Bia Quế Lâm Ngự Chế
Thác bản bia tại phường Chiềng Lề, thành Phố Sơn La, tỉnh Sơn La (phường Tô Hiệu, tỉnh Sơn La), sưu tầm tại trên vách đá ở cửa Động La.
Thác bản 1 mặt, khổ 140 x 80 cm, toàn văn có 14 dòng gồm 140 chữ Hán
Niên đại: năm Canh Thân (1440)
Lịch sử
Vua Lê Thái Tông (tên húy Lê Nguyên Long) là con thứ của vua Lê Thái Tổ (Lê Lợi) và Cung từ Hoàng Thái hậu Phạm Thị Ngọc Trần, quê ở hương Quần Lai, huyện Lôi Dương (nay thuộc huyện Thọ Xuân, tỉnh Thanh Hóa). Nhà vua sinh năm 1423, được phong Lương Quận công năm 1428, lập làm Hoàng Thái tử năm 1429 và lên ngôi Hoàng đế vào năm 1433. Năm 1440, nhà vua đổi niên hiệu thành Đại Bảo, lấy hiệu “Quế Lâm Động Chủ”, tiếp nối hiệu “Lam Sơn Động Chủ” của vua cha Lê Thái Tổ.
Trong thời gian trị vì (1433–1442), Lê Thái Tông được sử sách đánh giá là vị vua có tài năng, quyết đoán, chăm lo xây dựng đất nước và củng cố triều chính. Đại Việt sử ký toàn thư ghi nhận:
“Vua Lê Thái Tông là người hùng tài, đại lược, cương đoán, làm được việc. Khi mới lên ngôi ra sức cầu trị định chế độ, ban sách vở, đặt lễ nhạc, sáng suốt việc chính, cẩn thận việc hình, mới có mấy năm mà điển chương văn vật rực rỡ, trong nước đều biến đổi lớn…”
Đồng thời, sử sách cũng nhận xét:
“…Vua lên ngôi, nối vận thái bình, bên trong chỉ huy được quần thần, bên ngoài dẹp được các nước di dịch quấy nhiễu, trọng đạo, sùng nho, mở khoa thi xét tuyển nhân tài, xét tử tù ngục phần nhiều khoan dung xá tội, là bậc vua giỏi thủ thành…”
Trong chính sách trị quốc, vua Lê Thái Tông đặc biệt coi trọng vùng Tây Bắc – khu vực giữ vai trò là phên dậu của quốc gia. Nhằm củng cố chủ quyền và ổn định biên cương, trong 9 năm trị vì, nhà vua đã hai lần thân chinh lên vùng Tây Bắc để dẹp các cuộc nổi loạn của các tù trưởng địa phương.
Tháng 3 năm Canh Thân (1440), vua trực tiếp chỉ huy sáu đạo quân tiến đánh tù trưởng Thượng Nghiễm ở châu Mường Muổi (nay thuộc huyện Thuận Châu, tỉnh Sơn La). Thượng Nghiễm đã liên kết với quân Ai Lao nổi dậy chống triều đình. Sau khi thất bại, Thượng Nghiễm đem voi đến xin hàng. Theo sử cũ, vua Lê Thái Tông đã tha chết cho ông ta vì thấy đối phương thành tâm quy phục.
Trên đường trở về sau chiến thắng, nhà vua cùng quân sĩ dừng chân tại Động La (Thẳm Báo Ké), thuộc phường Chiềng Lề, thành phố Sơn La ngày nay. Trước vẻ đẹp của hang động và cảnh quan nơi đây, vua đã sáng tác bài thơ “Quế Lâm động chủ ngự chế” và cho khắc trực tiếp lên vách đá của động. Đây là một trong những dấu tích lịch sử, văn học đặc biệt còn lưu lại tại di tích.
Đúng một năm sau, vào tháng 3 năm 1441, vua Lê Thái Tông tiếp tục thân chinh lên Mường Muổi để dẹp cuộc nổi loạn lần thứ hai của Thượng Nghiễm. Trong chiến dịch này, quân triều đình đã bắt được tướng Ai Lao là Đao Mông cùng gia quyến tại Động La, đồng thời bắt giữ các con của Thượng Nghiễm là Sinh Tượng và Tràng Đồng. Cuối cùng, Thượng Nghiễm ra hàng, chấp nhận quy phục triều đình, góp phần giữ vững sự ổn định và bình yên cho vùng biên giới phía Tây của Đại Việt. Di tích được Bộ Văn hóa, Thông tin xếp hạng cấp Quốc gia ngày 05/02/1994.
Toàn văn
Phiên âm
Quế Lâm Ngự Chế
Thuận Mỗi châu nghịch tù trưởng Thượng Nghiễm vong ân bội nghĩa, xuất chúng tòng Ai Lao tắc nghịch, dư thân đổng lục chinh chính kỳ tội, chỉ cố chi gian thiêu hủy lưỡng trạng, sơn nhai, đoạt kỳ tình truyền. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, tiến tượng ngật hàng, dư linh kỳ vô bặc, vô nhung. Bất nhẫn tận lục, nãi xã quyết tội ban sư nhi hoàn lưu đế nhất rương vân:
Bình Chẩm lưu tâm niệm viễn nhân
Man tù hà sự tốc vong thân
Thế gian nhược hữu anh hùng chủ
Thiên hạ thùy dung phản nghịch thần
Ô đạo duyên vân không thị hiểm
Âm nhai rươi noãn kỉ diện xuân
Cách trừ ô nhiễm an dân thiện
Nhẫn sử hà mạnh ngoại chí nhân
(Đại Bảo nguyên niên Quý xuân Trung hoàn cát nhật)
Dịch nghĩa
Bài thơ Quế Lâm ngự chế
Tù trưởng Thuận Châu là Thượng Nghiễm phản nghịch, vong ơn bội nghĩa, đem quân theo người Ai Lao làm phản. Thân chinh điều khiển sáu quân tới trị nó. Thượng Nghiễm kế cùng lực tận, dâng voi xin hàng. Ta thương nó quỳ bò không mang vũ khí, không nỡ chém, bèn tha tội cho nó, rồi đem quân trở về để lại một bài thơ rằng:
Nghĩ tới người xa đêm khổ tâm
Thổ tù sao lại dám quên thân
Thế gian đã có anh hùng chúa
Thiên hạ ai tha kẻ nghịch thần
Đường sá khó khăn đừng cậy hiểm
Hang cùng đã ấm áp hơi xuân
Yên được dân lành nhơ nhớp hết
Dân xa được hưởng tấm lòng nhân.
(Năm đầu niên hiệu Đại Bảo, Canh Thân 1440, ngày lành giữa tháng 3)
Nguồn ảnh: Sưu tầm