Võ Duy Dương (1827 – 1866)

Võ Duy Dương (1827 – 1866)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Về nhân vật này nhà văn Sơn Nam ghi nhận, đó là “một trong bốn vị anh hùng vào cuối thế kỷ XIX, về tầm vóc có thể đứng ngang với Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, sau Trương Định”. Sự ghi nhận này có cơ sở, bỏi sau khi anh hùng Trương Định tuẫn tiết, phong trào kháng chiến ở Nam kỳ vẫn phất cao ngọn cờ nghĩa dưới sự chỉ huy của Võ Duy Dương, tức Ngũ Linh Thiên Hộ. Lâu nay, các tài liệu sửhọc có những thông tin không thống nhất về năm sinh, năm mất và sinh quán của ông. Nay chúng tôi dựa vào tài liệu “Võ Duy Dương với cuộc kháng chiến Đồng Tháp Mười” (NXB Đồng Tháp – 1992) để cung cấp bạn đọc những thông tin đáng tin cậy nhất. Bởi lẽ, những người biên soạn khảo sát thực địa, gặp nhân chứng và đưa ra nhiều thông tin đã được kiểm chứng.

Theo đó, anh hùng “Võ Duy Dương sinh năm 1827, quê quán ở thôn Cù Lâm Nam, nay Nam Tượng, xã Nhơn Tân, huyện Anh Nhơn (Bình Định). Hiện nay, Nam Tượng là một thôn nhỏ độ mươi nóc gia nằm dưới chân núi Thơm (bên tay phải đường 19 từ Quy Nhơn đi lên) cách sông Côn 4km về phía Nam, cách làng Kiên Mỹ (quê hương Nguyễn Huệ) 12km… Tổ sáu đời của Võ Duy Dương là Võ Hữu Man từ miền Bắc vào Cù Lao Nam lập nghiệp, đến nay con cháu vẫn còn nhiều người cư ngụ tại thôn này. Các thế hệ tiếp theo sau là Võ Văn Thạnh, Võ Văn Tín, Võ Hữu Sự và Võ Văn Đức. Ông Võ Hữu Đức có tất cả bảy người con, nhưng còn sống đến khi trưởng thành chỉ 5 người – ba trai, hai gái: Võ Hữu Biểu, Võ Duy Tân, Võ Duy Dương, Võ Thị Viết và Võ Thị Bảy… Lúc trưởng thành, Võ Duy Dương lấy bà Phạm Thị Liệu, người thôn Tráng Long cùng huyện và đến năm 1855, bà Liệu hạ sanh người con đầu. Tiếp theo vài năm sau đó, bà sanh người con trai thứ hai trong lúc ông lên đường vào Nam. Cũng theo lời tường thuật của cụ Võ Quế trong thời gian ở Nam kỳ, Võ Duy Dương có lấy vợ hai đã sanh được hai người con trai tên là Võ Châu và Võ Phong. Điều này đã được các bô lão ở Bắc Chiêng (Mộc Hóa, Long An) xác nhận là khi ở trong Nam, Võ Duy Dương được một ông hương cả gả con gái cho. Nhưng tên tuổi và quê quán bà này vẫn chưa xác định được” (SĐD, lược trích từ tr. 58 đến tr. 71).

Tuổi thơ và những giai thoại dân gian

Chiều. Trên ngọn cau xanh mướt, nắng vàng đang nhạt dần. Những đứa trẻ chăn trâu vẫn hào hứng trò chơi của mình. Trên sân cỏ rộng có hai đứa trẻ đang vật nhau, nhằm tranh tài ai là người khỏe nhất. Lũ đứng ngoài chia làm hai phe vỗ tay, hò reo ầm ĩ. A! Tún sắp ngã kia rồi! Cả lũ trợn tròn mắt khi thấy Tún đang bị hai cánh tay cứng như sắt của “đối thủ” đưa lên lên cao và ném xuống đất. Tún nằm ngay đơ cán thuỗng. Tiếng vang reo hò không ngót. Xa xa những cánh cò trắng thấp thoáng bay về phía chân mây… Lũ trẻ lật đật lùa trâu về chuồng. Úa! Sao Tún vẫn nằm mãi thế? Có tiếng kêu rú lên! Thì ra, sau cú lỡ tay như trời giáng ấy, Tún đã tắt thở! Đứa trẻ trẻ gây ra cái chết này có gương mặt chữ điển, khôi ngô, môi đỏ như son bỗng xanh mét mặt mày.

Tin dữ này đã loan truyền rất nhanh và đến tai quan phủ. Chẳng mấy chốc, đứa trẻ bị giải lên phủ đường điều tra. Trên đường đi, có lẽ do sợ hãi bị tù tội nên nó toan vùng chạy. Đã đoán trước tình huống này, hai anh lính lực lưỡng chủ động nắm tay nó lại, nhưng lúc nó vùng mạnh thì cả hai cùng ngã sóng soài xuống đất. Đứa trẻ khỏe như vâm! Nhận được tin này, quan phủ bực mình lắm, ông phải xuống tận nhà để bắt thủ phạm cho bằng được. Thế nhưng khi bước vào nhà, bao nhiêu nỗi bực dọc của ông tan dần… Ông bỗng se sắt tâm can khi nhìn thấy trước mặt là cái chòi tuềnh toàng, bên trong không có gì ngoài một chỏng tre ộp ẹp. Tiếp chuyện với ông, một góa phụ ốm yếu đang dìm con ho trong lồng ngực. Qua trò chuyện ông biết đứa trẻ này con nhà nghèo, làm mướn cho phú hộ trong làng để kiếm ăn qua ngày, có điều nó rất khỏe và sống hiếu thảo với mẹ.

Sau đó, ông gọi nó đến và ân cần hỏi han về sự việc đã xẩy ra. Ông biết rõ mười mươi nó vô tình lỡ tay, chứ không cố sát. Với lòng nhân từ, ông đứng ra lo liệu, đền bù cho gia đình nạn nhân, nhưng bù lại bà mẹ phải cho nó về làm con nuôi. Không còn cách nào khác, bà mẹ đồng ý. Từ đây, cuộc đời của đứa trẻ bắt đầu thay đổi. Về ở nhà tri phủ, nó được học chữ và học võ.

Năm tháng qua nhanh, trở thành thanh niên to cao, đẹp trai và đã được không ít thiếu nữ thầm thương trộm nhớ. Theo truyền thuyết dân gian, trong một lần quan phủ nhận lệnh về kinh chầu vua, chàng cũng được dẫn đi theo. Trong lúc cha nuôi bận việc quan, chàng tản bộ đi xem cảnh sông Hương núi Ngự. Bỗng thấy thiên hạ đang nhốn nháo, hò hét ầm ĩ trên một khúc sông, chàng tò mò chạy đến xem. Trời ơi! Cả một bè gỗ quý do đứt dây nên đã bị dòng nước cuốn phăng. Mọi người đang sức níu lại, nhưng không thể… Lập tức, chàng lao xuống và dùng sức mạnh của mình ghìm lại bè gỗ đang lao đi như ngựa bất kham. Ai nấy đều kinh ngạc, không tin vào mắt mình. Tại sao lại có một người khỏe đến thế? Tin này đến tai nhà vua, nhân lúc triều đình đang mở kỳ thi võ để tìm nhân tài nên đã gọi chàng vào thửsức. Một lần nữa, mọi người trố mắt khi nhìn thấy chàng đã cử năm trái linh, mỗi trái nặng vài chục lý lô bằng cách hai trái cầm tay, hai trái cặp nách, một trái ngậm ở miệng và bước đi thong thả như không! Trên đời có thể có một người khỏe như thế không?

Nếu đọc bộ truyện tranh độc đáo của nhà xuất bản Le Lombard ta thấy có nhân vật Benoit Brisefer, được mệnh danh “Tí hon thần lực”, còn khỏe hơn cả thế nữa. Nhưng đó chỉ là sự hư cấu tưởng tượng của của đồng tác giả Peyo và Will. Còn đây là nhân vật có thật trong lịch sử Việt Nam, một người mà về sau đã trở thành một trong những lãnh tụ đầu tiên của phong trào kháng Pháp cuối thế kỷ XIX ở miền Nam. Tất nhiên chàng khỏe, nhưng không khỏe đến thế, vì do quá tin yêu chàng nên quần chúng mới tạo thêm giai thoại này và qua đó ta cũng biết vì sao chàng còn được gọi ông Ngũ Linh hoặc Ngũ Linh Thiên Hộ.

Sự nghiệp 

Vào Nam lập nghiệp và xây dựng lực lượng

Nếu đúng như thế, Võ Duy Dương vào miền Nam lúc đó ông khoảng 28 tuổi. Trong trường hợp này, chúng ta lại nhớ đến anh hùng Trương Định, sinh năm 1820, quê quán ở Quảng Ngãi, cũng vào Nam lập nghiệp khoảng năm 1844. Có thể nói biện pháp “đồn điền lập ấp” là nhằm mục đích ổn định đời sống của người dân trên vùng đất mới và góp phần tạo dựng tuyến phòng phủ, bảo vệ trị an những nơi xa xôi hẻo lánh, tiếp giáp với rừng núi – đúng như trong lòi tâu vào tháng 7/1854 của Kinh lược sứ Nam kỳ Nguyễn Tri Phương gửi về báo cáo cho vua Tự Đức: “Đất Nam kỳ liền với giặc Man, dân xiêu tán nhiều. Nay mượn điều chiêu mộ để dụ dân về, đốc việc khai khẩn để nuôi dân ăn, thật là một cách quản yếu giữ giặc và yên dân”.

Theo chính sách này, được sự hỗ trợ của gia đình bên vợ, Trương Định đã mộ dân xiêu tán lập đồn điền ở vùng đất Gia Thuận thuộc tỉnh Gia Định và được phong chức phó quản cơ, sau thăng quản cơ. Còn Võ Duy Dương ở Cái Bè, Cai Lậy (nay thuộc Tiền Giang) do cũng có công như thế nên được phong chức danh “bát phẩm Thiên hộ”, từ đây mọi người quen gọi ông là Thiên Hộ Dương và đến năm 1861 được thăng chức Quản cơ. Về chức danh “thiên hộ”, nhà văn Sơn Nam giải thích: “Thiên hộ là người giàu, phong tước hàm, nhờ quyên góp vào việc nghĩa, khi Pháp đến. Tùy khối lượng lúa gạo, tiền bạc đến mức nào đó thì vua Tự Đức phong Bá hộ (bực thấp), Thiên hộ (bục cao hơn) rồi đến Vạn hộ. Thiên hộ là một ngàn, tượng trung cho người quyền quý, chủ điển, được vua cấp đất để hưởng địa tô với số tá điền là một ngàn hộ dân. Trên thực tế, vua không cấp cho một sào, một mẫu nào cả” (1). Cũng giống như Trương Định, vốn là người tinh thông võ nghệ đang ôm ấp hoài bão lớn, nên những lưu dân dưới quyền chỉ huy của các ông ngoài việc khẩn hoang, họ còn được khuyến khích luyện tập võ nghệ “khi chiến tranh ra trận, khi bình lo cày cuốc”. Sau này, chính những người dân nghèo, dân lưu tán này là lực lượng chiến đấu ngoan cường dưới ngọn cờ nghĩa của Trương Định, Võ Duy Dương, Thủ Khoa Huân, Nguyễn Trung Trực, Phủ Cậu, Phan Văn Đạt, Lê Cao Dũng… dựng nên trang sử hào hùng ngày đầu chống Pháp.

Những năm đầu kháng chiến chống Pháp

Công nghiệp lừng lẫy nhất của Thiên Hộ Dương gắn liền với chiến khu Đồng Tháp Mười, sau khi triều đình ký Hòa ước năm 1862. Nhưng trước đó, khi Nguyễn Tri Phương được vua Tự Đức cử giữ chức Tổng thống Quân vụ vào Nam chỉ huy quân thứ Gia Định chống pháp, thì lúc ấy, Thiên Hộ Dương đã cùng các hiệt kiệt phương Nam tổ chức những đội quân sẵn sàng ứng chiến. Cụ thể, tại Ba Giồng, phía tây bắc tỉnh Định Tường (nay thuộc tỉnh Tiền Giang) ông cùng Thủ Khoa Huân mộ quân đánh giặc và có mối hệ chặt chẽ với nghĩa quân của Trương Định (Gò Công), Trần Xuân Hòa (Cai Lậy), Quản Là (Cần Giuộc)… Ông đã từng cùng Thủ Khoa Huân chiêu hiển tụ nghĩa kéo về giải vây cho thành Gia Định, khi bị Pháp tấn công năm 1859. Từ đó, Ba Giồng trở thành căn cứ kháng Pháp bên cạnh đại bản doanh của Trương Định ở Gò Công.

Những trận đánh long trời lở đất đã nổ ra, thể hiện khí thế của dân quân Nam kỳ đánh giặc giữ từng tấc đất, cho dù vũ khí tối tân, lực lượng hùng hậu của giặc Pháp đang chủ động giành thế tiến công. Tháng giêng năm 1861, chúng chiếm được đồn Kỳ Hòa (Gia Định), sau đó tiếp tục tiến đánh chiếm Mỹ Tho, Biên Hòa và Vĩnh Long. Trong khi những vùng đất ở phương Nam đang mất dần vào tay quân viễn chinh, thì ngoài Bắc giặc giã lại nổi lên như rươi, chống lại chính sách cai trị hà khắc của triều đình! Với tình thế “nội công ngoại kích”, vua Tự Đức nhấp nhỏm như ngồi trên lửa, vội sai Phan Thanh Giản và Phan Duy Tiếp phải tìm mọi cách giảng hòa với giặc Pháp. “Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị” được ký ngày 5/6/1862 (tức ngày 9/5 năm Nhâm Tuất) tại Sài Gòn. Vì thế, vua Tự Đức xuống chỉ buộc các lãnh tụ kháng chiến phải bãi binh, than ôi điều đó có nghĩa phải buông vũ khí đầu hàng, chấp nhận những tấc đất của Tổ quốc bị quân viễn chinh giày xéo! Vua Tự Đức đã đặt họ vào một tình thế “tiến thoái lưỡng nan”. Là kẻ sĩ được đào tạo và thấm nhuần hệ thống luân lý cang thường đã hình thành từ hàng ngàn năm “quân tử, thần tử, thần bất tử bất trung”, thế nay cãi mệnh được có được chăng? Sau khi cân nhắc, đặt vận mệnh hưng vong của Tổ quốc lên trên, họ đã hành động theo lương tri của người trí thức yêu nước.

Bất chấp lệnh bãi binh, ngày 4/9/1861, Thiên Hộ Dương chỉ huy nghĩa quân tập kích đồn Bourdais, nằm trên tuyến phòng thủ rạch Bảo Định, nhằm cắt đứt sự liên lạc của giặc giữa Mỹ Tho và Tân An. Trận đánh này đã đẩy quân viễn chinh vào thế bị động, chúng phải điều động viện binh đến giải vây. Ngày 14/10/1861, Thiên hộ Dương cùng Án sát Định Tường phối hợp tổ chức một trận đánh lớn ở Cái Thia, Cái Bè đồng thời tấn công pháo thuyền Gougeard đang tuần tiễu trên sông Tiền. Kết quả hai tàu chiến của giặc bị đánh chìm và giết chết trên 50 lính Pháp và bọn mã tà. Những trận đánh này đem lại nhiều hiệu quả, bởi các lực lượng kháng chiến đã có sự phối hợp chặt chẽ nhằm hỗ trợ “chia lửa” cho nhau. Trong thời gian này, “Võ Duy Dương đã thống nhất chỉ huy lực lượng kháng chiến trên đất Ba Giồng từ Bình Cách qua Nhiêu Thuộc, Mỹ Quý đến Cái Bè, Cái Thia. Ba Giồng thật sự là một trung tâm kháng chiến ở phía tây bắc tỉnh Định Tường kết hợp với trung tâm Tân Hòa (Gò Công) của Trương Định đã đưa quân xâm lược Pháp vào tình trạng lúng túng về chiến lược giữa tập trung và phân tán binh lực” (1). Sự đánh giá này rất quan trọng và có cơ sở để đánh như thế, vì trong suốt thời gian bình định nước Nam, cụ thể ở vùng đất mới phương Nam, giặc Pháp luôn gặp sự chống đối mạnh mẽ khiến chúng phải phân tán binh lực để đối phó. Sự phân tán ấy không chỉ dừng lại ở thời điểm Thiên Hộ Dương giương cao ngọn cờ kháng chiến mà còn kéo dài mãi về sau… Các lực lượng kháng chiến đã “dọc ngang nào biết trên đầu có ai”. Năm 1863, Thủ Khoa Huân bị Tổng đốc An Giang bắt nộp cho Pháp, ông bị chúng đày sang đảo Réunion; năm 1864, Trương Định bị tên phản bội Huỳnh Tấn dẫn giặc đến căn cứ phục kích giết chết; Hồ Huân Nghiệp sa vào tay giặc và bị án chém… Nhưng không vì thế là lòng dân nao núng. Hịch kêu gọi đánh Tây ra đời trong thời điểm này vẫn lời tuyên bố đanh thép:

Chớ thấy đồn dưới Gò Công thất thủ mà trở mặt hại nhau. Chớ nghe bảo trên Bến Nghé phân cư mà đành lòng theo mọi. Hễ làm người chớ ở hai lòng, Đã vì nước phải theo một phía. Trước làm nghĩa, sau cũng làm nghĩa, trước sau cho trọn, Sống có danh, thác cũng có danh, sống thác đặng thơm danh nước nhà…

Xây dựng căn cứ Đồng Tháp Mười

Trước những tổn thất to lớn trên, để củng cố và bảo toàn lực lượng, Thiên Hộ Dương nhanh chóng đưa quân về ở Đồng Tháp Mười – một vùng đất có định hình, địa thế hiểm trở, thời tiết cực kỳ khắc nghiệt:

Tháp Mười nước mặn đồng chua
Hổ mây, cá sấu thi đua vẫy vùng
Muỗi kêu như sáo thổi
Đỉa lềnh tợ bánh canh
Cỏ mọc thành tinh
Rắn đồng biết gáy

Khi chọn vùng đất này làm căn cứ kháng chiến, rõ ràng, Thiên Hộ Dương đã giành về mình thế chủ động trong điều binh khiển tướng. Một vùng đất trũng, sình lầy mà ngay cả người bản xứ cũng ngại ngùng:

Tới đây xứ sở lạ lùng
Con chim kêu cũng sợ, con cá vùng cũng kinh
Chèo ghe sợ sấu cắn chưn
Xuống bưng sợ đỉa, lên rừng sợ ma

khiến giặc Pháp không dám liều lĩnh đem quân tấn công cũng là lẽ tất nhiên. Vùng đất sình lầy, cỏ cây lau lách um tùm này nằm về phía bắc của đồng bằng sông Cửu Long, còn có tên Đồng Lau sậy, Đồng Cỏ Lác. Sau này, trong cuộc trường chinh chống ngoại xâm, bộ đội Cụ Hồ cũng đã noi gương tiền nhân chọn Đồng Tháp Mười lập căn cứ kháng chiến. Chính vì thế, vùng đất này đã trở thành biểu tượng hào hùng của tinh thần quật khởi:

Bao giờ hết cỏ Tháp Mười
Thì dân Nam mới hết người đánh Tây
Ai ơi nền Tháp mười tầng
Trăm năm lưu dấu anh hùng đánh Tây
Tháp Mười đồng rộng bao la
Tây vô Đồng Tháp làm ma không đầu

Đồng Tháp Mười ngày xưa thuộc đất của người Thủy Chân Lạp, ca dao có câu:

Tháp Mười nước mặn đồng chua
Phù sa muôn dặm của vua Chùa Vàng

Tại sao có tên Đồng Tháp Mười? Có nhiều giả thuyết đặt ra: tháp có 10 tầng nên gọi Tháp Mười; hoặc tháp được xây dựng sau 9 tháp khác nên gọi Tháp Mười. Tuy nhiên, đáng tin cậy hơn cả là cách giải thích của nhà nghiên cứu Lê Hương: “Tháp Mười là một trong những ngôi tháp bằng đá do vua Jayavarman VII xây cất trên khắp lãnh thổ để thờ vị thần Bà La Môn là vị thần chuyên trị bệnh cho nhân loại. Bên cạnh tháp có những căn nhà sàn lợp bằng đá mỏng, bằng ngói hay bằng lá thốt nốt để người ốm nằm dưỡng bệnh do nhân viên y tế hoàng triều coi sóc. Những ngôi tháp được xây cất dọc theo các con đường lớn trong nước mà ngôi nằm trong Đồng Tháp Mười, tính từ điểm xuất phát, đứng vào hàng thứ mười. Thời gian trôi qua, tàn phá tất cả công trình kiến trúc cổ nhân, dãy nhà gỗ điêu tàn, chỉ còn một tượng sư tử đá và một linh phù (linga) cũng bằng đá, dưới bệ có khắc chữ Bắc Phạn (Sanscrit) ghi tên tháp thứ mười”. (Xem tập san Sử – Địa số 14, năm 1969 xuất bản tại Sài Gòn).

Tổ chức chiến khu và lực lượng nghĩa quân

Trong thời gian lập căn cứ tại đây, Thiên Hộ Dương được xem là người lãnh đạo kháng chiến cao nhất tại Nam kỳ. Ông đã chỉ huy nhiều trận đánh vang dội như trận Mỹ Trà (7/1865), trận Cái Nứa (3/1866)… Những tướng lĩnh tài giỏi dưới trướng của ông, có thể kể đến Đốc binh Kiều, Thủ Chiếu, Phòng Biểu, Nhiêu Chấn, Nhiêu Bá, Thông Phụng… Hầu hết, những nhân vật này đã đi vào trong truyền thuyết dân gian với các câu chuyện đan cài hư, thực nhằm ca ngợi tin thần yêu nước của những người bỏ mình vì Nước.

Thiên Hộ Dương bố trí nghĩa quân tại Đồng Tháp Mười như thế nào? Năm 1954, học giả Nguyễn Hiến Lê khi viết quyển du ký – biên khảo Bảy ngày trong Đồng Tháp Mười đã tham khảo “Một tờ trình của quân đội Pháp năm 1865″ và cho biết như sau:

Chỉ có ba con đường mòn đưa vào Tháp Mười: một từ gò Bắc Chiêng đi xuống, một đường từ rạch Cần Lố đi lên, và một đường từ Cái Nứa đi lại. Đường thứ nhất đi qua đồn Tả, đường thứ nhì qua đồn Hữu và đường thứ ba qua đốn Tiền. Ba đồn ấy che chở cho tổng hành dinh ở Tháp Mười. Đồn nào cũng có lũy đất chung quanh, cao chừng 2 thước rưỡi, dầy khoảng thước rưỡi, trong và ngoài lũy là một hàng cừ bằng sao; lũy có đục cửa và nhiều lỗ để nhắm ra ngoài. Mỗi đồn chứa từ 200 tới 300 nghĩa quân, 10 khẩu súng và 4 – 5 chục thót súng bắn đá (pierner) với vài khẩu đại bác 12. Ngoài ra, còn năm sáu đồn nhỏ ở xa tổng hành dinh như đồn Gò Bắc Chiêng, đồn ấp Lý… mỗi đồn có khoảng 150 nghĩa quân và từ 15 tới 35 thót súng bắn đá. Vậy tổng cộng nghĩa quân có tới 1.000, trong số đó có nhiều lính Tagan (Tagal – tức lính Lê Dương) và một lính Pháp đào ngũ tên là Linguet.

Khí giới, thuốc đạn thì có thuyền chở từ Hà Tiên, Rạch Giá vào. Còn lương thực thì chắc do dân cư quanh Đồng Tháp cung cấp. Con đường tiện nhất là đường đi từ Cần Lố vào Tháp, đã được dùng để chở gạo cho nghĩa quân nên có tên Đường Gạo. 

Từ trước quân đội Pháp do dự, không muốn tấn công Đồng Tháp là còn sợ bốn “tướng quân” lợi hại nhất của nghĩa quân: bùn, đỉa, nắng và muỗi. Cánh đồng này hồi ấy mỗi năm ngập ít nhất là sáu tháng và không tháng nào đất khô hẳn. Trong tháng tư, tức cuối mùa nắng, mà trên ba con đường đưa vào Tháp, còn nhiều chỗ nước sâu đến 5 tấc hoặc một thước. Đi giày ống mà lội qua những chỗ sình ấy đã khó nhọc vô cùng lại còn nguy hiểm. Trong bùn lại có đỉa rất lớn, kêu là đỉa trâu. Chỉ vô ý một chút là nó bám vào người, luồn vào chỗ kín nhất trong thân thể mà ta không hay. Lính Pháp, vì không quen, sợ đỉa lắm.

Sức nóng của mặt trời và nước còn đáng sợ hơn. Chúng ta thử tưởng tượng trên là một ánh sáng gay gắt, dưới là hơi nước hôi thối, giữa là những bụi lau, sậy, năn, bàng cao có khi tới đầu người. Gió chỉ lướt qua trên ngọn, không sa len lỏi vào được những bụi ấy, nên đi trong đồng lắm lúc ta thấy hầm đến nghẹt thở. Nhiều lính Pháp không chị nổi sức nóng ấy, tinh thần bải hoải, không chiến đấu gì được và ngay ngày đầu, đại úy Gally Passebosc đã phải xin thêm 25 viện binh để thay họ.

Nhưng vị tướng quân làm cho lính Pháp kinh hồn chính là ‘tướng quân” muỗi. Thời ấy muỗi nhiều tới nỗi, bu lại làm cho lính Pháp mở mắt không được, há miệng cũng không được. Ngày thì nắng và có đỉa, đêm thì lạnh và có muỗi, quân lính không được nghỉ ngơi, mau kiệt sức lắm.

Những trận chiến ở Đồng Tháp Mười

Chính nhờ vị trí lợi hại này, nghĩa quân đã tiến đánh nhiều trận lớn và thắng lợi giòn giã. Ngày 22/7/1865, Thiên Hộ Dương chỉ huy 100 nghĩa quân được trang bị 56 khẩu súng, 2 đại bác và nhiều gươm đao bất ngờ tấn công đồn Mỹ Trà (Sa Đéc). Ngay sau đó, họ phóng hỏa đốt chợ và đánh đắm một chiếc tàu nhỏ. Hoảng hốt, giặc Pháp tập trung hỏa lực phản công mạnh. Nghĩa quân rút lui, phải bỏ lại một khẩu súng đại bác với hai thùng đạn. Những ngày kế tiếp, Thiên Hộ Dương lại tổ chức tấn công và chọc thủng vào tuyến Cái Bè, Mỹ Quới… Trận đánh dữ dội này đã tiêu hủy nhiều đồn trại, đánh tan nhiều toán quân Pháp. Không thể bó tay trước những hành động “xuất quỷ nhập thần” của đối phương đã gây ra nhiều tổn thất, giặc Pháp quyết định huy động binh mã hùng hậu mở chiến dịch tấn công vào tổng hành dinh của Thiên Hộ Dương. Về chiến dịch này, học giả Nguyễn Hiến Lê cho biết:

Từ đầu năm 1866, đô đốc De Lagrandière mưu tính phản công vào Đồng Tháp Mười. Cuối tháng 3, Pháp đem 250 lính đánh đồn Ấp Lý. Ngày 14/4/1866, Pháp cho nhiều sĩ quan và trên 500 lính chia làm 3 tuyến cùng tiến vô Tháp Mười.

Đội quân của đại úy Boubé tiến từ Cần Lố, ngày 15/4 tấn công đồn Sa Tiền. Khoảng 150 nghĩa quân chống trả mạnh mẽ, trung úy Vigny bị thương nặng, nhưng rốt cuộc nghĩa quân cũng phải vùi giấu khígiới xuống dưới bùn và rút lui vào phía trong. Cũng ngày đó, thiếu tá Dérôme chiếm được một đồn nhỏ trên đường từ Cái Nứa đến đồn Tiền; còn đại úy Gally Passebosc thì chiếm được Gò Bắc Chiêng sau khi bị khoảng 120 nghĩa quân chống giữ khá mạnh. Như vậy, nghĩa quân phải rút cả về các đồn Tả, Hữu, Tiền. Đó là hàng rào cuối cùng bảo vệ tổng hành dinh.

Ngày 16/4/1866, Dérôme tới đánh đồn Tiền. Quản Tấn hăng hái nhất đi tiên phong tính lấy ngay đồn để lãnh công đầu, không đợi quân Pháp ở sau đi tới, vội vàng tấn công, nhưng một loạt súng trong đồn ria ra hạ luôn một phần ba số lính của y, và y hấp tấp rút lui. Hôm sau, Dérôme lại tấn công đồn Tiền một lần nữa; còn Galy thì tấn công đồn Tả do đích thân Thiên Hộ Dương chống giữ. Quân Pháp bao vây ba mặt, nhất là mặt hậu đưa về Tháp Mười để chận đường rút lui của nghĩa quân. Khi ấy nước chung quanh đồn sâu trên một thước, muốn tới gần đồn, lính Pháp phải đeo túi đạn lên cổ cho khỏi bị ướt. Nghĩa quân chống lại kịch liệt, chỉ nhắm vào lính Pháp mà bắn, nên bọn lính tay sai thừa cơ leo được vào đồn. Nghĩa quân rút lui rất khéo, không ai bị bắt, còn quân Pháp thì bị thương trên một phần ba mới chiếm được đồn, chiếm được 3 khẩu súng đại bác 12, 17 thót súng bắn đá và 27 chiếc ghe, xuồng.

Ngày hôm sau, đồn Tả và đồn Tiền đều thất thủ. Nghĩa quân và Thiên Hộ Dương bỏ hành dinh Tháp Mười. Galy vào chiếm một đồn trống. Đây là một đồn vuông vức mỗi chiều chừng 200 thước, cửa rất chắc, súng bắn không thủng. Trong đồn có vài chục nóc nhà, kho chứa đạn dược và lương thực. Pháp nổi lửa đốt, cháy 2 ngày mới tắt.

Ngày 19/4, quân Pháp quay về và phải đi vất vả 2 ngày nữa mới tới căn cứ cũ. Suốt trong tuần lễ, thủy quân do tàu chở, chạy dọc theo các sông để phong tỏa đường ra của nghĩa quân. Ngày 22/4, trong khi về Tân An, một chiếc tàu không hiểu vì lẽ gì mà chìm, 11 lính Pháp chết.

Sau trận Đồng Tháp Mười, quân Pháp kiểm điểm thấy chết và bị thương không dưới 100 mạng.

Thắng trận này, người Pháp tự hào tuyên bố “lấy làm hãnh diện vì kết quả chính trị của nó, vì rằng từ nay người Việt sẽ hết ảo vọng, họ không còn có thể nói rằng ta chỉ thắng họ ở chiến trường đồng bằng mà thôi”. Thực tế cho thấy những lời huênh hoang này đã được lực lượng kháng chiến Việt Nam chứng minh ngược lại.

Truyền thuyết về tài cầm quân của Thiên Hộ Dương

Bên cạnh những chi tiết về chiến dịch này được viết theo nhật ký hành quân của lính Pháp tham gia chiến trận, ta có thể bổ sung thêm nhiều chi tiết thú vị theo lời kể lưu truyền trong dân gian,.

Tương truyền, tại tổng hành dinh khi bàn kế hoạch đối phó lại tình huống nếu giặc Pháp đổ quân tấn công, làm thế nào để đánh bật chúng ra mà ít tổn thất nhất? Thiên Hộ Dương cùng bộ chỉ huy vẫn chưa tìm ra kế sách nào hay nhất, bỗng nghĩa quân vào báo cáo có một nông dân đến xin hiến kế. Đó là một lão nông quắt thước, trên tay cầm theo mô trâu và cho biết đã huấn luyện được bầy trâu biết nghe theo tiếng mõ. Thật vậy, cả bầy trâu hàng trăm con đã hành động răm rắp theo nhịp nhặt khoan của tiếng mõ. Thiên Hộ Dương hài lòng lắm và chọn kế sách này. Do đó, lúc quân Pháp hùng hổ tiến công, ông khôn khéo bày binh bố trận để chúng lọt vào trận địa mai phục, lập tức đội hình trâu đã theo tiếng mõ mà xông ra giao chiến dữ dội. Đối phó với một đàn trâu hùng hổ, nhanh nhẹn đã được huấn luyện là điều giặc không ngờ trước, chúng trở tay không kịp và chết tại trận nhiều vô số. Sau chiến công, bầy trâu thiện chiến này được Thiên Hộ Dương phong Ngưu quân thượng tướng. Không những thế, ông còn sử dụng cả rắn, ong bò vẽ để tham gia giết giặc v.v…

Những câu chuyện này thoạt nghe có vẻ ly kỳ, nhưng thật ra nó đều bắt nguồn từ cơ sở có thật. Bởi như ta biết, khi tiến hành cuộc chiến tranh ái quốc bằng chiến thuật du kích, lực lượng kháng chiến bao giờ cũng vận dụng ưu thế của địa hình, địa vật để thắng đối phương lớn mạnh hơn mình gấp nhiều lần. Hơn nữa, những truyền thuyết trên cho thấy ngoài tài cầm quân, Thiên Hộ Dương còn làm tốt công tác “dân vận”, vì thế được nhân dân ủng hộ, tất nhiên sự ủng hộ này còn bắt nguồn từ cuộc kháng chiến chính nghĩa mà ông đang là vị tổng chỉ huy tối cao.

Ca dao ghi lại lòng dân dành cho ông:

Chiều chiều mây vũ gió vẫn
Cảm ông Thiên Hộ xả thân cứu đời

Chính vì thế, dù giặc Pháp đã giành được thắng lợi trong chiến dịch bình định Đồng Tháp Mười, nhưng chúng vẫn không thể khuất phục được ý chí chiến đấu của đối phương. Được sự ủng hộ của nhân dân, Thiên Hộ Dương vẫn tìm cách liên kết với nghĩa quân Campuchia và các thủ lĩnh kháng chiến các nơi khác để tiếp tục đẩy mạnh hoạt động ở vùng biên giới từ Tây Ninh đến An Giang.

Sự truy bức của thực dân Pháp và triều đình nhà Nguyễn

Trước khí thế chiến đấu này, giặc Pháp phản đối nhà Nguyễn để gây áp lực, chúng cho rằng, sự hoạt động hiệu quả này là do có sự trợ giúp của triều đình. Vì thế, để làm vừa lòng chúng, vua Tự Đức buộc lòng ra Dụ công khai tầm nã các anh hùng kháng chiến. Trong Đại Nam thực lục do Sử quán nhà Nguyễn biên soạn ở mục “Năm Bính Dần, Tự Đức XIX (1866)” ta thấy có đoạn viết liên quan đến Thiên Hộ Dương:

Bấy giờ, tháng 6, chủ súy Pháp cho là ba tỉnh (An Giang, Vĩnh Long, Hà Tiên) vẫn chứa giấu tên Thiên Hộ Dương, cho mượn khí giới giúp việc chinh chiến để làm cớ mới”. Nhà vua trách “Bèn xuống Dụ sai kinh lược đại thần và tỉnh thần đó dò xét, nếu có tên Dương và bọn tòng quân lén lút ẩn náu trong hạt, bắt giao ngay; nếu không thì báo cho quan chủ súy Pháp tự bắt lấy.

Chính vì thế, ca dao còn lưu truyền lời thở than và mỉa mai:

Chuyện đâu có chuyện lạ đời
Quan đi theo giặc bắt người lành ngay
Nghìn năm nhớ mãi nhục này
Theo Tây được thả, đánh Tây bị tù!

Cái chết của Thiên Hộ Dương

Về cái chết của anh hùng Thiên Hộ Dương có tài liệu cho rằng, nhằm đối phó chỉ dụ của vua Tự Đức, ông đã giao quyền cho phó tướng Đốc Binh Kiều (Nguyễn Tấn Kiều), bí mật ra Hòn Chông bắt liên lạc với nghĩa quân Nguyễn Trung Trực để mở rộng địa bàn kháng chiến. Lại có tài liệu cho rằng, chuyến đi này là ông ra kinh đô, đặng mật báo với vua Tự Đức về kế hoạch chiến đấu lâu dài của dân quân Nam kỳ, nhưng khi thuyền mới đến Cần Giờ bị cướp biển giết chết. Lại có tài liệu cho rằng ông chết vì bạo bệnh ở chiến khu Đồng Tháp Mười. Cái chết của Thiên Hộ Dương đến nay vẫn chưa có câu trả lời thỏa đáng, chỉ biết ông mất vào tháng 10/1866.

Cuộc kháng chiến bền bỉ do Thiên Hộ Dương chỉ huy, dù chỉ kéo dài trong vòng 7 năm (1859-1866), nhưng ông đã thể hiện được tầm nhìn và bàn lĩnh của nhà cầm quân có tài: liên kết với các lượng kháng chiến khác để hợp đồng tác chiến, kể cả liên minh với dân tộc Khmer để chống kẻ thù chung; chú trọng công tác dân vận; công tác định vận (trong số nghĩa quân còn có nhiều lính Lê Dương và một lính Pháp đào ngũ Linguet); chọn địa hình hiểm trở để lập căn cứ địa, trú quân…

Sau khi ông mất, nhân dân đã khóc người anh hùng qua câu đối (Bảo Định Giang dịch):

Uống hận anh hùng, tiếng nổi Bắc – Nam,
Tháp Mười khói hương thường tỏa mãi;
Bền gan tuấn kiệt, danh truyền kim cổ,
Ngũ Linh phong độ vẫn còn đây.

Ngày nay, tại Di tích văn hóa lịch sử quốc gia Gò Tháp ở xã Mỹ Trà, huyện Tháp Mười (Đồng Tháp), hằng năm vẫn tổ chức lễ hội tưởng niệm Thiên Hộ Dương, phó tướng Đốc Binh Kiều và những nghĩa quân đã chết vì Nước. Lễ hội này diễn ra từ chiều ngày 14/11 đến rạng sáng ngày 16/11 là dịp để mọi người ôn lại truyền thống đánh giặc cứu nước của tiền nhân.

Hiện nay, trước cổng đền thờ vẫn rực rỡ câu đối liễn:

Gò Tháp địa linh, nổi chí anh hùng gìn Tổ quốc;
Tháp Mười nhân kiệt, giương cờ đại nghĩa giữ Quê hương.

Trong đền cũng có câu đối:

Sử xanh sáng chói danh Thiên Hộ,
Bia miệng lưu truyền tiếng Đốc Binh.

Những người yêu nước không chết, họ sống mãi trong sự ngưỡng mộ và biết ơn của hậu thế.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.

 

Chấm điểm
Chia sẻ
Võ Duy Dương

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)