Khái quát
Lúc 13 giờ ngày 28/5/1948 được ghi nhận là thời điểm lịch sử đánh dấu bước trưởng thành của Quân đội Nhân dân Việt Nam, lần đầu tiên trong đội quân “vì nhân dân quên mình, vì nhân dân hy sinh” có người lính tiên phong được thăng quân hàm Đại tướng. Lúc bấy giờ, sau chiến thắng Việt Bắc thu đông năm 1947, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã ký Sắc lịnh 110/SL phong quân hàm Đại tướng cho ông Võ Nguyên Giáp – Tổng chỉ huy Quân đội Quốc gia và Dân quân Tự vệ. Buổi lễ được tiến hành cạnh con suối thơ mộng, trong hội trường làm bằng gỗ, phên nứa, lợp tranh. Sát vách gian giữa là bàn thờ Tổ quốc trang nghiêm, hai bên là hai băng khẩu hiệu “Trường kỳ kháng chiến nhất định thắng lợi” và “Thống nhất độc lập nhất định thành công”, Bác Hồ và cụ Bùi Bằng Đoàn – Trưởng ban Thường trực Quốc hội – đứng hai bên, phía trước là tập thể nhân viên Chính phủ đứng xếp hàng dọc.
Bước đến phía trước bàn thờ Tổ quốc, Bác Hồ tay cầm Sắc lệnh và gọi ông Võ Nguyên Giáp ra đứng bên cạnh. Bằng giọng nói trang nghiêm, Bác nói: “- Hôm nay thay mặt Chính phủ và nhân dân…”, rồi bỗng ngừng lời, rút khăn lau nước mắt. Ai nấy đều xúc động. Lát sau Bác nói tiếp: “- Nhân danh Chủ tịch nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa, tôi trao chức vụ Đại tướng cho chú điều khiển binh sĩ làm trọn sứ mạng mà quốc dân đã giao phó…” Bên ngoài hội trường tiếng suối réo ẩm ẩm như tiếng vọng của lịch sử đang vọng về. Bác nói tiếp: “-Các thế hệ đi trước chiến đấu cho độc lập mà sự nghiệp không thành, nhắm mắt vẫn chưa thấy độc lập, tự do. Chúng ta ngay nay may mắn hơn, nhưng trước mắt vẫn còn nhiều khó khăn. Nghĩ tới hàng nghìn, hàng vạn người ngã xuống cho ngày hôm nay, chúng ta càng phải cố gắng giành cho được độc lập, tự do để thỏa mãn vong linh những người đã khuất…”.
Sự kiện này đã được công bố trên Đài Tiếng nói Việt Nam. Một phóng viên phương Tây hỏi Bác đã dựa vào tiêu chuẩn nào để phong quân hàm, Bác nói: “- Đánh thắng Đại tá phong Đại tá; đánh thắng Thiếu tướng phong Thiếu tướng; đánh thắng Trung tướng phong Trung tướng; đánh thắng Đại tướng phong Đại tướng”. Sau đó, trong Hội nghị Quân sự lần lần thứ năm, Bác đã dặn dò “tư cách một người tướng” phải có “Trí, Dũng, Nhân, Trí, Liêm, Trung”.
Suốt một đời cầm quân vâng tạc lời dạy của Bác trong tâm khảm, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã làm tròn sứ mệnh của một người lính mà quốc dân đã giao phó.
Quê quán và tuổi trẻ
Ông sinh ngày 25/8/1911 tại làng An Xá, huyện Lệ Thủy (Quảng Bình) trong một gia đình trung nông, bố là nhà giáo, mẹ là cháu ngoại của một lãnh Cần Vương. Ngay từ nhỏ ông đã được bố giáo dục tinh thần yêu nước qua bài vè Thất thủ Kinh đô – nói về cuộc kháng chiến của Tôn Thất Thuyết và được mẹ kể về gương hy sinh của chiến sĩ Cần Vương.
Năm 14 tuổi, ông thi đậu vào trường Quốc học Huế và được cụ Phan Bội Châu giáo dục tinh thần yêu nước qua những lần nghe cụ diễn thuyết. Năm 1927, lúc ông mới 16 tuổi, phong trào học sinh ở Huế do ảnh hưởng của cách mạng Nga và Trung quốc nên phát triển mạnh mẽ. Là lớp thanh niên háo hức đi tìm chân lý, họ thường lên Bến Ngự hầu chuyện với cụ Phan để nghe cụ phân tích về tình hình thế giới. Ấn tượng khó phai trong tâm trí của Võ Nguyên Giáp là thấy trong nhà cụ Phan có treo ảnh Lénin cạnh ảnh Tôn Dật Tiên và Thích Ca Mâu Ni.
Thời gian này, ông cùng các bạn thân như Nguyễn Khoa Văn (tức Hải Triều), Nguyễn Chí Diểu… thành lập câu lạc bộ bàn về thơ văn yêu nước, sau đó bí mật chuyền tay nhau đọc những sách, báo từ hải ngoại chuyển về như Bản án chế độ thực dân Pháp, Le Paria, Việt Nam hồn…
Sau khi bị đuổi học vì tham cuộc bãi khóa năm 1927, ông Võ Nguyên Giáp trở về quê. Một hôm, người bạn thân ở Huế là Nguyễn Chí Diểu đến thăm, có đưa cho ông một cuốn sách nói về chủ nghĩa cộng sản viết bằng tiếng Pháp và tập tài liệu của “Liên đoàn các dân tộc bị áp bức trên thế giới” in tại Bỉ. Lòng hồi hộp khó tả, ông đã đem tài liệu này ra một cánh đồng vắng, trèo lên cây, ngồi đọc say sưa. Đây là lần đầu tiên ông được đọc một tài liệu tương đối có hệ thống về chủ nghĩa cộng sản và chủ nghĩa quốc tế.
Từ đó, bằng ý chí và tinh thần của một người hiếu học, Võ Nguyên Giáp vẫn tiếp tục tự học và tham gia viết báo Tiếng dân của cụ Huỳnh Thúc Kháng ở Huế, rồi gia nhập đảng Tân Việt. Năm 1927, ông tham gia Đông Dương Cộng sản Liên đoàn rồi gia nhập Đảng Cộng sản Đông Dương. Năm 1930, ông đang hoạt động trong Cứu tế Nghệ An đỏ thì bị giặc Pháp bắt, kết án 2 năm tù, đưa về quê quản thúc.
Một chiều mùa đông lũ lụt rét mướt, nước sông Kiến Giang cuồn cuộn dâng lên, tưởng chừng như muốn cuốn trôi cả những ngôi nhà xêu vẹo ở một vùng quê nghèo, người ta thấy ông Nguyễn Chí Diểu đi một chiếc thuyền nhỏ vào nhà đón ông. Cuộc đời cách mạng của Võ Nguyên Giáp bắt đầu từ đây.
Con đường hoạt động cách mạng
Ra Hà Nội, Võ Nguyên Giáp tự học tự làm, đậu thủ khoa trong phụ trách Ủy ban Quân sự Tổng bộ Việt Minh. Đảng đã ra Chỉ thị về công tác tổ chức nhằm đoàn kết mọi tầng lớp nhân dân, xây dựng lực lượng để chuẩn bị khởi nghĩa giành chính quyền. Đặc biệt trong Chỉ thị này có trích dẫn luận điểm nổi tiếng của Lénin: “Trong cuộc đấu tranh giành chính quyền, giai cấp vô sản không có vũ khí nào khác hơn là tổ chức”.
Bấy giờ, vấn đề huấn luyện quân sự trở nên bức thiết, Bác viết những quyển sách, in li-tô với khổ nhỏ bỏ túi như Chiến thuật du kích, Kinh nghiệm du kích Nga- Tàu…; Phạm Văn Đồng viết cuốn Người chính trị viên; còn Võ Nguyên Giáp đã viết cuốn Công tác chính trị trong quân đội cách mạng, lược dịch cuốn Chiến tranh du kích kháng Nhật của Chu Đức để kịp thời có tài liệu giảng dạy cho các tổ chức vũ trang đang lần lượt ra đời.
Từ căn cứ địa trung tâm Cao Bằng – Bắc Sơn – Vũ Nhai, những căn cứ liên hoàn đã hình thành nối liền Cao Bằng với Lạng Sơn, Thái Nguyên, Tuyên Quang, Bắc Cạn, Hà Gang, Bắc Giang, Vĩnh Yên…
Một hôm Bác gọi Võ nguyên Giáp lên và bảo:
Lực lượng vũ trang của ta hiện nay đã ít lại phân tán quá. Bây giờ nên tập hợp những cán bộ, chiến sĩ anh dũng nhất, vũ khí tốt nhất, tổ chức thành một đội vũ trang tập trung để hoạt động. Ta sẽ dùng hình thức vũ trang để gây ảnh hưởng cách mạng sâu rộng trong quần chúng. Tác chiến phải gây được ảnh hưởng tốt về chính trị, từ đó, mở rộng cơ sở, phát triển lực lượng vũ trang. Chúng sẽ lập đội quân giải phóng. Việc này chú Văn phụ trách, chú Văn có thể làm được không?
Võ Nguyên Giáp thưa:
Có thể được.
Bác dặn thêm:
Có thể tìm được một căn cứ “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”, mình còn yếu, địch mạnh, nhưng nhất định không thể để địch tiêu diệt, có thể như thế được không?
Trong hồi ức của mình sau này, Võ Nguyên Giáp có cho biết những chi tiết đắt giá:
Đúng vào dịp này, anh chị Tống Minh Phương và bà con Việt Kiều ở Côn Minh lại mới gửi về một số vũ khí: 1 khẩu tiểu liên Mỹ Sub Machine gun và 150 viên đạn, 6 quả bom lửa, 1 họp bom nổ chậm. Cùng với số vũ khí này, chúng tôi còn được nhận thêm 500 đồng để chi phí về quân nhu… Chúng tôi được giao trách nhiệm điều động tất cả 34 đội viên và cán bộ trong các đội vũ trang địa phương, 2 khẩu súng thập, 17 khẩu súng vừa giáp năm, giáp ba, vừa khai hậu và súng Tàu chế tạo, 14 khẩu súng kíp. Thế là Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân ra đời.
Đó là ngày 22/12/1944 tại khu rừng nằm giữa hai tổng Trần Hưng Đạo và Hoàng Hoa Thám ở châu Nguyên Bình (Cao Bằng) lực lượng vũ trang chính quy đầu tiên của đội quân “Trung với Đảng, hiếu với dân, nhiệm vụ nào cũng hoàn thành, kẻ thù nào cũng đánh thắng” đã ra đời do Võ Nguyên Giáp trực tiếp tổ chức và lãnh đạo.
Trong buổi lễ tuyên bố thành lập Đội, ông nói rõ nhiệm vụ:
Chính trị trọng hơn quân sự, tuyên truyền trọng hơn tác chiến, nhiệm vụ ấy có tính chất là một nhiệm vụ giao thời. Vận dụng vũ trang tuyên truyền để kêu gọi toàn dân đứng dậy, chuẩn bị cơ sở chính trị và quân sự cho khỏi nghĩa sau này…
Vừa mới ra đời, Đội quân cách mạng này đã đánh thắng hai trận đầu tiên ở Phai Khắt và Nà Ngần (Cao Bằng).
Vai trò trong Cách mạng Tháng Tám năm 1945
Để đẩy mạnh hơn nữa việc chuẩn bị Tổng khỏi nghĩa, từ ngày 15/4 đến 20/4/1945 Hội nghị Quân sự Bắc kỳ được tổ chức ở huyện Hiệp Hòa (Bắc Giang), đã quyết định thống nhất các lực lượng vũ trang như Cứu quốc quân, Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân thành Việt Nam Giải phóng quân.
Đây là hội nghị quân sự lớn nhất đầu tiên của Đảng Cộng sản Việt Nam triệu tập, đã cử ra Ủy ban Quân sự Bắc kỳ trong đó có Võ Nguyên Giáp, Chu Văn Tấn, Văn Tiến Dũng, Lê Thanh Nghị, Trần Đăng Ninh… để chỉ huy các chiến khu miền Bắc Đông Dương về chính trị và quân sự, đồng thời có nhiệm vụ giúp đỡ cho các lực lượng vũ trang toàn quốc về mặt quân sự.
Đầu tháng 5/1945, Bác Hồ từ Cao Bằng về Tuyên Quang, chọn Tân Trào làm căn cứ chỉ đạo cách mạng cả nước. Giữa lúc công việc đang bề bộn như thế thì Bác ốm, khi Võ Nguyên Giáp đến nhận chỉ thị, Bác nói:
Lúc này thời cơ thuận lợi đã tới, dù hy sinh tới đâu, dù phải đốt cháy cả dãy Trường Sơn cũng phải kiên quyết giành cho được độc lập.
Từ ngày 13/8 đến 15/8/1945 Hội nghị toàn quốc của Đảng đã họp tại Tân Trào, khẳng định tình thế cách mạng trực tiếp đã chín muồi. Ông Võ Nguyên Giáp được bầu vào Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam.
Hội nghị vừa bế mạc thì Đại hội quốc dân cũng họp ngay, với khí thế toàn dân quyết đứng lên giành lại độc lập tự do. Lúc này, Nhật hoàng đã đầu hàng Hồng quân Liên Xô, do đó tinh thần quân Nhật tại Đông Dương đang hoang mang, rệu rã.
Chiều ngày16/8/1945 trước lúc khai mạc Đại hội quốc dân, dưới gốc đa cổ thụ Tân Trào, Phó chủ tịch Ủy ban giải phóng dân tộc Việt Nam Trần Huy Liệu đã tuyên bố Quân lệnh số 1 của Ủy ban khỏi nghĩa. Sau đó, ông Võ Nguyên Giáp lãnh đạo đội quân áo vải chân đất rầm rầm tiến về đánh Thái Nguyên – mở đầu cho trang sử mới của một nước Việt Nam tái sinh đang “rủ bùn đứng dậy sáng lòa”.
Cuộc khởi nghĩa thần tốc đã nổ ra trên khắp mọi miền đất nước. Chế độ thống trị gần 90 năm của thực dân Pháp và chế độ quân chủ hàng ngàn năm đã bị lật nhào.
Kháng chiến chống thực dân Pháp (1945 – 1947)
Tổng khởi nghĩa Cách mạng tháng Tám thành công, nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa ra đời. Chính quyền cách mạng non trẻ đang phải đối phó với thù trong giặc ngoài. Ở ngoài Bắc, 200.000 quân phản động Tưởng Giới Thạch do Lư Hán cầm đầu đã đến Hà Nội, một mặt gây hấn nhằm lật đổ chính quyền thì mặt khác chúng còn dung dưỡng, bao che cho các đảng phái phản cách mạng… Ở trong Nam, quân Pháp được Nhật và Anh yểm trợ đã nổ súng xâm lược Sài Gòn, rồi đánh rộng ra các tỉnh Nam bộ và Nam Trung bộ… Tình thế hết sức gay go, phức tạp.
Tháng 9/1945 Bác chỉ thị phải nhanh chóng chấn chỉnh, mở rộng Giải phóng quân và đổi tên thành Vệ quốc đoàn. Ngày 11/11/1945, Đảng tuyên bố tự giải tán – nhưng thực chất là rút vào bí mật. Chính phủ Hồ Chí Minh đã thực hiện tận dụng khả năng hòa hoãn với giặc, tích cực chuẩn bị cuộc kháng chiến toàn quốc. Nhiều cuộc đàm phán đã diễn ra trong thời gian này.
Ngày 19/4/1946, Võ Nguyên Giáp dẫn đầu phái đoàn Chính phủ họp Hội nghị trù bị với phái đoàn Pháp tại Đà Lạt. Tại đây, hai bên không tìm được tiếng nói chung.
Ngày 22/5/1946, Vệ quốc đoàn chính thức được trở thành Quân đội Quốc gia của nước ta. Ngày 9/11/1946, Quốc hội đầu tiên của nước ta họp, thông qua Hiến pháp đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ cộng hòa; Võ Nguyên Giáp được giao giữ trọng trách Tổng chỉ huy Quân đội, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.
Trong một buổi làm việc, Bác Hồ hỏi Võ Nguyên Giáp:
Nếu không tránh được cuộc chiến tranh thì Hà Nội có thể giữ được trong bao lâu?
Ông đáp:
Phải cố gắng giữ ít nhất là nửa tháng. Thời gian qua, cơ quan tham mưu đã chuẩn bị xây dựng một kế hoạch chiến đấu ở thành phố trong trường hợp địch gây chiến.
Lúc này, tổng số quân viễn chinh Pháp ở Đông Dương đã lên tới 90.000, còn lực lượng kháng chiến của ta chỉ đến 82.000, nhưng chệnh lệch nhất là trình độ tổ chức, trang bị, kỹ thuật… mà theo Võ Nguyên Giáp là “khoảng cách có tính thời đại”.
Ngày 16/12/1946, chỉ huy quân đội Pháp là Morlière đã gửi đến Chính phủ ta bức tối hậu thư “Quân đội Pháp sẽ tự mình đảm nhiệm trị an tại Hà Nội chậm nhất là vào sáng 20/12/1946″.
Mọi điều kiện hòa hoãn đã chấm dứt.
Đêm 19/12/1946. Người dân Thủ đô lẫn quân đội Pháp vẫn sống trong tâm trạng thấp thỏm, âu lo không biết lúc nào chiến tranh sẽ nổ ra. Những ngôi sao lẻ loi trên vòm trời. Gió rét. Đường phố vắng. Lúc 20 giờ 3 phút bỗng trong Nhà máy điện Yên Phụ có tiếng nổ lớn. Đèn điện Hà Nội đột ngột phụt tắt. Đó là hiệu lệnh nổ súng. Lập tức, đại bác từ pháo đài Láng đã gầm lên những khối lửa căm hòn ập xuống đầu giặc Pháp.
Trận đánh oai hùng theo lời kêu gọi của Bác Hồ đã bắt đầu:
Ai có súng dùng súng, ai có gươm dùng gươm, không có gươm thì dùng cuốc, thuổng, gậy gộc, ai cũng phải ra sức chống thực dân cứu nước.
Cả nước đứng lên trường kỳ kháng chiến theo lời gọi thiêng liêng của non sông.
Ròng rã suốt hai tháng trời, các cảm tử quân đã “quyết tử để Tổ quốc quyết sinh” với nhiệm vụ thu hút lực lượng giặc, giữ chân giặc. Nhờ vậy, đồng bào và Chính phủ đã rút lui an toàn về hậu phương.
Mùa xuân năm 1947, Bác Hồ cùng cơ quan đầu não của cuộc kháng chiến đã lên Việt Bắc. Với cương vị Bí thư Trung ương Quân ủy, Võ Nguyên Giáp đã đề ra chiến lược của thời kỳ này là chuyển bộ đội về nông thôn cùng dân quân lưu động đánh du kích. Trong Huấn lệnh “Sự cần thiết phải chuyển sang du kích vận động chiến”, ông phân tích:
nghĩa là:
Phải tập trung bộ đội, củng cố tinh thần bộ đội, dùng lối hành binh rất nhanh chóng, rất bí mật mà đánh mạnh vào những chỗ địch tương đối yếu hay mới chiếm đóng chưa củng cố vị trí, xong, lập tức rút lực lượng đi đánh nơi khác. Làm như vậy thì có nơi phải bỏ đất, không phải đâu cũng dàn trận mà giữ…
Chiến thắng Việt Bắc năm 1947
Về phía giặc Pháp, như con thú bị đánh bất ngờ với những vết xước trầm trọng liễn điên tiết phản công. Với ý đồ kết thúc cuộc chiến tranh xâm lược một cách chóp nhoáng, ngày 8 và 9/10/1947, 12.000 quân lính viễn chinh lên Việt Bắc “đánh thẳng vào tim kẻ thù”.
Chúng vạch ra kế hoạch:
Đầu tiên là binh đoàn đổ bộ đường không do Sauvanhac chỉ huy nhảy dù xuống Bắc Cạn, Chợ Mới, Chợ Đồn. Đồng thời binh đoàn bộ binh do Beaufré chỉ huy, từ Lạng Sơn theo đường số 4 lên Cao Bằng, đến Bắc Cạn, bao vây Việt Bắc ở phía đông và phía bắc. Trong khi đó, binh đoàn hỗn hợp bộ binh và lính thủy đánh bộ do Commuynan chỉ huy, từ Hà Nội ngược sông Hồng và sông Lô lên Tuyên Quang, đến Chiêm Hóa, bao vây Việt Bắc ở phía Tây. Còn các tiểu đoàn nhảy dù dự bị cho chiến dịch do Foxey Francois chỉ huy, nằm ở sân bay sẵn sàng đổ bộ xuống nơi phát hiện có cơ quan đầu não kháng chiến.
Nhưng kế hoạch hoàn hảo này không ngờ đã bị dân quân du kích, bộ đội chủ lực đánh tan tác, chúng khiếp sợ đến nỗi sau này, dù có mở nhiều cuộc tấn công nhưng chúng vẫn không dám bén mảng đến khu căn cứ địa Việt Bắc lần nữa!
Sau chiến thắng vang dội này, Tổng Tư lệnh Võ Nguyên Giáp được Bác Hồ phong Quân hàm Đại tướng.
Trong một bữa ăn tối sau cuộc họp Hội đồng Chính phủ, Bác Hồ vui vẻ nhắc nhở nhiệm vụ trọng đại của Đại tướng Võ Nguyên Giáp qua câu đối:
Giáp phải giải pháp!
Mọi người đều suy nghĩ tìm cách đối lại, nhưng đều không chỉnh. Mãi đến lát sau, ông Tôn Quang Phiệt mới có được câu đối thật hay:
Hiến tài hái tiền!
Hiến ở đây là ông Lê Văn Hiến – Bộ trưởng Bộ Tài chính kiêm bí thư Việt Minh đoàn của cơ quan Chính phủ. Cái hay của câu đối không chỉ ở chỗ nói lái rất Việt Nam mà còn nói lên được hai vai trò chiến lược của thời kỳ này là kháng chiến và kiến quốc.
Xây dựng chiến tranh nhân dân và các chiến dịch đầu thập niên 1950
Khi Việt Bắc trở thành “mồ chôn giặc Pháp” thì chúng bỏ chiến thuật đánh chớp nhoáng, chuyển sang đánh kéo dài và từng bước lấn chiếm vào vùng kháng chiến. Với ý đồ này, chúng đánh chiếm Tây Bắc nhằm uy hiếp phía sau căn cứ địa Việt Bắc, phong tỏa biên giới Việt – Trung, khống chế vùng bắc Đông Dương.
Để có biện pháp đối phó, Trung ương Đảng đã quyết định triệu tập cuộc Đại hội toàn quốc của Đảng nhằm “duyệt lại chương trình, đường lối về cuộc vận động cách mạng trong nước” và “chung đúc kinh nghiệm và thống nhất tư tưởng, hành động”.
Bộ Tổng Tư lệnh đã chủ trương “tiến sâu vào sau lưng địch, chinh phục dân và hội tề, gây cơ sở ở ngay hậu phương địch”, do đó, nhiều đội vũ trang tuyên truyền như trước cách mạng tháng Tám đã hình thành – đúng như văn kiện của Đại hội đã xác định:
Thực hiện và phát triển chiến tranh nhân dân, phối hợp với cuộc đấu tranh quân sự với cuộc đấu tranh chính trị, kinh tế, phối hợp tác chiến giữa quân chính quy và du kích, dân quân, phối hợp cuộc chiến ở sau lưng địch, trong lòng địch.
Khi đưa tiễn các đội vào trong vùng địch tạm chiếm với bao gian khổ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp xúc động ứng khẩu mấy câu thơ tặng các chiến sĩ:
Sông Đà sông Mã uốn dòng
Ghềnh rêu, thác bạc ghi công anh hào
Con vàn tung cánh bay cao
Ngọn cờ chỉ hướng, ngôi sao dẫn đường
Các lượng lượng vũ trang của cả nước đã hành động theo đúng chiến lược của cơ quan đầu não cuộc kháng chiến đã đề ra.
Đây cũng là thời điểm mà Bác Hồ phát động phong trào “thi đua ái quốc”, “luyện quân lập công” và Bộ Tổng chỉ huy đã cổ vũ “luyện quân rèn cán” rất sôi nổi trong toàn quân, toàn dân.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã có tầm nhìn khống chế kế hoạch tác chiến của giặc Pháp, khi ông đã chỉ đạo cho các đơn vị mở chiến dịch đánh vào hướng sơ hở của đối phương trên các chiến trường. Đây cũng là quá trình tập dợt cho bộ đội đánh vận động, chứ không còn đơn thuần chỉ là đánh du kích như trước.
Từ đầu năm 1950, ta đã mở chiến dịch đánh Tây Bắc (Lê Hồng Phong I), nhằm khai thông biên giới ở hướng Lào Cai, dù thắng lợi, nhưng do thương vong quá lớn nên phải dừng lại.
Chiến dịch Biên giới năm 1950
Mùa hè năm 1950 để giành lại ưu thế quân sự trên chiến trường, chuẩn bị thế và lực để phản công, Trung ương Đảng quyết định mở chiến dịch Biên giới do Đại tướng Võ Nguyên Giáp trực tiếp lãnh đạo.
Theo dự kiến ban đầu của Bộ Tổng Tư lệnh là vẫn tiếp tục đánh đánh vào phân khu Lào Cai, giải phóng Lào Cao – nhưng:
Sau khi đi Trung Quốc và Liên Xô về, Bác trao đổi trong Thường vụ nên chuyển hướng từ giải phóng Lao Cai sang Cao Bằng… Bác coi Cao Bằng là một căn cứ địa “tiến khả dĩ công, thoái khả dĩ thủ”. Mở chiến dịch ở Cao Bằng, ta có khả năng tiêu diệt một bộ phận sinh lực địch quan trọng, chiến thắng ở đây sẽ tạo đà thuận lợi chuyển qua gia đoạn mới.
(Đường tới Điện Biên Phủ, NXB Quân đội Nhân dân – 2001- tr.11)
Nhưng sau đó kế hoạch này đã thay đổi. Đó là do Đại tướng Võ Nguyên Giáp quyết định vào phút cuối. Nhìn lại tương quan lực lượng đôi bên, sau này, Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết:
Chúng ta vẫn làm chủ căn cứ địa Việt Bắc, ba tỉnh tự do Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, vùng đồng bằng Liên khu 5 gồm các tỉnh Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên. Lực lượng bộ đội trên cả nước đã lên tới con số 166.542 người, trong đó có 45.000 bộ đội địa phương. Dân quân du kích ước lượng trên 2 triệu người. Bắc bộ đã trở thành chiến trường chính, khối chủ lực cơ động chiến lược đã sớm hình thành ở đây. Bộ Tổng Tư lệnh có 30 tiểu đoàn trực thuộc, với quân số 53.921 người. Nhìn chung về số quân, ta không thua kém địch nhiều (166.000/180.000); lần đầu, ta có một lực lượng cơ động chiến lược đông hơn địch. Tuy nhiên quân đội ta vẫn đơn thuần là bộ binh, trang bị còn rất yếu kém, nhưng phương tiện di chuyển vẫn là đôi chân, mọi thứ vũ khí, kể cả sơn pháo, đều nằm trên vai chiến sĩ.
Nhận nhiệm vụ trực tiếp chỉ huy chiến dịch này, sáng ngày 5/8/1950, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đi khảo sát, nghiên cứu thực địa Cao Bằng. Qua đó, ngay trên bản đồ tỷ lệ 1/500.000 ông đã phân tích cho cơ quan tham mưu thấy:
Không thể chọn thị xã này làm điểm đột phá cho chiến dịch. Quân địch ở Cao Bằng không quá đông, nhưng địa hình núi, sông hiểm trở đã tạo cho chúng cái thế như người xưa nói: “Một người giữ ải, muôn người khó vượt qua”. Đánh Cao Bằng sẽ phải giải quyết một loạt vấn đề chiến thuật mà bộ đội ta còn ít kinh nghiệm. Phải tổ chức vượt sông. Nhiều khả năng phải đột phá thâm sâu, dẫn tới đánh ban ngày, đánh dài ngày. Phải đối phó với quân dù, hỏa lực máy bay, đại bác trên địa hình trống trải. Phải tiêu diệt những công trình phòng ngự rất kiên cố trong khi bộ binh ta chỉ hầu hết là vũ khí nhẹ… Và phải chăng chúng ta làm trái lời dạy của người xưa: đánh thành là hạ sách!
Do đó, ông đã trình bày lại với Trung ương Đảng và Bác Hồ với chủ trương mở đầu chiến dịch bằng trận đánh Đông Khê. Vì mất Đông Khê sẽ xẩy ra hai tình huống: hoặc địch sẽ đem quân lên tái chiếm thì ta có điều kiện tiêu diệt lúc chúng ngoài công sự; hoặc chúng sẽ rút khỏi Cao Bằng. Còn nếu chúng không chiếm lại Đông Khê thì ta sẽ đánh chiếm Thất Khê phá vỡ tuyến phòng ngự của chúng.
Ý kiến sáng suốt của Võ Nguyên Giáp đã được chấp thuận, Bác Hồ đã chỉ thị Đại tướng “chỉ cho đánh thắng, không cho đánh bại”.
Lúc 6 giờ sáng ngày 16/9/1950, đạn pháo của ta cấp tập đổ xuống cứ điểm. Trận đánh mở màn chiến dịch bắt đầu. Nhiều gương anh dũng đã tạo nên những huyền thoại vẻ vang về anh “bộ đội cụ Hồ” trong chiến dịch này như chiến sĩ bộc phá La Văn Cầu nhờ đồng đội dùng lưỡi lê chặt đứt cánh tay bị thương của mình rồi tiếp tục xông lên phá lô cốt giặc, hoặc Đại đội trưởng Trần Cừ lấy thân mình bịt lỗ châu mai v.v..
Tầm nhìn và bản lĩnh lão luyện của một vị tướng đã mở ra một thắng lợi cực kỳ to lớn, làm thay đổi cục diện trên chiến tranh giữa ta và Pháp. Từ đó về sau, quân ta liên tiếp giành được quyền chủ động mở những chiến dịch tiến công lớn, đẩy chúng lún sâu vào thế phòng ngự bị động. Quân đội Pháp phải thừa nhận đây là “những cuộc chiến bất hạnh”. Tiếng vang của trận đánh này rất lớn, bấy giờ ngay tại Hà Nội giặc Pháp cũng hoảng hốt vì có tin Việt Minh cũng sẽ tấn công cả Hà Nội!
Đối phó Kế hoạch De Lattre de Tassigny
Trước nguy cơ đã mất thế chủ động trên chiến trường Việt Nam, Chính phủ Pháp đồng thời cấp tốc cử Đại tướng De Lattre de Tassigny sang Đông Dương làm Tổng chỉ huy kiêm Tổng Cao ủy thay thế Đại tướng Carpentier và Pignon – còn tăng viện 7 tiểu đoàn bộ binh, 1 trung đoàn thiết giáp, 2 cụm pháo binh, 1 phi đội máy bay ném bom và một số lượng lớn đại bác các loại và xe bọc thép…
Vừa chân ướt chân ráo sang Đông Dương, vị tướng lừng lẫy danh tiếng – từng tiến quân đến bờ sông Rhin trong chiến tranh lần thứ hai, được đánh giá là nhân vật duy nhất có tầm cỡ đưa quân đội Pháp thoát khỏi hiểm họa – đã vạch ra kế hoạch gồm 4 điểm chính để ngăn trận thắng lợi của Đại tướng Võ Nguyên Giáp:
Tập trung quân Âu-Phi tinh nhuệ thành lực lượng cơ động, phát triển ngụy binh; Xây dựng 1.300 phòng tuyến công sự bê tông cốt sắt (bong-ke) của 113 cứ điểm từ Hòn Gai, Đông Triều… qua Sơn Tây, Hà Đông… đến Ninh Bình bao quanh trung du và đồng bằng Bắc bộ để đối phó với quân chủ lực và cắt đứt mọi nguồn tiếp tế cho vùng kháng chiến; Song song với phòng tuyến này, ở vòng ngoài, chúng tàn phá hàng trăm mẫu ruộng, cưỡng bức dân vào vùng do chúng kiểm soát, tạo ra một “vành đai trắng” tức là khu vực không có người, chiều rộng từ 5 đến 10km…
Cùng với chủ trương giữ vững phòng tuyến ở Bắc bộ, chúng còn đẩy mạnh “chiến tranh tổng lực”, bình định vùng tạm chiếm nhắm vơ vét sức người, sức của để phục vụ và tăng cường cho lực lượng của chúng; dùng máy bay oanh tạc, thổ phỉ, biệt kích… bao vây và đánh phá vùng kháng chiến.
Đây là kế hoạch bình định gấp rút, phản công quyệt nhằm đè bẹp ý chí chiến đấu của dân quân ta, kết thúc sớm cuộc chiến tranh mà chúng đã quá mệt mõi.
Về phía ta, từ hạ tuần tháng 11/1950 Bộ Tổng tư lệnh đã liên tiếp mở ba chiến dịch mang tên các danh tướng là Trần Hưng Đạo, Hoàng Hoa Thám, Quang Trung đánh vào phòng tuyến của giặc ở trung du và đồng bằng Bắc Bộ. Cả ba chiến dịch này đều có quy mô lớn, là lần đầu tiên bộ đội ta đánh vào phòng tuyến cố định của giặc, dù chúng có tiêu hao một phần sinh lực, nhưng ta cũng thiệt hại nhiều, và chưa làm thay đổi cục diện chiến trường đồng bằng Bắc bộ.
Trong khi bộ đội bắt đầu mở đợt 2 của chiến dịch Quang Trung thì De Lattre de Tassigny trao quyền chỉ huy cho Salan, để đưa thi thể của con trai mình là Trung úy Bernard de Lattre vừa tử trận trong trận Gối Hạc (Ninh Bình) về Pháp. Chiến dịch này kết thúc vào ngày 20/6/1951, sau này trong hồi ức của Đại tướng Võ Nguyên Giáp có cho biết lúc đó, Chủ nhiệm Tổng cục chính trị Nguyễn Chí Thanh đã nhận xét là mặc dù đã xuất hiện nhiều gương anh dũng hy sinh:
Nhưng ở một số cán bộ đã có dấu hiệu dao động, điều tra địch không dến nơi, bỏ bộ đội khi chiến đấu, tư tưởng ngại gian khổ, ác liệt khá phổ biến. Anh Thanh cho rằng phần lớn cán bộ sơ cấp, trung cấp của ta xuất thân từ tầng lớp tiểu tư sản học sinh, chỉ mới giác ngộ về dân tộc, còn ít giác ngộ giai cấp, thiếu kiên định. Trọng tâm đợt chỉnh huấn này, nên nhằm vào cán bộ.
(Đường tới Điện Biên phủ – NXB Quân đội Nhân dân- 2001, tr. 210)
Chiến dịch Hòa Bình
Đợt chỉ huấn này vừa kết thúc cũng là lúc Đại tướng De Lattre de Tassigny trở lại Việt Nam. Từ ngày 9/11/1951, y quyết định ném 20 tiểu đoàn vào chiến dịch đánh chiếm Hòa Bình – nhắm cắt đứt đường liên lạc, tiếp tế, phá sự chuẩn bị tiến công của ta, thu hút chủ lực ta để tiêu diệt. Đây là một cố gắng lớn của chúng sau thất bại chiến dịch Biên giới, nhằm lấy lại tinh thần cho quân viễn chinh đang tụt dốc thảm hại.
Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã phát lệnh mở chiến dịch Hòa Bình. Sau khi chỉnh huấn, cán bộ chiến sĩ nô nức lập công, đã xuất hiện nhiều gương anh dũng như Tiểu đội trưởng Cù Chính Lan dũng cảm đuổi xe tăng, nhảy lên thành xe, ném lựu đạn vào buồng lái của giặc tạo điều kiện cho đơn vị hoàn thành nhiệm vụ.
Đặc biệt, bếp Hoàng Cầm cũng ra đời trong thời gian này. Khi giặc đang thắng thế, chưa kịp ăn mừng “chiến tích Hòa Bình” thì De Lattre de Tassigny bị bịnh, về nước và chết vào ngày 11/1/1951 thì Salan lên thay thế. Lúc này, lợi dụng quân Pháp đang đóng lực lượng lớn tại Hòa Bình, bộ đội ta gấp rút tiến sâu vào vùng sau lưng địch ở vùng đồng bằng và trung du Bắc bộ, phối hợp với dân quân du kích phát động quần chúng nổi dậy phá hệ thống ngụy quân, ngụy quyền do giặc dựng lên. Salan hoảng hốt, ngày 23/2/1952, hạ lệnh bỏ Hòa Bình rút chạy. Sau đó, y vội vã tập trung các binh đoàn cơ động tiến hành những đợt càn quét lớn nhằm bình định lại đồng bằng Bắc bộ, cứu vãn tình thế. Nhiều cơ sở của ta gần như mất trắng, nhiều vùng du kích bị thu hẹp lại, phong trào kháng chiến ở vùng địch hậu giảm sút rõ rệt… Đại tướng Võ Nguyên Giáp nhiều đêm gần như thức trắng.
Chiến dịch Tây Bắc năm 1952
Cuối cùng, ông đã đề nghị với Trung ương Đảng cho mở chiến dịch Lý Thường Kiệt đánh Tây Bắc vì đây là “vùng rừng núi duy nhất địch còn kiểm soát được tại Bắc bộ” nhưng “lực lượng địch ở Tây Bắc mỏng và yếu nhất” (Đường tới Điện Biên Phủ – NXB Quân đội Nhân dân 2001 – tr. 300).
Đúng như nhận định trên, Tây Bắc là một vùng chiến lược quan trọng của giặc Pháp, có 8 tiểu đoàn, 41 đại đội đóng giữ 144 cứ điểm đang uy hiếp căn cứ địa Việt Bắc và che chở cho vùng Thượng Lào. Ngày 14/10/1952, chiến dịch mở màn. Khi trao nhiệm vụ cho bộ đội, Đại tướng nhấn mạnh:
Giải phóng một bộ phận đất đai ở Tây Bắc là thực hiện một phương châm có ý nghĩa quan trọng về chiến lược, để mở rộng, củng cố căn cứ địa Việt Bắc, giữ vững đường giao thông quốc tế và tạo những điều kiện mới cho cách mạng Lào. Cả ba nhiệm vụ tiêu diệt địch, giải phóng đất đai, tranh thủ nhân dân đều quan trọng và quan hệ mật thiết với nhau, nhưng nhiệm vụ tiêu diệt địch có vị trí đặc biệt, vì có tiêu diệt nhiều sinh lực địch mới làm tốt được hai nhiệm vụ kia…
Nhờ sự giúp đỡ hết lòng của đồng bào Tây Bắc và ý chí quyết chiến quyết thắng của bộ đội, sau hai tháng rưởi chiến đấu ta đã giải phóng được khu Tây Bắc rộng 28.000 ki lô mét vuông với 250.000 dân, mở rộng và củng cố căn cứ địa Việt Bắc, phá tan âm mưu “xứ Thái tự trị” của giặc Pháp. Sau thất bại này, giặc Pháp bắt buộc phải tăng cường phòng thủ Thượng Lào, xây dựng thị xã Sầm Nưa thành một cứ điểm quân sự quan trọng để chia lửa cho các căn cứ ở miền bắc Đông Dương đang bị quân của Tướng Giáp uy hiếp nghiêm trọng.
Mùa xuân 1953, bộ đội tình nguyện đã cùng quân Giải phóng Pa-thét Lào mở chiến dịch Thượng Lào đánh chúng những trận đòn sấm sét, đẩy chúng càng lún sâu vào thế bị động.
Ngày 3/5/1953 chiến dịch kết thúc. Kế hoạch bình định Đông Dương của De Lattre de Tassigny đến đây đã hoàn toàn phá sản.
Dĩ nhiên, Tổng chỉ huy Salan bị triệu hồi về nước. Đại tướng Navarre được cử làm Tổng tư lệnh quân đội Pháp để tiếp tục cuộc chiến đấu mà từng ngày càng đẩy chúng vào đường hầm không ánh sáng…
Kế hoạch Navarre và bước ngoặt Điện Biên Phủ
Sang đến chiến trường, “kế hoạch Navarre” đã được cấp tốc thực hiện theo hai bước:
Trong thu đông 1953 và xuân 1954 tiếp tục giữ vững thế phòng ngự chiến lược ở phía bắc vĩ tuyến 18, không đương đầu với quân chủ lực ở miền Bắc mà chỉ tấn công phía nam vĩ tuyến 18 để bình định miền Nam, miền Trung Đông Dương, tiến tới xóa bỏ vùng kháng chiến Liên khu 5; Sau khi đã làm tròn nhiệm vụ này, dự kiến vào thu 1954 thì chuyển toàn bộ lực lượng ra phía bắc, giành thắng lợi quyết định, buộc Việt Minh phải đàm phán theo điều kiện do chúng đặt ra, nếu không thì sẽ bị tiêu diệt!
Theo kế hoạch, bất ngờ tháng 7/1953 giặc Pháp tập kích Lạng Sơn, mở cuộc hành quân “camargue” càn quét vùng ven biển Bình Trị Thiên… rồi giữa tháng 10/1953 chúng lại mở chiến dịch Hải Âu đánh vào Ninh Bình và Thanh Hóa… Chiến trường Đông Dương sôi động lên. Chính phủ Pháp tỏ ra lạc quan với kế hoạch “luôn luôn chủ động” và “luôn luôn tiến công” của Navarre.
Cho đến tháng 11/1953, chiều hướng quân sự tưởng như đang có lợi cho giặc Pháp thì bỗng có tin các sư đoàn 3216, 308, 312 của Tướng Giáp lại di chuyển lên Tây Bắc uy hiếp Lai Châu và Thượng Lào!
Vừa phát hiện, ngày 20/11/1953 Navarre vội vã cho 6 tiểu đoàn nhảy xuống chiếm Điện Biên Phủ, vài ngày sau lại tung quân lên đánh chiếm Mường Ngòi, Mường Khoa rồi xây dựng phòng tuyến sông Nậm Hu để nối liền Thượng Lào với Điện Biên Phủ. Tính đến ngày 15/3/1954, lực lượng quân Pháp ở Điện Biên đã có 12 tiểu đoàn và 7 đại đội bộ binh, 3 tiểu đoàn pháo binh, một tiểu đoàn công binh, một đại đội tăng, 200 xe tải, 2.000 tấn hậu cần, tổng số 16.200 binh sĩ đóng thành 8 cụm, gồm 49 cứ điểm. Chúng mạnh dạn tuyên bố “Điện Biên Phủ là một tuyến phòng ngự bất khả xâm phạm!
Nhưng đây là một quyết định sai lầm Navarre, không nằm trong kế hoạch chiến lược như ban đầu đã đề ra.
Báo cáo trước Bộ Chính trị và Bác Hồ về chủ trương tác chiến đông xuân, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã nhận định:
Đánh quân Pháp ở đồng bằng trống trải là điều khó, vì địa hình trống trải, hỏa lực của giặc mạnh, nên ta phải dụ chúng vào vùng rừng núi mà tiêu diệt, hoặc cầm chân chúng ở vùng rừng núi để tấn công vào đồng bằng, vì vậy việc quân Pháp nhảy dù xuống lòng chảo Điện Biên là nằm trong dự kiến mong muốn của ta, là thời cơ thuận lợi để ta tiêu diệt quân giặc.
Trong khi đó, với bản lĩnh của một nhà cầm quân lão luyện, Navarre vẫn sẵn sàng “tiếp nhận cuộc chiến đấu ở Điện Biên Phủ”, vì cho rằng quân đội ta chưa đủ sức đánh nổi một tập đoàn cứ điểm, khả năng vận chuyển lương thực, vũ khí còn rất hạn chế v.v…
Nhận định này không sai. Nhưng Navarre lại không lường trước ý chí quyết chiến quyết thắng của dân quân Việt Nam. Dù chỉ bằng dụng cụ thô sơ nhưng với ý chí ngoan cường, quân dân ta đã dùng ba triệu ngày công ròng rã ngày đêm để làm cầu, mở đường phục vụ cho chiến dịch để vận chuyển hàng vạn tấn lương thực vũ khí, thuốc men… từ xa hàng 400-500km đến mặt trận.
Chỉ riêng việc làm con đường Tuần Giáo – Điện Biên Phủ, ta thấy sức người thật khủng khiếp. Trong một thời gian ngắn, với cuốc, xẻng… trong tay, quân dân ta đã làm xong con đường dài 82km, đủ rộng để xe kéo pháo vào cách căn cứ của giặc khoảng 15km, sau đó ngụy trang cả người lẫn pháo rồi dùng sức lực của đôi tay kéo pháo qua rừng Nà Nham, vượt lên đỉnh Pha Sông cao 1.150 mét, xuống vực sâu tới Bản Tấu rồi đưa về tới Bản Nghùi – thật là một một chặng đường hiểm trở, gian nan mà có người đã hy sinh khi lấy thân mình chèn bánh xe cho pháo không tụt xuống vực!
Ngoài ra, quân dân ta cũng đã xây dựng những trận địa pháo kiên cố, ngụy trang tốt, nghi binh giỏi, chuyển quân vào trận địa an toàn và bí mật, giấu kín được mọi hoạt động quân sự.
Quyết định lịch sử: Chuyển từ “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc”
Phương án được chọn tiêu diệt cứ điểm Điện Biên Phủ là “đánh nhanh thắng nhanh”, vì nếu không đánh sớm thì giặc sẽ tăng thêm quân, củng cố công sự ngày càng kiên cố thì cuối cùng, ta sẽ không còn điều kiện để công kích chúng. Hàng ngàn dân quân đã đổ mồ hôi, máu để hoàn thành được nhiệm vụ thần kỳ mà Đảng và Bác Hồ giao. Ai nấy đều hào hứng chờ đợi giây phút lập công. Đó là lúc 17 giờ, ngày 25/1/1954, mở màn chiến dịch là 2.000 trái pháo 105 ly sẽ nổ ra như sấm sét trút xuống đầu quân giặc!
Nhưng đến giây phút đó, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã quyết định đổi phương án tác chiến! Một phần vì gần đến ngày nổ súng thì một chiến sĩ của Đại đoàn 312 không may bị giặc bắt và bộ phận thông tin kỹ thuật của ta nghe chúng thông báo qua điện đài về ngày giờ tấn công của ta! Nhưng cái chính là do ông không yên tâm với kế hoạch đã vạch ra. Ngay tại trận địa, lúc nào ông cũng cũng nhớ đến lòi căn dặn của Bác Hồ và Nghị quyết Trung ương đã nêu rõ:
Chỉ được thắng không được bại, vì bại thì hết vốn!
Trước giờ nổ súng, ông đã nhận thấy:
Ba khó khăn hiện lên rất rõ. Thứ nhất, bộ đội chủ lực ta đến nay chỉ tiêu diệt cao nhất là tiểu đoàn địch tăng cường, có công sự vững chắc ở Nghĩa Lộ. Ở Nà Sản chúng ta mới đánh vào vị trí tiểu đoàn, dưới tiểu đoàn, công sự dã chiến nằm trong tập đoàn cứ điểm, vẫn có những trận không thành công, bộ đội thương vong nhiều.
Thứ hai, trận này tuy ta không có máy bay, xe tăng nhưng đánh hiệp đồng binh chủng bộ binh, pháo binh với quy mô lớn lần đầu, mà bộ đội ta lại chưa qua diễn tập. Vừa qua, có trung đoàn trưởng xin trả lại pháo vì không biết phối hợp thế nào!
Thứ ba, bộ đội ta từ trước tới nay chỉ mới quen tác chiến ban đêm, ở những địa hình dễ ẩn náu. Chủ lực ta chưa có kinh nghiệm công kiên ban ngày trên trận địa bằng phẳng với một kẻ địch có ưu thế về máy bay, pháo binh và xe tăng. Trận đánh sẽ diễn ra trên một cánh đồng dài 15km và rộng 6 – 7km…
Tất cả những khó khăn đó đều chưa được bàn bạc kỹ và tìm cách thuyết phục. Nhưng giải quyết ra sao? Pháo binh đã vào vị trí, các đại đoàn đã có mặt ở tuyến xuất phát xung phong. Quyết định hoãn trận đánh một lần nữa sẽ tác động đến tinh thần bộ đội như thế nào…?
(Điện Biên Phủ – điểm hẹn lịch sử – NXB Quân đội Nhân dân 2001, tr. 102 – 103)
Ngay lập tức, sáng ngày 26/1/1954 Đảng ủy Mặt trận đã họp, thảo luận gay gắt và cuối cùng đồng ý với chuyển phương châm tác chiến “đánh nhanh thắng nhanh” sang “đánh chắc tiến chắc” mà Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đề ra.
Và cũng trong đêm đó, không thể dùng điện đài vì sợ lộ bí mật, ông viết thư hỏa tốc báo cáo với Bộ Chính trị và Bác Hồ về sự thay đổi này. Vậy là bộ đội chủ lực phải rút khỏi trận địa, lui về địa điểm tập kết, còn dân quân phải kéo pháo ra với biết bao gian khổ – nhiều gương anh dũng hy sinh để cứu pháo như Khẩu đội trưởng Tô Vĩnh Diện, chiến sĩ Nguyễn Văn Chức… lấy thân mình chèn bánh xe mong chận lại pháo cao xạ nặng 2 tấn rưởi lại!
Bài hát Hò kéo pháo của nhạc sĩ Hoàng Vân đã viết trong thời gian này, phản ánh đúng ý chí:
Hò dô ta… nào! Kéo pháo ta vượt qua đèo. Hò dô ta… nào! Kéo pháo ta vượt qua núi. Đèo núi cao cao nhưng lòng quyết tâm còn cao hơn núi. Vực sâu thăm thẳm, vực nào sâu bằng chí căm thù…
Chiến thắng Điện Biên Phủ
Sau một thời gian chuẩn bị lại chu đáo, lúc 17 giờ ngày 13/3/1954, Đại tướng Võ Nguyên Giáp – Chỉ huy trưởng mặt trận hạ lệnh nổ súng. Pháo binh Việt Nam rót đạn xuống cụm Him Lam, dọn đường cho bộ binh xung phong vào đồn giặc – mở màn chiến dịch Điện Biên Phủ vang dội cả địa cầu. Qua ba đợt tấn công trong 55 ngày, chiều ngày 7/5/1954, lúc 17 giờ 20 tướng De Castrie và Bộ tham mưu của quân đội viễn chinh đã bị “bộ đội Cụ Hồ” bắt sống.
Quân ta đã tiêu diệt và bắt sống 16.2000 quân Pháp, phá hủy và bắn roi 62 máy bay các loại, phá hỏng 4 xe tăng, thu 30 trọng pháo, 6 xe tăng, trên 3 vạn chiếc dù và thu toàn bộ vũ khí, kho tàng, đạn dược, quân trang, quân dụng…
Cho dù:
Chiến thắng Điện Biên Phủ được ghi vào lịch sử dân tộc như một Bạch Đằng, một Chi Lăng hay một Đống Đa trong thế kỷ XX và đi vào lịch sử thế giới như một chiến công chói lọi đột phá thành trì của hệ thống nô dịch thuộc địa của chủ nghĩa đế quốc (Lê Duẩn), nhưng thắng lợi này mới chỉ là mới là bước đầu, vì sau đó, quân đội ta còn phải đánh cả đế quốc Mỹ để thống nhất đất nước.
Vai trò trong cuộc kháng chiến chống Mỹ, cứu nước
Trong cuộc trường chinh chống Mỹ, cứu nước Đại tướng Võ Nguyên Giáp là Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Quân ủy Trung ương, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng đã có công góp phần xây dựng quân đội ta tiến lên chính quy, hiện đại và vạch ra kế hoạch chiến lược đánh thắng đội quân xâm lược hùng mạnh nhất thế giới trong thế kỷ XX.
Sau này, trên báo Sài Gòn giải phóng số ra ngày 30/4/2000. Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết:
Sau chiến thắng Điện Biên Phủ trên không đi đến việc ký kết Hiệp định Paris, chúng ta đã chuẩn bị kế hoạch giải phóng miền Nam, hoàn thành cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước. Nhưng đặc biệt là tại Hội nghị Ban chấp hành Trung ương Đảng lần thứ 21 đã xác định “thời cơ thực hiện thắng lợi cách mạng dân tộc dân chủ nhân dân trong cả nước đã đến.
Từ Nghị quyết của hội nghị trên, Bộ Thống soái tối cao gồm Bộ Chính trị, Thường trực Quân ủy Trung ương và một số đồng chí chủ chốt trong Bộ Quốc phòng đã cùng nhau bàn bạc xúc tiến kế hoạch giải phóng hoàn toàn miền Nam.
Năm 1974, tình hình có dấu hiệu chuyển biến mau lẹ. Trên chiến trường, chiến lược Việt Nam hóa chiến tranh của Mỹ đang bị phá sản, nội bộ nước Mỹ thì rối ren do phong trào biểu tình phản chiến lên rất cao. Nixon đang bị bê bối bỏi vụ Watergate… Tháng 9/1974, Bộ Thống soái tối cao đã họp thông qua kế hoạch giải phóng miền Nam trong thời gian từ 2 đến 3 năm. Đó là “kế hoạch cơ bản”. Đồng thời cũng xây dựng một “kế hoạch thời cơ”. Nếu có thời cơ thì chúng ta lập tức tấn công giải phóng miền Nam sớm hơn”.
Tổng tiến công và nổi dậy mùa Xuân năm 1975
Lúc này, vào đầu tháng 1/1975, quân dân ta đã giải phóng Bình Long – như một đòn trinh sát chiến lược để Bộ Thống soái tối cao có quyết định chọn mục tiêu mở đầu cho cuộc tiến công. Lịch sử đã chứng minh là Bộ Thống soái tối cao đã chọn Tây Nguyên để “điểm huyệt” lực lượng của Mỹ ngụy, khiến chúng tê liệt mọi hoạt động trên chiến trường miền Nam.
Tại sao lại có được quyết định đúng đắn này?
Đại tướng Võ Nguyên Giáp cho biết:
Tháng 12/1974, Bộ Chính trị họp với sự tham dự của đại diện các chiến trường. Trong cuộc họp này mọi người đều nhất trí với nhận định, tình hình chiến trường phát triển ngày càng thuận lợi, thời điểm tổng công kích – tổng khởi nghĩa giải phóng hoàn toàn miền Nam đã đến.
Từ trước đến nay bao giờ chúng ta cũng chú trọng tới chiến trường Tây Nguyên vì vị trí chiến lược của nó. Ngay từ khi đánh Pháp, chúng tôi đã xác định ai nắm được Tây Nguyên thì có thể làm chủ được cả miền Đông. Năm 1973, anh Hoàng Minh Thảo (Thượng tướng, lúc đó là Tư lệnh chiến trường Tây Nguyên) ra họp có trình bày với tôi là Tây Nguyên có một vị trícực kỳ quan trọng, cực kỳ hiểm yếu, đó là thành phố Buôn Ma Thuột. Tuy nhiên khó khăn ở Buôn Ma Thuột là tiếp tế nước và lương thực. Mặt trận Tây Nguyên cũng đã có chuẩn bị, nhưng chưa đầy đủ.
Các đồng chí ở Khu 5 cũng cho rằng ta có thể giải phóng Tây Nguyên trước. Lúc đó, tôi có giao cho một tổ nghiên cứu kế hoạch giải phóng miền Nam. Các đồng chí cán bộ tác chiến và Học viện Quân sự cũng tham gia ý kiến đánh nơi nào là hợp lý nhất? Phần lớn đều đồng ý đánh Buôn Ma Thuột. Ít khi nào có sự thống nhất cao như vậy. Đến tháng chạp, cũng có ý kiến ta nên đánh vào Sài Gòn để gây bất ngờ nhưng ý kiến chung nhất vẫn là “muốn đánh vào đô thị lớn thì trước hết phải có một đòn chủ lực tiêu diệt chủ lực địch ở ngoài đô thị”. Cuối cùng chúng tôi đi đến quyết định là đánh Buôn Ma Thuột.
Trận này anh Văn Tiến Dũng được Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương cử vào chỉ đạo chiến trường Buôn Ma Thuột. Trận này, anh Dũng đã đánh thật xuất sắc…
Từ chiến thắng mở đầu này, Mỹ ngụy hoảng hốt quyết định rút quân khỏi Tây Nguyên, chạy về tập trung “cố thủ” ở Đà Nẵng. Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã chỉ đạo cho Bộ Tư lệnh chiến trường Trị Thiên – Huế chuyển từ “kế hoạch cơ bản” sang “kế hoạch thời cơ”, đánh địch đang rút chạy. Tình thế đã thay đổi rất nhanh khi quân địch bỏ Huế, rút lực lượng mạnh nhất tập trung ở Đà Nẵng. Ông đã báo cáo với Bộ Chính trị là phải kịp thời giáng một đòn quyết định!
Thật vậy, chiến thắng Đà Nẵng đã làm sụp đổ hệ thống phòng thủ chiến lược của địch ở vùng ven vùng biển Trung bộ, gây nên một tâm lý tuyệt vọng trong ngụy quân, ngụy quyền. Cuộc tiến công và nổi dậy của dân quân miền Nam liên tục phát triển với thế “trúc chẻ ngói tan” và nhiều vùng đất lần lượt được giải phóng…
Chiến dịch Hồ Chí Minh
Lúc 17 giờ 50 ngày 14/4/1975, Tổng bí thư Lê Duẩn đã gửi bức điện cho các tướng lĩnh Tám Thành (Hoàng Văn Thái), Bảy Cường (Phạm Hùng), Tuấn (Văn Tiến Dũng) thông báo trong ngày này:
Bộ Chính trị đồng ý chiến dịch giải phóng Sài Gòn lấy tên là “chiến dịch Hồ Chí Minh.
Bấy giờ, mật lệnh của Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã được quán triệt đến toàn quân là:
Thần tốc, thần tốc hơn nữa, táo bạo, táo bạo hơn nữa, tranh thủ từng giờ, từng phút xốc tới giải phóng hoàn toàn miền Nam, quyết thắng và toàn thắng.
Sáng ngày 30/4/1975, sớm hơn thường lệ, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã đến phòng họp “Nhà con rồng” tại khu A trong cơ quan Tổng hành dinh cùng Bộ Chính trị và Thường trực Quân ủy Trung ương theo dõi tình hình chiến trường đang diễn biến ra từng giờ, từng phút.
Thay mặt Bộ Chính trị, ông đã điện vào chiến trường chỉ đạo:
Ủy ban quân quản công bố ngay trên đài phát thanh mệnh lệnh đầu tiên với nội dung:
a/ Quân giải phóng tiến vào để giải phóng thành phố Sài Gòn – Gia Định, hoàn thành công cuộc giải phóng miền Nam.
b/ Quân đội Sài Gòn phải lập tức hạ vũ khí đầu hàng.
c/ Tuyên bố giải tán chính quyền các cấp.
d/ Kêu gọi đồng bào đứng dậy, cùng quân giải phóng đập tan mọi sự chống cự của địch, gìn giữ trật tự an ninh, bảo vệ tính mạng, tài sản của nhân dân, hoàn thành công cuộc giải phóng hoàn toàn miền Nam Việt Nam thân yêu.
Đến 10 giờ sáng, nhận được tin Dương Văn Minh ra lệnh ngưng bắn và đề nghị thương lượng, ông cầm bút thảo ngay bức điện, lệnh cho các cánh quân vẫn tiếp tục tiến công. Đến 12 giờ 25 phút ông lại điện tiếp vào chiến trường ý kiến chỉ đạo của Bộ Chính trị và Quân ủy Trung ương:
… Có thể dùng Dương Văn Minh để kêu gọi các đơn vị của địch hạ vũ khí, nhưng không phải với tư cách tổng thống mà với tư cách một người đã sang hàng ngũ nhân dân. Đã nhận tin ta cắm cờ lên Dinh Độc lập lúc 11 giờ. Các anh trong Bộ Chính trị rất vui, rất vui.
Chiều ngày 30/4/1975, sau cuộc họp, nắng chiều đang vàng rực trên rặng cây xà cừ đường Hoàng Diệu, Đại tướng Võ Nguyên Giáp một mình thả những bước chân đi trên phố phường Hà Nội hòa cùng niềm vui của dân tộc, bất giác trên khóe mắt của một vị tướng dạn dày trận mạc trào ra những giọt nước mắt hạnh phúc, sung sướng nhất và trong thâm tâm tự nhủ:
Giá như còn có Bác…
Những năm sau 1975
Sau năm 1975, Đại tướng Võ Nguyên Giáp vẫn tiếp tục công việc mà quốc dân đã giao phó cho người lính tiên phong. Từ năm 1978, với cương vị Phó Thủ tướng Chính phủ, ông đã dành nhiều tâm huyết để chỉ đạo công tác khoa học, giáo dục và biên soạn nhiều tập sách nổi tiếng về quân sự mà ông đã tiếp thu và vận dụng từ tư tưởng Hồ Chí Minh. Có thể nói, Võ Nguyên Giáp là chân dung người lính tiêu biểu nhất của phẩm chất “bộ đội Cụ Hồ”.
Ở tuổi ngoài 90, nhưng ông vẫn con minh mẫn, thông tuệ và canh cánh trong lòng về thế hệ trẻ phải kế tục sự nghiệp của ông cha để tiếp tục làm nên “Điện Biên Phủ, Đại thắng mùa xuân” trong lãnh vực kinh tế, khoa học kỹ thuật.
Ông nói:
Tôi nghĩ, thanh niên ngày nay cần phải thấy được nỗi nhục của một nước bị xếp vào hàng các nước chậm phát triển nghèo nhất thế giới. Từ đó mà có một mong muốn, mong muốn tột bậc là làm sao để đất nước thoát khỏi tụt hậu, phát triển thành một nước giàu mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh.
Tôi mong tuổi trẻ ngày nay dốc lòng học tập và làm việc, có phẩm chất trí tuệ và tài năng, có nhân tài xuất chúng, xứng đáng là con cháu của Bác Hồ, là người chủ tương lai của đất nước.
(TTCN số 23/2/1997)
Trong việc học thì cho đến nay, ông vẫn là người gương mẫu tâm niệm “học, học nữa, học mãi”, có một điều rất đáng để ta suy nghĩ khi biết rằng, nếu ta muốn đến thăm ông thì đừng chọn lúc buổi sáng, vì đó là thời gian ông đang vào Internet.
Đánh giá
Đã có rất nhiều sách của các tác giả trong và ngoài nước ghi nhận, đánh giá công lao của một vị danh tướng lừng lẫy địa cầu, ở đây chúng tôi xin được tâm đắc với câu đối của một bà cụ bình thường như hàng triệu con người bình thường khác, tên Nguyễn Thị Vĩnh ở Tam Đảo (Vĩnh Phúc) đã viết nhân mừng thọ Đại tướng tròn 90 xuân:
Văn võ song toàn lừng danh tướng
Tâm hồn đức độ sáng hiền nhân
Danh tướng “từ nhân dân mà ra”, Đại tướng Võ Nguyên Giáp đã gắn trọn cuộc đời mình với sự nghiệp đấu tranh giành độc lập dân tộc, bảo vệ và xây dựng đất nước. Từ người thanh niên yêu nước ở Quảng Bình, người tổ chức Đội Việt Nam Tuyên truyền Giải phóng quân, vị Tổng tư lệnh của các chiến dịch Việt Bắc, Biên giới, Điện Biên Phủ, đến người góp phần hoạch định thắng lợi của Đại thắng mùa Xuân năm 1975, ông luôn làm tròn “sứ mạng mà quốc dân đã giao phó”.
Cuộc đời và sự nghiệp của ông là biểu tượng của trí tuệ, bản lĩnh, lòng yêu nước và ý chí vượt qua mọi thử thách vì độc lập, tự do của dân tộc Việt Nam.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 5 – Danh nhân quân sự Việt Nam, Nxb Trẻ.