Khái quát
Đầu thế kỷ XX có một thầy giáo hoạt động cách mạng, bị Pháp bắt và chém đầu, đem bêu ở phủ Hoài Đức. Các môn sinh không ai dám hé môi xin đem xác thầy về chôn cất – vì sợ liên lụy. Duy chỉ có một người trẻ tuổi can đảm đứng ra nhận việc ấy, đã viết sớ dâng triều đình để xin đứng ra an táng cho trọn nghĩa thầy trò. Người đó sau này trở thành một trong những nhân vật lừng lẫy của trường Đông Kinh Nghĩa Thục. Đó là chí sĩ Lương Văn Can.
Sẽ là một thiếu sót lớn nếu không đề cập đến Đông Kinh Nghĩa Thục trong hệ thống giáo dục Việt Nam. Mà trường này được thành lập phải kể đến công rất lớn của chí sĩ Phan Châu Trinh. Sau khi từ Bình Thuận trở về, năm 1906, cụ Phan ra Bắc liên hệ với những bậc trí thức yêu nước như Lương Văn Can, Đào Nguyên Phổ, Lê Đại, Võ Hoành, Lê Đại… để bàn bạc thực hiện những mục tiêu của phong trào Duy tân đã khởi xướng tại Quảng Nam.
Về tên gọi, Đông Kinh chính là tên thành Thăng Long dưới thời Hồ Quý Ly; nhưng còn có thể là do phiên âm từ chữ Hán của từ “Tokyo” – kinh đô của Nhật Bản chăng? Còn Nghĩa Thục là trường dạy để làm việc đại nghĩa, vì đại nghĩa mà dạy người, không thu học phí, thậm chí còn giúp đỡ sách vở cho những người nghèo mà hiếu học. Mô hình này ra đời tại Hà Nội vào tháng 3/1907, do các bậc túc nho ái quốc của ta học tập theo mô hình trường Khánh Ứng Nghĩa Thục (Keio – gijuku) ở Nhật Bản do trí thức Phúc Trạch Dụ Cát (Fukuzawa Yukichi, 1835 – 1901) sáng lập từ năm 1858.
Phương pháp giáo dục mới
Phương pháp giáo dục mới của trường Đông Kinh Nghĩa Thục hoàn toàn khác với lối dạy nhồi sọ, ngu dân đương thời nên đã khiến thực dân Pháp lo sợ và chúng tìm mọi cách đóng cửa trường. Dù trường này chỉ tồn tại một thời gian ngắn, nhưng tạo nên âm vang dữ dội trong lịch sử giáo dục Việt Nam.
Trường Đông Kinh Nghĩa Thục do thầy Lương Văn Can làm thục trưởng, Nguyễn Quyền là giám học. Các thầy đã quy tụ được các trí thức tiếng tăm nhất thời bấy giờ. Những người thuộc phái tân học có các nhân vật nổi tiếng như Nguyễn Văn Vĩnh, Phạm Duy Tốn, Trần Đình Đức, Bùi Đình Tá, Nguyễn Bá Học, Phạm Đình Đối… Những hội viên tán trợ tích cực là Đào Nguyên Phổ, Phạm Tuấn Phong, Dương Bá Trạc, Hoàng Tăng Bí, Lê Đại, Vũ Hoành, Nguyễn Hữu Cầu, Phan Tất Tuân…
Hình thức hoạt động chủ yếu của trường là thành lập các ban chuyên môn như Ban giáo dục, Ban tài chính, Ban cổ động, Ban tu thư, Ban kinh doanh để điều hành công việc. Trường đã tổ chức những buổi diễn thuyết, các buổi bình văn đều đặn vào ngày 1 và 15 mỗi tháng:
Trường Nghĩa Thục đứng đầu dạy dỗ
Khắp ba mươi sáu phổ Hà Thành
Gái trai nô nức học hành
Giáo sư mấy lớp, học sinh mấy ngà
Buổi diễn thuyết người đông như hộ
Kỳ bình văn khách đến như mưa
Trường có tám lớp với các môn học như Việt văn, Hán văn, Pháp văn, Lịch sử, Địa dư, Toán pháp… Số học sinh vào thời điểm đông nhất đã lên đến cả ngàn người.
Ban Tu thư ngoài việc dịch tài liệu, còn tự biên soạn tài liệu để phổ biến cho thầy trò trong trường, nội dung chủ yếu là chống nền học cũ, chống bọn hủ nho, chống chữ Hán, chống khoa cử, hô hào việc học chữ Quốc ngữ, học theo cách mới, giáo dục tôn trọng con người, khuyến khích sáng tạo…
Thế mới thực bỏ công đi học,
Thế mới là cỗi gốc văn minh.
Thân thế và con đường dạy học
Trong tất cả các hoạt động của trường, nổi bật lên vai trò của thục trưởng Lương Văn Can. Thầy tự là Hiếu Liêm, sinh năm 1854 tại làng Nhị Khê (nay là Thường Tín Hà Tây). Năm 16 tuổi, thầy đi thi Hương vào được Tam trường. Năm 21 tuổi, thầy thi đậu cử nhân và qua năm sau vào Huế thi Hội. Thi chưa xong thì nghe tin cha mất nên bỏ thi quay về chịu tang. Sau đó, thầy ra Hà Nội ở nhà số 4 Hàng Đào và bắt đầu chuyên tâm vào nghề dạy học. Trong Lương gia tộc phả có đoạn viết:
Dẫu có ra ứng cử làm nghị viên thành phố, nghị viên bản tỉnh, nhưng thấy lúc nghị sự thì quyền về người Pháp, nghị viên ta chỉ dạ dạ vâng vâng như con trùng ứng thanh, chẳng bàn được sự ích quốc lợi dân gì cả, bèn từ không làm nữa ở nhà dạy học.
Con đường dạy học nhằm nâng cao dân trí cho dân giàu nước mạnh của thầy Lương Văn Can bắt đầu từ những năm tháng này.
Nghiên cứu về cuộc đời Lương Văn Can, nhà văn Hoài Anh cho biết:
Sau được nhà bạn bè (có người nói là Dương Bá Trạc) mang đến cho ông đọc những sách Tân thư như những sách của Rút-xô, Mông-tét-ki-ơ, Vôn-te… dịch ra chữ Hán và của Khang Hữu Vi, Lương Khải Siêu, những lãnh tụ của phái Duy tân Trung Quốc. Ông rất thích những tư tưởng nhân đạo, dân quyền, tự do, bình đẳng của Cách mạng Pháp và đã làm một bài thơ ca ngợi cách mạng 14/7/1789.
Sự chuyển biến về tư tưởng ấy còn dẫn tới sự thay đổi về tính tình của ông. Trước kia ông dạy học thường nóng tính, hay đánh học trò. Ngay cả con trai ông là Lương Ngọc Quyến cũng thường bị ông dùng thước kẻ gõ vào đầu, vì Lương Ngọc Quyến ghét học văn, thích học võ. Nhưng từ khi tiếp thu Tân học, Lương Văn Can trở nên mát tính, không bao giờ gắt mắng học trò, với con cháu trong nhà ông cũng để cho tâm tính tự do phát triển, không can thiệp vào một cách thô bạo. Phương pháp sư phạm của ông cũng có đổi mới. Từ đó ông nảy ra sáng kiến lập trường Đông Kinh Nghĩa Thục.
Hoạt động biên soạn
Điều đáng chú ý là để có tài liệu giảng dạy, thầy Lương Văn Can đã viết những tác phẩm như Quốc sư phạm lịch sử, Hán tự tuyệt kính, Âm học tùng đàm, Gia huấn, Hán tự quốc âm, Hạnh đàm loại ngữ, Châu thu loại ngữ…
Đến bây giờ, một cuốn sách của thầy viết vẫn còn ý nghĩa thời sự là Thương học phương châm. Với cuốn sách này, thầy đã trở thành người thầy đầu tiên viết sách dạy buôn bán ở Việt Nam.
Trong lời tựa có đoạn:
Cổ nhân thường khinh sự buôn bán là mạt nghệ, bởi vì người đời xưa trọng đạo đức mà khinh công lợi, thấy người buôn bán tham lợi vô yếm, ít có nói thực, sợ mất cái lòng đạo đức đi.
Với quan niệm phổ biến như thế thì việc dạy buôn bán ở thầy là một bước tiên phong đáng kinh ngạc lúc bấy giờ. Thầy cho rằng:
Bây giờ phong khí mở rộng, hoàn cầu đi lại như một nhà, đường bộ thì có hỏa xa, đường thủy thì có hỏa thuyền, không trung thì có tàu bay, lại thêm điện báo để thông thư tín, điện thoại để thông âm ngữ, tin tức đã mau, vận tải rất tiện, người mà thông thạo buôn bán thì làm giàu cũng dễ.
Làm giàu bằng cách nào? Đây cũng chính là một trong những chương trình học ở Đông Kinh Nghĩa Thục.
Cùng với Lương Văn Can, các thầy giáo trong trường đã kêu gọi “chấn hưng kinh tế”, vì dân có giàu thì nước mới mạnh. Học trò của trường đã được dạy:
Nhà nông ta phó mặc vận mệnh cho trời sắp đặt… Vậy khoa nông học há chẳng cần được giảng dạy sao? Về công nghệ vẫn duy khư khư lối cũ “ôm cây đợi thỏ”, sản phẩm còn nhiều chỗ thô sơ, không có kiểu cách mới, không tìm tòi được cái đẹp để vượt hơn người. Do đó việc tiêu thụ bị đình trệ. Nếu ta biết họp lại thành đoàn thể, mở xưởng thợ, vận dụng trí não để mở máy mới… Vậy nền công nghệ của ta há lại không lừng danh trong giới kỹ xảo hay sao?
Lương Văn Can đã phân tích thấu đáo mười nguyên nhân về sự lạc hậu trong thương trường của nước ta. Đó là: Người mình không có thương phẩm, không có thương hội, không có tín thực, không có kiên tâm, không biết trọng nghề, không có thương học nhằm đào tạo các học sinh có đủ tư cách theo nghề buôn, kém đường giao thiệp, không biết tiết kiệm và cuối cùng là khinh hàng nội hóa.
Đông Kinh Nghĩa Thục bị đàn áp
Cuốn sách Thương học phương châm của thầy đã góp phần không nhỏ trong chủ trương học theo cách mới của Đông Kinh Nghĩa Thục.
Điều đáng lưu ý là nhờ lối dạy tiến bộ này, trường Đông Kinh Nghĩa Thục không chỉ dừng lại ở Hà Nội mà còn phát triển ra một số nơi khác. Chẳng hạn ở Hà Đông có ba trường Nghĩa Thục ở Thôn Canh, Tây Mỗ, Tân Hội. Rồi ở Hải Dương, Thái Bình… cũng đều mọc lên những ngôi trường theo chủ trương của Đông Kinh Nghĩa Thục.
Khi nghiên cứu thấu đáo về trường này, ông Chương Thâu có cho biết:
Báo cáo của toàn quyền Klobukowsk có đoạn: “Trong những buổi nói chuyện hay diễn thuyết, bọn họ xúi giục nhân dân thôn quê chống lại chính phủ Pháp và bọn quan lại lâu nay cộng tác với sự nghiệp chúng ta. Hàng loạt thơ ca truyền miệng đã đưa vào tới vùng thôn quê hẻo lánh. Có những áng văn, những bài thơ đả kích từ nước ngoài bí mật truyền về, đem rải trong đô thị… Họ đọc thuộc lòng những đoạn thơ ca đượm lòng yêu nước rất kích động. Họ đi khắp Đông Dương tổ chức những buổi họp bí mật và đọc những điều răn mà khẩu khí hùng hồn… và một mặt nữa, vẻ bí mật bao phủ xung quanh họ.
Có thể nói, Đông Kinh Nghĩa Thục còn là trung tâm mà các bậc ái quốc từ Nam chí Bắc đều lui tới để bàn bạc kế hoạch chấn hưng đất nước về mọi mặt. Trước những hoạt động tích cực này, dĩ nhiên thực dân Pháp phải tìm mọi cách để đóng cửa trường.
Năm 1907, nghĩa quân của anh hùng Đề Thám phối hợp với những người yêu nước làm nên vụ “Hà Thành đầu độc”. Mượn cớ này thực dân Pháp đã bắt một số giảng viên của trường. Thầy Lương Văn Can bị hỏi cung ở sở Liêm phóng Hà Nội, sau đó, trước lời lẽ ôn tồn nhưng lý lẽ cứng cỏi của thầy, chúng không tìm ra chứng cớ đành phải thả nhưng vẫn ngấm ngầm theo dõi. Còn giám học Nguyễn Quyền thì bị chúng kết án tù chung thân, đày ra Côn Đảo. Trường bị đóng cửa.
Rồi năm 1913 những đảng viên của Việt Nam Quang Phục Hội là Nguyễn Văn Túy, Nguyễn Trọng Thường, Phạm Văn Tráng và Nguyễn Khắc Cần đã đem tạc đạn từ Trung Quốc về Hà Nội thi hành bản án tử hình đối với tuần phủ Thái Bình là Nguyễn Duy Hàn. Sau đó, họ ném tạc đạn vào Khách sạn Hà Nội giết chết hai tên thiếu tá Pháp là Chapuis, Mongrand và một số tên khác bị thương nặng. Nhân vụ này, chúng đã bắt hàng trăm người giam ở nhà pha Hỏa Lò – trong số này có Lương Văn Can. Thầy bị chúng kết án biệt xứ mười năm ở Phnom Pênh (Campuchia).
Những năm cuối đời và di sản
Trong thời gian thầy bị an trí ở đất lạ quê người thì bao nhiêu phiền muộn đổ xuống gia đình thầy. Lương Ngọc Quyến – con trai thầy – hy sinh trong cuộc khởi nghĩa Thái Nguyên, Lương Nghị Khanh từ Hương Cảng qua Campuchia thăm cha, rồi qua đời tại đây, còn Lương Ngọc Bân thì bị Pháp xử năm năm tù treo.
Mãi đến ngày 25/11 năm Tân Dậu (1921), sau tám năm đi đày, thầy mới được về lại Hà Nội. Tuy vậy, bầu máu nóng vẫn chưa nguội lạnh trong trái tim Lương Văn Can. Thầy tiếp tục xây dựng một trường học trên quê hương Nhị Khê của mình. “Nhị Khê học đường” khai giảng vào năm 1924, về sau trường này được vinh dự mang tên “Trường Lương Văn Can”. Ngoài việc giảng dạy thầy còn chú tâm viết sách tiếp tục truyền đạt tinh thần học học hành theo lối mới mà thầy và các đồng sự đã theo đuổi từ nhiều năm qua…
Năm 1927, bà cử Can – tức cụ bà Lê Thị Lễ – qua đời, thọ 75 tuổi – thầy đã cùng môn sinh treo tấm bảng cáo phó:
Bảo quốc túy, tuyết quốc sĩ
(Giữ lấy tinh hoa của dân tộc, rửa mối nhục mất nước).
Câu này còn được in hàng ngàn tờ và dặn dò con cháu cùng môn sinh là khi thầy qua đời thì phân phát những tờ đó cho những người đi dự đám tang. Vì lẽ đó, ngày 12/6/1927 sau khi thầy mất thì thực dân Pháp đã đánh hơi được và làm khó dễ.
Trước khi lìa đời, thầy cho gọi con cháu lại để chép câu đối (dịch):
Vì nước mà sống, cũng vì nước mà chết, mấy chục năm trời ước mong không toại, chỉ nguyện người hậu lai nhớ tới, mối hờn mất nước đừng quên.
Ngay trong bản di chúc thầy để lại cũng có câu:
Có nước mà chẳng giữ được, phải chịu người khác bảo hộ. Bảo hộ ngày nào tức là nước mất ngày ấy, chớ thấy thành quách nhân dân y nhiên như cũ mà nghĩ rằng chưa mất đâu! Ấy là người ngoài còn vì mình mà xấu hổ thay, huống chi mình ở trong quốc dân mà không biết xấu hay sao? Nên tôi đêm ngày phẫn uất, dẫu chết cũng không nhắm mắt được vậy.
Đám tang của thầy Lương Văn Can đã thu hút đông đảo quần chúng yêu nước đi đưa tiễn. Bọn thực dân đã dùng bạo lực để ngăn cản khi gia đình và nhân dân đưa thầy đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Đánh giá
Trong cuốn Lịch sử giáo dục Việt Nam (NXB Giáo dục 1996) đã ghi nhận về ngôi trường mà thầy làm Thục trưởng:
Xét về tiêu chuẩn ảnh hưởng chính trị, giá trị tư tưởng, học thuật… thì có thể khẳng định thành quả, tác dụng đối với đời sống và phong trào đấu tranh giải phóng tổ quốc của dân tộc ta, của Nghĩa Thục thật lớn, thật mới mẻ. Nhìn Nghĩa Thục dưới ánh sáng của tư tưởng sư phạm tiến bộ sẽ thấy Đông Kinh Nghĩa Thục như một cánh én báo mùa xuân, đã gọi lên một số luận đề triết học giáo dục, đã nhóm lên niềm tin ở đất nước Việt Nam sẽ có một kiểu trường, một nền giáo dục xã hội mới, đảm bảo chất lượng về một bộ mặt văn hóa, tư tưởng của quốc gia, và cũng đảm bảo cho sự phát triển của mỗi cá thể. Người Pháp tự đại, chủ quan đã run sợ cuống cuồng trước Nghĩa Thục. Người Pháp đã gấp gáp đàn áp Nghĩa Thục một cách cực kỳ tiểu nhân. Điều đó chứng tỏ Đông Kinh Nghĩa Thục đúng, đẹp và cách mạng.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.