Lý đến trước Cách mạng tháng Tám. Về phân loại thì ông xếp tác phẩm thành 8 cụm: Lịch sử, Địa lý, Kỹ thuật, Ngôn ngữ, Văn học, Tôn giáo, Triết học và sách tổng hợp. Theo ông mỗi bộ sách là một đối tượng nghiên cứu và phải viết theo từng phần như nêu rõ tên sách, tác giả, số quyển, khuôn khổ, số trang, nơi và năm xuất bản, sau đó đi sâu vào nội dung tác phẩm đó và cuối cùng là tiểu truyện của tác giả. Điều này chứng tỏ ông vừa tham khảo cách làm của những người đi trước, nhưng phát triển lên bằng cách hướng tới phân loại học và thông tin học hiện đại, phản ánh được các đặc điểm phong phú, đa dạng và phức tạp thuộc kho sách Hán Nôm của ta.

Quan niệm về thư tịch và ý nghĩa của việc nghiên cứu kho sách Hán Nôm

Trần Văn Giáp đã nói rõ về công việc của mình: “Nguồn văn học của Việt Nam, theo các sách còn sót lại, có đã từ lâu, ít ra tới hàng ngàn năm nay. Những tư liệu nói về sách vở cổ của một nước, một dân tộc thông thường gọi là thư tịch chí hay kinh tịch chí (bibliographie). Chính các kinh tịch chí là nguồn gốc tư liệu văn học hay còn gọi gọn là nguồn văn hiến của một dân tộc”. Chính vì quan niệm rạch ròi và có trách nhiệm đối với di sản văn hóa của dân tộc nên ông đã nỗ lực thực hiện với thành quả cao nhất. Để bạn đọc hiểu hơn về văn hóa Việt Nam mỗi khi có dịp đi công tác, ông lại cố gắng sưu tầm tại các thư viện lớn Trung Quốc ở Bắc Kinh, Thượng Hải, Quảng Tây, Quế Lâm một số tài liệu cổ của Trung Quốc nói đến Việt Nam. Bộ sách quý này tập 1 được phát hành năm 1970, và tập II được phát hành năm 1990 đã gây được tiếng vang lớn trong dư luận trong và ngoài nước.

Từ đây, Tìm hiểu kho sách Hán Nôm có thể nói là bộ thư mục độc đáo được thực hiện theo “Mô hình Trần Văn Giáp”, đã tổng kết nửa thế kỷ lao động không mệt mỏi của một học giả uyên bác, là công trình khoa học lớn nhất đời ông, là một bước phát triển mới trong lịch sử thư mục học (bibliographie) của Việt Nam. Từ đây, khi nói đến lĩnh vực thư mục học thì sau hai bậc tiền bối đi trước là Lê Quý Đôn và Phan Huy Chú, chúng ta có thể xếp nhân vật tiếp theo là Trần Văn Giáp. Thế nhưng, do công việc của một cá nhân nên ông vẫn chưa phân loại, xử lý hết được toàn bộ kho sách khoảng 5.000 cuốn Hán – Nôm hiện còn lưu giữ. Công việc này vẫn còn chờ đợi công sức của những người tâm huyết khác. Ai sẽ là người tiếp tục nối theo chí hướng của Trần Văn Giáp để góp phần nghiên cứu, khai thác kho thư tịch tài liệu Hán Nôm đang để ra một cách cấp thiết hiện nay? Có những nhà khoa học với nhiều mà công trình để lại, càng lùi xa thời gian thì không những không bị thời gian phủ mờ mà còn lấp lánh giá trị hiện hữu. Hội nghị quốc tế về Việt Nam học được tổ chức lần đầu tiên tại Hà Nội (7/1998), qua đó ta càng thấy việc làm đơn độc, bền bỉ, nhẫn nại của Trần Văn Giáp đối với kho sách Hán Nôm vẫn còn mang ý nghĩa thời sự.

Những đóng góp trong lĩnh vực văn bản học và khảo chứng

Là người suốt đời tâm niệm “Muốn phát huy những tinh hoa của nền văn hóa dân tộc thì đều phải tìm tới kho sách rất phong phú đã được lưu truyền qua nhiều thế hệ” và “Việc sưu tầm giới thiệu kho tàng văn hiến – tức là sách thành văn xưa để lại – là việc làm cần thiết đầu tiên để hiểu giá trị văn minh của một dân tộc, một đất nước” nên ông đã có nhiều đóng góp khác rất đáng trân trọng. Từ những năm 1934, ông đã công bố nhiều tài liệu như : Một áng văn Nôm cổ: Hải Dương phong vật khúc; năm 1956 ông cùng đồng nghiệp phiên âm, chú giải thơ Nôm Nguyễn Trãi, xuất bản Quốc âm thi tập và góp phần biên soạn Nguyễn Trãi toàn tập. Rồi những năm tiếp theo ông lần lượt cho in Bích Câu kỳ ngộ, truyện Trinh Thủ, Ngọc Kiều Lê… Công việc khảo cứu Bích Câu kỳ ngộ cũng là một cống hiến khoa học có giá trị. Trước đây, theo sự suy đoán của Phạm Đình Hổ, sự phân tích của Hoàng Xuân Hãn thì tác giả bản chữ Hán Bích Câu kỳ ngộ là Đặng Trần Côn. Trúc Khê và Nguyễn Đỗ Mục cho rằng cứ để “khuyết danh”. Đinh Gia Thuyết đoán định là của Đoàn Thị Điểm nhưng không nêu ra chứng cứ thuyết phục. Còn Trần Văn Giáp chủ trương “căn cứ vào hiện vật mà xét”. Vì vậy, ông đã dựa vào sách Truyền kỳ tân phổ in năm 1811 và thiên Văn tịch chí của Phan Huy Chú để khẳng định là của Đoàn Thị Điểm.

Sự việc đã rõ ràng, vậy ai là tác giả bản chữ Nôm với 678 câu thơ lục bát dịch từ nguyên tác trên? Trần Văn Giáp đã tìm ra tác giả là Vũ Quốc Trân – một nhà giáo ở Hà Nội vào thế kỷ XIX. Nhà nghiên cứu Tạ Ngọc Liễn cho biết: “Trần Văn Giáp còn có công phát hiện nhiều tài liệu lịch sử mới, quý giá, thí dụ một số văn chỉ của Nguyễn Trải, hai bài văn bia thời Tống nói về sự kiện Nùng Cao Trí tạc ở Quế Lâm (Trung Quốc). Đặc Biệt, những tài liệu về mối giao lưu văn hóa, tình cảm hữu nghị giữa Việt Nam và Triều Tiên từ đầu thế kỷ XIII đến thế kỷ XIX, được Trần Văn Giáp sưu tập tại Triều Tiên năm 1959.

Vê công tác văn bản học, ông cũng có công khảo chứng, giám định, chỉ ra một số sách vở, tài liệu lịch sử ngụy tạo, như Hoàng Việt Xuân Thu là cuốn sách giả được làm ra nhằm xuyên tạc cuộc khởi nghĩa Lam Sơn. Bản Giao Châu ký (sách Vĩnh Lạc đại điển) mới phát hiện, cũng bị Trần Văn Giáp vạch rõ là một ngụy thư. Riêng công trình khảo chứng mang tiêu đề khiêm tốn “Một vài ý kiến về An Dương ngọc giản và vấn đề Thục An Dương Vương” là một tác phẩm được Trần Văn Giáp viết với trình độ thật sự uyên bác, thuyết phục, khi ông chứng minh “Thẻ ngọc An Dương” (do học giả Trung Quốc Dung Duy Cương gửi tới Hồ Chủ tịch năm 1956) là tài liệu giả mạo. Chỉ một công trình này cũng đủ đưa tên tuổi Trần Văn Giáp lên vị trí hàng đầu những nhà khảo chứng học Việt Nam.

Cuối đời

Tại Hội thảo khoa học “Trần Văn Giáp với sự nghiệp bảo tồn di sản văn hóa dân tộc” (1996) tại Hà Nội, các nhà nghiên cứu đều thống nhất tôn vinh ông là cây đại thụ, là nhà thư mục học lớn nhất của Việt Nam trong thế kỷ XX. Với những đóng góp tích cực cho văn hóa nước nhà, mọi người còn gọi ông là nhà sử học, nhà giáo dục học… Ông mất ngày 25-11-1973 tại Hà Nội. Và trong căn phòng tá túc ở trường Bác Cổ Viễn Đông người ta không tìm được tài sản gì của ông để lại, ngoại trừ những pho sách! Đó là thứ tài sản quý báu mà không phải ai cũng có được, dù giàu có nhất.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 3 – Danh nhân khoa học Việt Nam, Nxb Trẻ. 

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Trần Văn Giáp

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)