Đình Hoành Sơn ( Đình làng Ngang – Thiên Nhẫn, Nghệ An)

Đình Hoành Sơn ( Đình làng Ngang – Thiên Nhẫn, Nghệ An)

Thông tin cơ bản

Tên gọi và vị trí địa lý

Đình Hoành Sơn (còn gọi là đình làng Ngang) tọa lạc tại xã Khánh Sơn, huyện Nam Đàn, tỉnh Nghệ An. Di tích nằm cách trung tâm thành phố Vinh khoảng 35 km về phía Tây Nam và cách trung tâm huyện Nam Đàn khoảng 20 km về phía Đông Nam.

Tên gọi Hoành Sơn gắn với địa danh làng Hoành Sơn xưa, một vùng đất thuộc tổng Nam Kim, nằm bên dòng sông Lam, nơi cư dân địa phương hình thành cộng đồng làng xã và xây dựng các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng truyền thống. Bên cạnh tên gọi Hoành Sơn, nhân dân địa phương còn quen gọi là đình làng Ngang, phản ánh cách gọi dân gian gắn với không gian cư trú của cộng đồng làng. 

Lịch sử và nhân vật

Đình Hoành Sơn là nơi thờ phụng Uy Minh vương Lý Nhật Quang – vị Thành hoàng làng, đồng thời là nhân vật lịch sử có vai trò quan trọng trong quá trình khai phá, quản lý và phát triển vùng đất Nghệ An dưới thời Lý. Theo sử liệu, Lý Nhật Quang là con trai thứ tám của vua Lý Thái Tổ (974 – 1028), được triều đình cử giữ chức Tri châu Nghệ An vào thế kỷ XI. Trong thời gian cai quản vùng đất này, ông đã có nhiều đóng góp trong việc tổ chức quản lý hành chính, ổn định đời sống nhân dân, phát triển kinh tế và củng cố vùng đất phía Nam của quốc gia Đại Việt.

Đối với vùng đất tổng Nam Kim xưa, trong đó có làng Hoành Sơn, công lao của Lý Nhật Quang được nhân dân ghi nhớ qua những truyền thuyết và ghi chép địa phương về việc chiêu mộ dân lưu tán, tổ chức khai hoang, mở rộng sản xuất, xây dựng làng xóm. Tương truyền, trong quá trình khai phá vùng đất mới, ông đã tập hợp nhiều lực lượng cư dân khác nhau cùng tham gia xây dựng quê hương, trong đó có những người Chăm Pa và nhà Tống. Chính sự khoan hòa, tài năng quản lý cùng chính sách thu phục nhân tâm của ông đã góp phần hình thành cộng đồng cư dân ổn định tại vùng đất này.

Một số dấu tích đá cổ còn được lưu giữ tại khu vực Hoành Sơn được các nhà nghiên cứu cho rằng có thể liên quan đến quá trình giao lưu, tiếp biến văn hóa giữa các cộng đồng cư dân trong lịch sử. Những dấu tích này góp phần phản ánh sự đa dạng về thành phần cư dân và quá trình hình thành, phát triển của vùng đất Nam Đàn qua các thời kỳ.

Sau khi Lý Nhật Quang qua đời, để tưởng nhớ công lao của ông, nhân dân Nghệ An nhiều nơi đã lập đền, đình thờ phụng và tôn ông là Thành hoàng, Đại phúc thần của châu Nghệ An. Việc thờ phụng Uy Minh vương Lý Nhật Quang tại đình Hoành Sơn thể hiện sự tri ân của cộng đồng đối với vị quan có công khai mở đất đai, chăm lo đời sống nhân dân, đồng thời phản ánh truyền thống đạo lý “uống nước nhớ nguồn” trong đời sống tín ngưỡng của cư dân địa phương.

Bên cạnh Thành hoàng Lý Nhật Quang, đình Hoành Sơn còn phối thờ Tứ vị Thánh nương – các vị thần được người Việt tôn thờ phổ biến ở những vùng có liên quan đến sông nước, biển cả. Theo thần tích lưu giữ tại đền Cờn Trong (phường Quỳnh Phương, thị xã Hoàng Mai, Nghệ An), Tứ vị Thánh nương được dân gian quan niệm là hiện thân của Hoàng hậu, các công chúa và Nhũ mẫu triều Nam Tống (Trung Quốc), sau đó được Việt hóa và trở thành các vị thủy thần có khả năng che chở, phù hộ cho cư dân.

Do làng Hoành Sơn nằm ven sông Lam, là khu vực thường chịu ảnh hưởng của thiên tai, lũ lụt, nhân dân địa phương đã đưa long ngai, bài vị của Tứ vị Thánh nương về phối thờ tại đình với mong muốn nhận được sự che chở của thần linh, cầu cho mưa thuận gió hòa, cuộc sống bình an, mùa màng thuận lợi.

Ngoài thờ Thành hoàng và các vị thủy thần, đình Hoành Sơn còn là nơi thờ Phật. Trước đây, các pho tượng Phật được thờ tại chùa Ngang (xã Khánh Sơn), tuy nhiên do chùa bị hư hỏng, xuống cấp, nhân dân địa phương đã đưa các pho tượng về đình để tiếp tục phụng thờ. Vì vậy, không gian tín ngưỡng tại đình Hoành Sơn mang đặc điểm kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Thành hoàng làng, tín ngưỡng thờ thủy thần và Phật giáo.

Về lịch sử xây dựng, căn cứ vào các tư liệu còn lưu giữ tại địa phương, đình Hoành Sơn được khởi dựng vào tháng Chạp năm Nhâm Ngọ, niên hiệu Cảnh Hưng thứ 23 (1762) và hoàn thành vào cuối năm Quý Mùi (1763). Người khởi xướng và đứng ra tổ chức xây dựng công trình là Đặng Thạc, một vị cử nhân dưới triều vua Lê Hiển Tông (1740 – 1786), thuộc dòng dõi thế tộc và có uy tín trong vùng.

Việc xây dựng đình Hoành Sơn diễn ra trong bối cảnh các làng xã ở khu vực Bắc Trung Bộ từng bước hoàn thiện các thiết chế văn hóa, tín ngưỡng cộng đồng. Từ khi được dựng lên, đình không chỉ là nơi thờ tự các vị thần được nhân dân tôn kính mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các nghi lễ, lễ hội và các hoạt động văn hóa truyền thống của cư dân làng Hoành Sơn.

Trải qua hơn hai thế kỷ tồn tại, đình Hoành Sơn vẫn giữ vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của cộng đồng địa phương. Hình tượng Uy Minh vương Lý Nhật Quang cùng các vị thần được phụng thờ tại đình đã trở thành biểu tượng về công lao khai phá, xây dựng quê hương, tinh thần gắn kết cộng đồng và ý thức gìn giữ những giá trị văn hóa truyền thống của vùng đất Nam Đàn, Nghệ An.

Kiến trúc cảnh quan

Đình Hoành Sơn được xây dựng trên khu đất tương đối bằng phẳng, có tổng diện tích 1.663,3 m². Tổng thể di tích gồm các hạng mục: cổng, sân, vườn, hệ thống tường bao, Đại đình và Hậu cung. Các công trình được bố trí theo dạng mặt bằng truyền thống của đình làng Việt Nam, với Đại đình ở phía trước và Hậu cung nằm phía sau, tạo thành bố cục kiểu chữ “Nhất (一) chuôi vồ”. Cách tổ chức không gian này vừa đáp ứng chức năng thờ tự Thành hoàng, vừa phục vụ các hoạt động sinh hoạt cộng đồng của cư dân địa phương.

Cổng, sân, vườn và hệ thống tường bao

Khuôn viên đình được bao quanh bởi hệ thống tường bao cao khoảng 1,2m, dày 0,15m, tạo ranh giới giữa không gian tín ngưỡng và môi trường bên ngoài. Cổng đình rộng 4,5m, sử dụng cửa sắt cao 1,2m, thuận tiện cho việc đi lại trong các dịp sinh hoạt tín ngưỡng, lễ hội.

Bên trong cổng là sân đình có diện tích 181,79m² (25,97m × 7m), nền lát gạch đất nung kích thước 0,2m × 0,2m. Không gian sân kết hợp với hệ thống cây xanh như bàng, xà cừ tạo nên cảnh quan thoáng đãng, phù hợp với đặc trưng không gian kiến trúc đình làng truyền thống.

Đại đình

Đại đình là công trình kiến trúc trung tâm của đình Hoành Sơn, có diện tích 330,4m² (25,97m × 12,725m), gồm 7 gian và 2 chái. Công trình có chiều cao từ đỉnh mái xuống nền là 7,35m. Hai đầu hồi xây tường dày 0,25m; phía trước xây tường hai bên, gian giữa mở cửa ra vào gồm 4 cánh kiểu bàn khoa; phía sau cũng xây tường hai bên và thông với khu vực Hậu cung.

Nền Đại đình được lát gạch đất nung kích thước 0,2m × 0,2m. Hệ thống mái gồm bốn mái, trong đó hai mái chính ở phía trước và phía sau, hai mái hồi ở hai bên, được lợp bằng ngói âm dương. Trên bờ nóc trang trí đề tài “Lưỡng long chầu nhật”, với hình tượng mặt trời ở vị trí trung tâm, hai đầu bờ nóc tạo hình rồng trong tư thế “hồi long”. Các đầu đao và khúc nguỷnh gắn tượng con xô bằng chất liệu vôi vữa, góp phần tạo điểm nhấn cho bộ mái.

Hệ khung chịu lực của Đại đình gồm 6 bộ vì, với tổng cộng 32 chân cột, trong đó có 12 cột cái và 20 cột quân. Các cột được tạo tác theo kỹ thuật truyền thống “thượng thu hạ thách”, giúp công trình có độ ổn định và bền vững theo thời gian.

Nghệ thuật kiến trúc và trang trí hệ thống vì kèo Đại đình

Hệ thống vì kèo Đại đình đình Hoành Sơn không chỉ đảm nhiệm chức năng kết cấu mà còn là nơi tập trung các giá trị nghệ thuật chạm khắc gỗ đặc sắc. Các bộ vì có sự khác nhau về kiểu thức kết cấu và mức độ trang trí, phản ánh kỹ thuật chế tác tinh tế của nghệ nhân dân gian.

Bộ vì thứ nhất

Bộ vì thứ nhất được kết cấu theo kiểu giá chiêng chồng rường con nhị, ở giữa có lắp ván bưng. Các cấu kiện gỗ được trang trí với mật độ dày đặc.

Ở phần vì nóc, đấu thứ nhất chạm hình tượng phượng hàm thư, con rường tiếp theo trang trí đề tài hổ phù, còn tấm ván bưng thể hiện hình ảnh tiên đánh cờ.

Các vì nách (cốn) có các con rường tạo hình vân xoắn, trên các đấu chạm khắc nhiều đề tài như trúc điểu, mai điểu, rồng, phượng và hoa lá cách điệu. Trên các ván dong còn thể hiện nhiều điển tích như chèo thuyền, Bốn vị ẩn cư ở núi Thường Sơn, Thành Thang sính Y Doãn. Các mảng chạm sử dụng kỹ thuật bong kênh, tạo chiều sâu và sự sinh động cho hình tượng.

Bộ vì thứ hai và thứ năm

Hai bộ vì này có kết cấu đơn giản hơn, theo kiểu giá chiêng kẻ chuyền. Các con rường cụt ở vì nóc được tạo hình vân xoắn, phần trang trí tập trung ở khu vực hai bên câu đầu.

Tại các vì nách, nghệ nhân chạm khắc các đề tài tứ linh, tứ quý bằng kỹ thuật bong kênh kết hợp ốp măng. Ngoài các hình tượng quen thuộc như rồng, phượng còn xuất hiện hình ảnh con nai trong tư thế quay đầu.

Bộ vì thứ ba

Bộ vì thứ ba có mật độ trang trí dày đặc nhất trong Đại đình, với kết cấu kiểu giá chiêng chồng rường con nhị.

Tại vì nóc, các con rường tiếp tục được tạo hình vân xoắn. Phần quá giang phía Đông Nam trang trí hình ảnh phượng vũ bằng kỹ thuật chạm bong kênh. Dưới quá giang là hai đầu dư tạo hình rồng tròn, kết hợp giữa chạm bong kênh và chạm lộng, hướng về gian giữa.

Các vì nách được chạm khắc kín với nhiều đề tài như rồng, phượng, hình ảnh voi cùng binh lính, đề tài rồng ổ và hình ảnh rồng, phượng giao hòa trên ván dong.

Bộ vì thứ tư

Bộ vì thứ tư có kết cấu tương tự bộ vì thứ ba, nổi bật với hệ thống trang trí ở các vì nách. Các mảng chạm sử dụng kỹ thuật bong kênh kết hợp chạm lộng, thể hiện nhiều đề tài khác nhau.

Ngoài các hình tượng rồng, phượng, nghệ nhân còn thể hiện những hoạt cảnh đời sống như bắt cá, đi cày, thổi cơm. Đáng chú ý là hình tượng hổ phù tại xà nách với đặc điểm mắt lồi, mũi hếch, miệng “ọe” mặt trăng, hai tay nắm lấy râu hai bên.

Bộ vì thứ sáu

Bộ vì thứ sáu có kết cấu tương tự bộ vì thứ nhất nhưng mức độ trang trí đơn giản hơn. Vì nóc chủ yếu tạo hình các con rường vân xoắn, một số vị trí có trang trí trên ván bưng.

Các vì nách thể hiện nhiều đề tài như rồng, phượng, hoa lá, vân mây và các điển tích, hoạt cảnh như Đại Thánh phá trời, chèo thuyền, quan Nghè vinh quy bái tổ, thi ngạch quan võ, sĩ tử xem điểm thi.

Các bộ phận trang trí khác

Ngoài hệ thống vì kèo, nhiều bộ phận kiến trúc khác trong Đại đình cũng được tận dụng để trang trí.

Hệ thống cổ nghé chủ yếu tạo hình mặt hổ phù với nhiều dạng thức khác nhau, đặc trưng bởi mắt lồi, mũi hếch, miệng “ọe” chữ Thọ hoặc mặt trăng. Các hình tượng được thực hiện bằng kỹ thuật chạm lộng kết hợp bong kênh.

Hệ thống kẻ trong Đại đình được chạm khắc với nhiều đề tài như rồng, phượng, long ẩn vân, cây hóa rồng, cá hóa rồng, phượng vũ, phượng hàm thư. Một số mảng còn thể hiện điển tích Long mã Hà đồ cùng các hình ảnh sinh hoạt sinh động của thế giới tự nhiên.

Hệ thống ván gió cũng là không gian thể hiện nghệ thuật trang trí với các đề tài tứ linh, tứ quý, cá hóa rồng và những hoạt cảnh đời sống như đi cấy, bắt cá, hội làng, tạo nên sự kết hợp giữa yếu tố tín ngưỡng và sinh hoạt dân gian.

Hậu cung

Hậu cung nằm phía sau Đại đình, có diện tích 44,8m² (6,37m × 7,035m), gồm một gian. Ba phía xây tường dày 0,25m, phía trước mở cửa ra vào, nền lát gạch đất nung.

Công trình có hệ thống khung gỗ lim gồm 2 bộ vì kiểu kẻ suốt, với 8 cột, trong đó có 4 cột cái trốn và 4 cột quân.

Khác với Đại đình là không gian sinh hoạt cộng đồng và thể hiện nghệ thuật chạm khắc, Hậu cung được tổ chức theo hướng kín đáo, trang nghiêm, là nơi đặt ban thờ Thành hoàng làng Hoành Sơn cùng các vị thần phối thờ gồm Tứ Vị Thánh Nương và các vị Chư Phật được rước từ chùa Ngang về phụng thờ.

Hiện vật

Đình Hoành Sơn hiện còn lưu giữ hệ thống hiện vật phong phú, phản ánh những giá trị lịch sử, tín ngưỡng và nghệ thuật đặc sắc của một ngôi đình cổ vùng Bắc Trung Bộ. Các hiện vật tại di tích không chỉ là những vật dụng phục vụ hoạt động thờ tự, nghi lễ truyền thống của cộng đồng cư dân địa phương mà còn góp phần phản ánh quá trình hình thành, phát triển của đời sống văn hóa tinh thần tại làng Hoành Sơn qua nhiều thế hệ.

Hiện nay, đình Hoành Sơn còn bảo tồn được 10 pho tượng cổ có giá trị, trong đó tiêu biểu là bộ tượng Tam Thế. Đây là nhóm tượng mang giá trị nghệ thuật và tôn giáo đặc sắc, thể hiện sự hiện diện của Phật giáo trong không gian tín ngưỡng của di tích. Việc phối thờ các pho tượng Phật cùng với hệ thống thờ Thành hoàng và các vị thần linh tại đình cho thấy sự giao thoa giữa tín ngưỡng dân gian và Phật giáo trong đời sống tâm linh của cộng đồng cư dân Hoành Sơn.

Bên cạnh hệ thống tượng thờ, đình còn lưu giữ nhiều đồ thờ và hiện vật phục vụ nghi lễ truyền thống. Trong đó có các hiện vật gắn với hoạt động thờ phụng, tế lễ và trang trí không gian thờ tự, góp phần duy trì sự trang nghiêm của đình làng – trung tâm sinh hoạt tín ngưỡng và cộng đồng của cư dân địa phương.

Đặc biệt, hệ thống hiện vật tại đình Hoành Sơn cùng với các thành phần kiến trúc, chạm khắc gỗ trong Đại đình là những nguồn tư liệu quan trọng giúp nghiên cứu về nghệ thuật tạo tác dân gian thế kỷ XVIII, đời sống tín ngưỡng và sự phát triển của thiết chế đình làng ở vùng Nghệ An. Những hiện vật này không chỉ mang giá trị sử dụng trong nghi lễ mà còn là minh chứng cho sự tiếp nối truyền thống văn hóa, tín ngưỡng của cộng đồng làng Hoành Sơn qua nhiều thời kỳ.

Lễ hội

Trong đời sống văn hóa truyền thống của làng Hoành Sơn, đình không chỉ là nơi thờ phụng Thành hoàng mà còn là trung tâm sinh hoạt cộng đồng, nơi diễn ra các hoạt động văn hóa, tín ngưỡng và hội làng của cư dân địa phương. Hằng năm, tại đình Hoành Sơn diễn ra hai kỳ lễ lớn gồm lễ Kỳ phúc vào tháng Hai và lễ rước thần vào ngày Rằm tháng Sáu nhằm tưởng nhớ công lao của Thành hoàng làng Uy Minh vương Lý Nhật Quang cùng các vị thần được phối thờ.

Trong đó, lễ Kỳ phúc là nghi lễ có quy mô lớn hơn, do 5 phường và 4 giáp trong làng cùng tham gia tổ chức, đóng góp theo suất đinh. Đây là dịp để cộng đồng dân cư bày tỏ lòng thành kính đối với thần linh, cầu mong quốc thái dân an, mùa màng thuận lợi, nhân dân no ấm, đồng thời củng cố mối quan hệ gắn kết giữa các dòng họ, phường giáp trong làng.

Bên cạnh phần lễ trang nghiêm, phần hội được tổ chức với nhiều hoạt động văn hóa dân gian phong phú, kéo dài trong nhiều ngày, thu hút đông đảo người dân thuộc nhiều lứa tuổi tham gia. Các trò diễn, trò chơi dân gian từng tạo nên không khí sôi động cho ngày hội như hát tuồng, hát chèo, bơi thuyền, cờ người, đu tiên, đu ngựa, kết đèn, các tích trò dân gian như Trương Viên, Truyện Kiều… đã trở thành những nét đặc sắc trong sinh hoạt văn hóa cộng đồng của làng Hoành Sơn.

Sự quy mô và phong phú của hội đình Hoành Sơn từng được giới nghiên cứu và báo chí đương thời ghi nhận. Dân gian địa phương vẫn lưu truyền những câu thơ mô tả không khí náo nhiệt của hội làng:

Bày hàng cổ vũ xôn xao
Trong đình trò hát, ngoài rào vạn bơi
Giữa sân bày đánh cờ người
Nơi thời đu ngốc, nơi thời đu tiên
Nơi thời kết đốt cây đèn
Nơi thời vây hát Trương Viên, trò Kiều
Trông ra vui vẻ trăm chiều…

Tuy nhiên, trong giai đoạn thực dân Pháp chiếm đóng, đình Hoành Sơn từng bị trưng dụng làm nơi tra khảo các chiến sĩ cách mạng, khiến các hoạt động hội hè truyền thống tại đình bị gián đoạn. Dù vậy, những giá trị văn hóa, tín ngưỡng và ký ức về lễ hội đình Hoành Sơn vẫn được cộng đồng địa phương lưu giữ, góp phần phản ánh đời sống tinh thần phong phú của cư dân vùng đất Nam Đàn qua nhiều thế hệ.

Xếp hạng

Với những giá trị tiêu biểu về lịch sử, kiến trúc nghệ thuật, tín ngưỡng và văn hóa truyền thống, đình Hoành Sơn đã được Thủ tướng Chính phủ quyết định xếp hạng là Di tích quốc gia đặc biệt tại Quyết định số 2082/QĐ-TTg ngày 25/12/2017. Việc được công nhận là Di tích quốc gia đặc biệt đã khẳng định vị trí, giá trị nổi bật của đình Hoành Sơn trong hệ thống di sản văn hóa của tỉnh Nghệ An nói riêng và của cả nước nói chung, đồng thời tạo cơ sở quan trọng cho công tác bảo tồn, tu bổ và phát huy giá trị di tích trong đời sống đương đại.

Chấm điểm
Chia sẻ
Checkin
đình Hoành Sơn12

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)