Khái quát
Mỗi năm hoa đào nở
Lại thấy ông đồ già
Bày mực tàu giấy đỏ
Bên phố đông người quaBao nhiêu người thuê viết
Tấm tắc ngợi khen tài:
“Hoa tay thảo những nét
Như phượng múa rồng bay”Nhưng mỗi năm mỗi vắng
Người thuê viết nay đâu?
Giấy đỏ buồn không thắm
Mực đọng trong nghiên sầuÔng đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bayNăm nay đào lại nở
Không thấy ông đồ xưa
Những người muôn năm cũ
Hồn ở đâu bây giờ?
Thế hệ của chúng ta rồi thế hệ sau chúng ta, chắc hẳn kiệt tác Ông đồ của nhà thơ, nhà giáo Vũ Đình Liên vẫn còn nguyên vẹn trong tâm tưởng, trong trí nhớ. Nói như tác giả thì hình ảnh trên “Chính là cái di tích tiều tụy đáng thương của một thời tàn”. Chỉ dăm nét thật tiêu biểu, Vũ Đình Liên đã dựng trong mắt chúng ta hình bóng của một thầy đồ xa lăng lắc đến nao lòng…
Bối cảnh giáo dục
Nhớ lại thuở xưa, khi đứa trẻ lên sáu, bảy… cha mẹ chọn ngày lành tháng tốt, cạo đầu nó cho gọn gàng chỉ để lại một nhúm ở đỉnh, rồi làm lễ cáo gia tiên trước bàn thờ để Tổ tiên chứng giám và phù hộ cho con cháu học hành sáng láng. Cũng có bậc phụ huynh còn mời thầy đồ đến làm lễ khai tâm cho nó – như nhà văn Chu Thiên có viết khá chi tiết trong tác phẩm Lều chõng:
Ở dưới nhà, người ta đồ xôi và làm thịt gà. Trên nhà trần thiết sang trọng như một ngày có giỗ vậy. Thầy (bố) Tâm đặt một cái án thư ở giữa nhà, trên có bày hai cái ống hương, ba cái đài sơn và một cây đèn dầu nam. Thầy bảo đấy là thiết lập bàn thờ Đức Thánh. Biết vậy! Mâm xôi trắng muốt với con gà béo vàng, ngẩng mỏ ngậm chiếc hoa hồng đã đặt trên bàn coi rất ngon. Nhưng Tâm không dám nghĩ đến ăn. Vì ông đồ đã đến… Tâm chăm chăm nhìn ông đồ từng ly, từng tí. Ông lễ bốn lễ trước bàn thờ, vái rồi quỳ, chắp tay giơ lên ngang trán, miệng lâm râm khấn. Đoạn ông cầm bút vẽ ngoằn ngoèo bốn cái bùa lên tờ giấy trắng, để lên bàn thờ, quỳ khấn nữa, sau rốt, ông lại lễ bốn lễ…
Ông đồ bảo Tâm vào lễ, Tâm không rụt rè làm theo lời ngay. Rồi ông đồ lấy ở trên bàn thờ xuống một cái bút mới, đĩa son vừa mài sẵn và một quyển sách mới có đóng cái bìa có đánh nhựa cây dầy cồm cộm. Ông nằm soài xuống giường, hai gối giáp vào bụng, hai chân song song xoải đều về bên phải. Ông dí ngòi bút vào mồm, nhấm nhấm cái đầu nhọn, rồi chấm vào đãi son lấy ra viết những chữ đỏ lên trên giấy trắng ngà ngà. Viết xong, ông bắt Tâm ngồi xếp bằng xuống chiếu, trước bàn thờ, hai chân gập lại và ông chỉ vào từng chữ bảo Tâm học:
Thiên tích thông minh (Giời phú cho thông sáng)
Thánh phù công dụng (Đức thánh giúp cho có công nghiệp ích dụng ở đời)Tâm chăm chăm nhìn nét chữ và đọc rắn rỏi, được ông đồ khen:
Thằng bé học bạo dạn lắm, tất sau này học được!
Mâm cỗ đã đặt lên giường. Thầy Tâm, bác Tâm và ông đồ đã khể khà rượu. Tâm vẫn ngồi học tiếng to và trong, rất rõ ràng. Mọi người đều khen Tâm ngoan ngoãn và bạo dạn hơn các trẻ khác… Bác Tâm đã ngấm hơi rượu oang oang bảo Tâm:
Cố học đi cháu ạ, cố giật lấy cái “cử nhân” để rồi làm tiên chỉ làng này mà ăn thủ lợn.
Ông đồ thêm:
Học thi đỗ làm quan, tước lộc vua ban thầy cũng được nhờ.
Rồi mọi người cùng cười.
Đọc xong đoạn văn trên ta có thể cảm nhận được buổi lễ khai tâm trang trọng biết dường nào. Ngày đầu tiên đi học quả là một “sự kiện” khó quên trong tâm trí của một đời người.
Vai trò của thầy đồ trong việc dạy chữ
Ngôi trường đầu tiên mà đứa trẻ đặt chân đến chính là nhà ông thầy đồ. Đến nơi, bố mẹ kính cần đặt mâm lễ gồm trà rượu, hoặc khá giả hơn thì đặt con gà dĩa xôi để làm lễ nhập môn. Lại có những ông đồ cẩn thận, đích thân dắt đứa trẻ ra Văn Miếu trong làng thờ Đức Khổng Tử để làm lễ khai tâm, rồi ngày sau mới cho đứa trẻ được nhập môn. Từ đây đứa trẻ bắt đầu đi học.
Theo phong tục tập quán của ông bà ta thời xưa, để đứa trẻ học hành cho sáng láng thì cần tránh ăn quá no vì sợ lề mề không học được, không ăn cơm cháy sợ tối dạ, tránh ăn chân gà vì sợ run tay viết chữ như gà bói, không đẹp v.v… Tất nhiên những kiêng kỉ này không hợp lý chút nào, nhưng qua đó, ta thấy thời gian đứa trẻ đi học được bố mẹ lo toan, chăm chút từng ly từng tý.
Khi đến trường, tất cả môn sinh đều sinh hoạt chung trong hội đồng môn. Tại lớp học, ngoài ông đồ ra, còn có anh trưởng tràng và giám tràng vốn là người học giỏi hoặc lớn tuổi được thầy chỉ định giúp thầy mà theo dõi việc học của mọi người. Ai hỗn láo, vô phép với thầy; hoặc lười biếng trốn học thì trưởng tràng có quyền bắt trói lại, cho nên mới có câu “Môn sinh tiểu triều đình” là vậy!
Trong những ngày đầu tiên đến trường, đứa trẻ nào cũng bắt đầu tập viết. Chính nét chữ có ảnh hưởng rất lớn đến tâm tính của người học trò – nhất là thời xưa học chữ Nho. Mỗi nét ngang, nét dọc, nét móc, nét sổ… đều phải chỉnh chu, gọn gàng theo đúng quy tắc. Và tất nhiên, người đầu tiên tạo cho đứa trẻ sự ý thức khi cầm bút viết chữ của thánh hiền không ai khác hơn là ông đồ.
Thông thường, ông đồ vốn là những người giỏi chữ nhưng nhiều lần lều chõng lận đận, thi không đậu nên về làng mở trường dạy học; hoặc đó là những vị quan từng đỗ đạt, có công trạng hiển hách nay về hưu mở trường dạy cho con cháu trong làng… Ta thường nghe câu “Tiến vi quan, thoái vi sư” cũng là vậy. Hình ảnh thầy đồ rất được các bậc phụ huynh và học trò trọng vọng, kính nể – theo quan niệm nghi lễ xưa thì cao nhất là quân (vua), đến sư (thầy) rồi mới đến phụ (cha). Thiết nghĩ những điều này chúng ta cũng cần biết qua để thêm hiểu vì sao trường hợp của thầy Ngô Bảo – dù chỉ là người thầy dạy cho họ viết chữ đẹp – nhưng sau khi mất lại được các môn sinh kính trọng tạc bia thờ.
Thầy Ngô Bảo và tấm bia Hậu Phật
Theo nội dung văn bia mới phát hiện ở xã Phú Thị – Gia Lâm Hà Nội (xưa vốn là làng Phú Thị, huyện Gia Lâm, phủ Thuận An, xứ Kinh Bắc) thì thầy Ngô Bảo chỉ là người đậu khoa Thư toán năm 1698 và không phải là người có chức tước gì lớn. Nhưng thầy là người “khi còn trẻ mà bút pháp đã tinh luyện, đặt bút xuống là rồng bay, phượng múa..”. Có nhiều học trò nhờ sự giáo dục, rèn cặp của thầy mà thành tài như nội dung văn bia có cho biết “đa sĩ mông giáo dục đạt tài”. Nhưng khi thầy mất không có con nối dõi, người em trai phải đảm nhận việc thờ cúng. Vì thế, các môn sinh muốn đền đáp công ơn của thầy nên họ góp tiền mua ruộng tế, xin bản thôn bầu thầy mình là Hậu Phật và được dựng bia ở chùa Thiên Ứng Phúc Lâm của xã để thờ cúng mãi mãi.
Ý nghĩa của tục tôn Hậu và lòng tôn sư trọng đạo
Theo phong tục của thời trước, không phân biệt đàn ông hay đàn bà, người giàu hay kẻ nghèo, hễ ai có ân nghĩa với dân thì được dân dựng bia để tri ân mãi mãi. Thế nào là ân? Đó là những ai xuất tiền ra lập trường học, làm cầu đường, truyền dạy nghề hoặc cứu dân khi trong làng gặp thiên tai, mất mùa đói khổ… Thế nào là nghĩa? Đó là những ai dũng cảm hy sinh khi chống lại bọn lưu manh, đạo tặc đến cướp của phá làng. Hằng năm, cứ đến tháng giêng trong những ngày hội hè đình đám, dân trong làng trang trí, cắm cờ ở bia rồi đọc bài văn kỷ niệm tưởng nhớ người có ân nghĩa và qua đó, nhằm giáo dục tỉnh thần cao thượng ấy ở những thành viên còn sống trong cộng đồng.
Chẳng hạn, ở thế kỷ XVII, vợ chồng ông Trần Văn Huệ ở làng Gia Quất (nay thuộc xã Thượng Thanh, huyện Gia Lâm – Hà Nội) bỏ ra 38 lượng vàng mua ruộng cấp cho dân nên dân trong làng tôn làm Hậu Thần, dựng bia thờ, hoặc ở thế kỷ XIX có ông bà Hoàng Đức Mỹ bỏ ra 100 quan tiền giúp dân lúc đói kém, lại khuyến khích con rể, con gái bỏ ra thêm 200 quan tiền giúp dân hoàn thành việc đắp đê nên được dân dụng bia và tôn làm Hậu Phật v.v…
Trường hợp các môn sinh của thầy Ngô Bảo cũng ý thức như thế, nhưng không hẳn như thế. Nhà nghiên cứu Phạm Thúy Vinh – Viện nghiên cứu Hán Nôm là người phát hiện văn bia này đã phân tích thấu tình đạt lý:
Có thể thấy những học trò thành đạt của ông không phải là những quan chức giữ chức vụ cao. Họ chỉ là những viên Thư lại – công chức bình thường, chuyên làm nhiệm vụ về viết chữ trong các huyện đường, các bộ. Những người chỉ đỗ khoa Thư toán – khoa dạy về viết chữ và tính toán thì cũng chỉ được giữ những chức vụ như vậy thôi. Nếu muốn tiến xa hơn trên con đường sự nghiệp họ phải trải qua các kỳ thi Hội, thi Đình hay ít nhất cũng đỗ kỳ thi Hương. Vì thế việc báo đáp ơn thầy đối với họ không phải là sự khuếch trương thanh thế, tỏ sự giàu sang: chỉ có 77 quan tiền cổ và chưa đến 1 mẫu ruộng, tương đương với sự đóng góp của một người bình thường không danh vị gì vào thời đó muốn mua Hậu ở chính thời điểm này. Thế kỷ XVIII đã có những vị quan chức hoặc Thái giám cúng tiền hàng ngàn, hàng vạn quan và hàng chục mẫu ruộng cho các làng xã, đủ biết sự đóng góp của học trò Ngô tiên sinh với thầy thật khiêm tốn biết nhường nào. Người đóng góp nhiều nhất là 17 quan, ít nhất là 1 quan. Số tiền ấy họ đã mua 8 sào ruộng, họ đã giao số ruộng này cùng với số tiền còn lại (30 quan) cho bản thôn.
Nhưng cái đáng quý của học trò Ngô tiên sinh không phải là sự đóng góp nhiều hay ít, mà là tình cảm kính yêu thầy thật sự. Thói thường muốn trả ơn ai, người ta hay làm khi người được trả ơn còn sống để được ghi nhận và cũng để được tri ân. Còn khi người được trả ơn đã khuất, lại không có gia đình con cái thì mấy ai nhớ đến, nhất là trong trường hợp này, thầy giáo Ngô Bảo cũng đã được người em đứng ra lo việc tế tự, tưởng cũng có thể yên tâm. Song các học trò của ông vẫn áy náy, liệu một mai thầy giáo của họ có được thờ cúng mãi hay không? Theo phong tục truyền thống của dân Việt lúc bấy giờ, nếu ai được tôn là Hậu Thần, Hậu Phật sẽ được thờ cúng muôn đời. Bởi thờ Phật, thờ Thần thánh là tín ngưỡng hằn sâu vào tiềm thức của người Việt hàng ngàn năm nay. Những người được tôn Hậu, tức là được thờ sau Thần, sau Phật thì đương nhiên sẽ được hương khói thờ cúng mãi mãi cùng Phật, cùng Thần thánh. Với một ý niệm như vậy, các học trò của Ngô tiên sinh đã khẩn khoản xin với thôn tôn thầy giáo của họ là Hậu Phật. Chính sự lo lắng quan tâm của những học trò đối với thầy đã khiến cho dân thôn thật sự xúc động. Họ đã làm cho vong linh thầy giáo cũ được thanh thản mà lại phù hợp với tín ngưỡng của người Việt bấy giờ.
Văn bia chỉ ghi một câu chuyện, một việc nhỏ như vậy, song ý nghĩ giáo dục của nó rất lớn. Hơn bao giờ hết, nó mang lại cho người đọc một lẽ sống có tình người, cao hơn nữa là tình thầy – trò, biểu thị mối quan hệ tôn sư trọng đạo mà ngày nay các thế hệ học trò vẫn còn phải học tập và suy ngẫm. Một thầy giáo dù dạy nghề, dạy chữ hay dạy những tri thức khoa học mà thật sự có tài năng và đức độ, sẽ đào tạo được một thế hệ học trò đích thực kế tiếp sự nghiệp mà thầy đang làm. Thầy Ngô Bảo ở đây đỗ khoa Thư toán, từng làm “Thị nội Thư tả” thì 12 học trò của ông kê tên trong bia cũng đều đỗ khoa Thư toán, kế tục công việc “Thị nội Thư tả” như ông, lại có người làm quan đến “Phó sở sứ” giống ông. Hẳn ông còn nhiều học trò đỗ hơn nữa. Thật là hạnh phúc cho người thầy giáo như vậy.
Bài học về sự tôn sư trọng đạo mà văn bia “Hậu Phật bị ký” ở xã Phú Thị – Gia Lâm dẫu cách chúng ta 250 năm vẫn mang tính thời sự nóng hổi cho mọi thế hệ học trò ngày nay và khi nhớ về thầy giáo cũ đã chắp cánh cho ta bay đến tương lai.
Giá trị và ý nghĩa
Biết được trường hợp các môn đệ kính trọng thầy như trên, rồi đọc lại bài thơ Ông đồ của nhà thơ, nhà giáo nhân dân Vũ Đình Liên khiến ta càng xúc động và thương cảm cho hình ảnh ông đồ của buổi giao thời đầu thế kỷ XX, thời buổi mà “Nào có ra gì cái chữ Nho” (Tú Xương). Có lẽ do bản thân nhà thơ là một người từng dạy học như thầy Ngô Bảo nên mới viết được những câu thơ sâu sắc như thế:
Ông đồ vẫn ngồi đấy
Qua đường không ai hay
Lá vàng rơi trên giấy
Ngoài trời mưa bụi bay…
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.