Khái quát
Chúng con đến mọi miền Tổ quốc
Vượt đại dương sang Mỹ, Úc, Âu, Phi
Đôi cánh liệng giữa bầu trời khoa học
Nhớ ơn thầy dìu dắt bước chân đi(Nguyễn Như An)
Hình hài thầy tiêu tan
Tinh thần còn sống mãi
Công lao thầy vĩ đại
Trọn đời yêu con người(Vũ Xuân Ba)
Trên đây là những vần thơ mà các thế hệ học sinh nhớ công ơn dạy dỗ của GS Nguyễn Hữu Tảo. Thầy là người đầu tiên đặt những viên gạch cho sự ra đời của khoa Tâm lý – giáo dục học ở Việt Nam, là một trong những người có công sáng lập ra nền giáo dục học mác -xít ở Việt Nam. Khi thầy được kết nạp vào Đảng Cộng sản Việt Nam (1960), Tổng bí thư Trường Chinh – học trò cũ của thầy đã viết thư chúc mừng: “Như thế là từ nay Đảng của giai cấp công nhân có thêm một chiến sĩ lão luyện trên mặt trận văn hóa”, và “Tôi tin rằng từ nay vào Đảng, lòng của đồng chí lại càng trẻ hơn nữa và đồng chí sẽ tìm thấy những sinh lực mới để công tác có kết quả tốt và cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp cách mạng văn hóa do Đảng chủ trương”.
Cuộc đời
Thầy Nguyễn Hữu Tảo sinh năm 1900 trong một gia đình nhà nho có truyền thống hiếu học ở làng Trung Tự (Hà Nội). Cụ tổ là Nguyễn Hy Quang, từ thế kỷ 17 đã dạy học trong cung đình, khi mất được phong quận công và phúc thần. Cụ nội là Nguyễn Văn Lý đỗ tiến sĩ và làm đốc học Hưng Yên. Thân phụ là Nguyễn Hữu Cầu đỗ cử nhân, không ra làm quan mà tham gia dạy ở Đông Kinh Nghĩa Thục và bị giặc đày ra Côn Đảo. Thầy là con trai cả trong gia đình, dưới thầy là em trai Nguyễn Hữu Kha – sau này lấy hiệu là Thiều Chửu, tu tại gia và biên soạn, dịch thuật nhiều sách Phật, trong đó có bộ sách nổi tiếng là Hán Việt từ điển…
Từ thuở nhỏ, thầy được thân phụ dạy chữ Hán. Do đó, dù chỉ mới lên mười tuổi nhưng thầy đã có thể đọc được Đông Chu liệt quốc, Tam quốc chí bằng nguyên bản chữ Hán. Mãi đến năm 14 tuổi, thầy mới được vào học trường tiểu học Pháp – Việt ở phố Hàng Kèn (nay phố Quang Trung). Lúc này, cha đã bị bắt vì án quốc sự, sau khi ra trường, thầy muốn nộp đơn xin làm giáo viên để giúp đỡ gia đình trong cơn túng quẫn, nhưng mẹ thầy không đồng ý.
Năm 1920, thân phụ được thả tự do, về nhà và dạy con rằng:
Sự học cao xa lắm, con phải gắng học lên cao nữa.
Với lời dạy này, thầy tiếp tục nỗ lực theo học trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương.
Sự nghiệp giảng dạy trước Cách mạng tháng Tám
Năm 1924, sau khi tốt nghiệp, thầy được bổ dạy ở trường Thành Chung Nam Định (nay là trường trung học Lê Hồng Phong). Thời gian này, thầy ra sức dạy cho học trò việc học theo tinh thần mới. Tinh thần từ câu thơ của người cha gửi về từ Côn Đảo:
Học vấn danh cao thực mạc tàm
(Cái danh học vấn là cao, nhưng phải là cái học có thực lực và được dùng vào thực tiễn thì mới không hổ thẹn).
Hai năm sau, thầy được đổi về dạy trường Thành Chung – Hải Phòng (nay là trường trung học Ngô Quyền). Những năm tháng dạy học này, thầy đã để lại ấn tượng khó phai trong óc các học trò cũ – về sau là những nhân vật lừng lẫy như Trường Chinh, Lê Đức Thọ, Nguyễn Tuân, Thế Lữ… Thầy đã góp phần không nhỏ khơi dậy trong tâm trí họ lòng yêu nước, thương dân.
Học trò cũ là Tổng bí thư Nguyễn Văn Linh đã nhớ lại:
Nhiều thầy học đã nhiệt tình và khéo léo truyền cho tôi và nhiều bạn học sinh lòng yêu nước, thương dân, căm ghét bọn đế quốc, thực dân, phong kiến. Có thầy đã cho canh gác rồi đọc cho cả lớp nghe các bài báo “Người cùng khổ” và “Việt Nam hồn” của nhà cách mạng Nguyễn Ái Quốc.
Học trò cũ là Lưu Văn Lợi – nguyên Bộ trưởng Trưởng ban biên giới của chính phủ – nhớ lại:
Khi đó, trong lúc hầu hết các công chức đều thu mình trong cuộc sống gia đình, một số lao vào tổ tôm, ích xì, cá biệt có người đi hát ả đào hay hút thuốc phiện thì thầy chỉ quanh quẩn lo soạn bài giảng, đọc sách báo. Thầy thường ra hiệu Taupin phố Tràng Tiền, hiệu sách của người Hoa ở phố khách để mua sách báo mới.
Và những lúc rỗi rãi thầy lại dịch sách, đáng kể nhất là quyển Lòng vàng của De Amicis dịch qua bản tiếng Hán. Có thể nói thầy là người đầu tiên dịch tác phẩm nổi tiếng này, sau này, Hà Mai Anh mới dịch là Tâm hồn cao thượng, rồi Hoàng Thiếu Sơn mới dịch là Những tấm lòng cao cả.
Để khơi dậy lòng yêu nước trong học sinh của mình, thầy cùng với những người cùng tâm huyết lập ra nhóm Tam Hữu: Nguyễn Hữu Tảo, Nguyễn Sơn Hà và Nguyễn Văn Minh đã xuất bản những cuốn sách như tổ chức Hướng đạo và truyền bá chữ Quốc ngữ. Bà Nguyễn Thị Ngọc Mùi – vợ của ông Nguyễn Sơn Hà kể lại năm tháng này:
Nhớ đến bác Tảo, tôi không khỏi bồi hồi nhớ tới vị huynh trưởng, giữ cương vị phụ trách Hội Hướng đạo Hải Phòng. Bác cũng như thanh niên, mặc đồng phục hướng đạo với thần hình cường tráng, đầu húi cua gọn ghẽ, dáng điệu trang nghiêm, nói năng nhỏ nhẹ từ tốn, nét mặt hiền hậu, trung thực. Bác ít nói nhưng rất bộc trực. Điều gì yêu thì bảo vệ đến cùng, điều gì ghét thì cũng phản đối ra mặt, không chịu để bụng. Học sinh rất kính trọng bác, anh em Hướng đạo tin theo bác và thường nói nhỏ giọng tôn kính:
“- Cụ Khổng đấy!”.
Ý nói bác Tảo thường giảng dạy về đạo đức làm người như Khổng Tử và là tấm gương sáng về đạo đức.
Hoạt động biên soạn, truyền bá văn hóa trước năm 1945
Năm tháng này thầy Nguyễn Hữu Tảo đã viết Đời đoàn thể và những sách viết về anh hùng dân tộc như Hai Bà Trưng, Trần Hưng Đạo, Lê Lợi v.v… Sách loại này in mỏng chữ lớn có tranh minh họa, dễ đọc, dễ nhớ để cổ vũ thanh niên lòng tự hào dân tộc. Ngoài ra, thầy còn tích cực tham gia Hội truyền bá Quốc ngữ, vận động xóa nạn mù chữ cho người lao động nghèo. Với tinh thần này, khi Cách mạng tháng Tám thành công, thầy đã vui vẻ nhận nhiệm vụ làm Tổng giám đốc Nha tiểu học vụ kiêm chức Giám đốc Sở Tiểu học vụ Bắc Bộ.
Hoạt động giáo dục trong kháng chiến chống Pháp
Khi cuộc kháng chiến chống Pháp bùng nổ, thầy cùng gia đình sơ tán lên Việt Bắc. Thầy được cử làm giám đốc Giáo dục khu 1 – gồm các tỉnh Thái Nguyên, Bắc Cạn, Cao Bằng, Lạng Sơn. Năm 1948, thầy phụ trách xây dựng và làm hiệu trưởng trường trung học Việt Bắc – thu hút học sinh ba tỉnh Cao – Bắc – Lạng.
Ông Trương Đình Nguyên – nguyên chuyên viên cao cấp của Bộ Giáo dục – Đào tạo nhớ lại:
Một đêm bên bếp lửa, tôi hỏi thầy: “Cả dân tộc bước vào kháng chiến, nhiều giáo viên chuyển sang ngành khác. Con mới 23 tuổi, muốn đi bộ đội trực tiếp chiến đấu, thầy khuyên nên như thế nào?”. Thầy trầm ngâm một lát rồi nói: “Kháng chiến toàn dân, toàn diện và trường kỳ. Phải đào tạo nhiều cán bộ cho miền núi. Làm giáo dục cũng là kháng chiến. Tính chiến đấu của giáo dục là làm cho nhà trường gắn liền với đời sống.
Câu nói thật giản dị mà sâu sắc. Khi chia tay thầy còn nhắc lại:
Lòng thử hỏi lòng xem có thẹn
Đến đâu thì cũng có xuân phong
Năm 1950, Bộ quốc gia giáo dục cử thầy làm Tổng thư ký Hội đồng tu thư trung ương của Bộ. Rồi khi thành lập Khu học xá Trung ương ở tỉnh Quảng Tây (Trung Quốc) thầy cùng một số nhà giáo lão thành được Nhà nước đưa sang bên đó để chuẩn bị nhân tài cho đất nước. Thời gian này, thầy bắt tay vào dịch tác phẩm Giáo dục học của Kairốp – nhà giáo dục nổi tiếng của Liên Xô, rồi tiếp tục dịch tác phẩm Lý luận văn học của tác giả Abramovich (Liên Xô). Những cuốn sách này khi in ra chỉ ghi “Khu học xá trung ương xuất bản”, chứ không ghi tên dịch giả. Ấy là thầy muốn thế, thầy quan niệm dịch sách là để phục vụ cho công việc giảng dạy chứ không phải để ghi danh.
Đặt nền móng khoa Tâm lý – Giáo dục học
Sau chiến thắng vang dội ở Điện Biên Phủ, thầy trở về nước và được cử làm hiệu trưởng trường Sư phạm trung cấp Trung ương ở Cầu Giấy. Hai năm sau, trường đại học Sư phạm được thành lập do Phạm Huy Thông làm hiệu trưởng. Ít lâu sau, hai trường này sát nhập lại với nhau, thầy được cử làm tổ trưởng Tổ Tâm lý – Giáo dục học. Ngoài việc biên soạn tài liệu giáo khoa, thầy còn dịch Nguyên lý đạo đức cộng sản của A. Sixkin, Quản lý và lãnh đạo nhà trường của V. Pôpôp… Đáng chú ý nhất là lúc thầy viết và chủ biên bộ sách Sơ thảo Giáo dục học đại cương (NXB Giáo dục 1961). Đây là cuốn sách giáo dục học đầu tiên có hệ thống, có chất lượng cao, đặt nền móng cho khoa học giáo dục của nước ta. Và ngay cả sau khi nghỉ hưu năm 1964, thầy vẫn còn viết Giáo trình giáo dục học tặng cho Khoa Tâm lý – Giáo dục học của trường Đại học Sư phạm.
Có thể nói, trong suốt cuộc đời giảng dạy, lúc nào thầy cũng tận tụy với sự nghiệp trồng người. Khi chia tay với học trò và đồng nghiệp, thầy đã tâm sự qua bài thơ xúc động:
Bốn chục năm trời với học sinh
Bốn mươi lớp trẻ biết bao tình
Yêu thương quý mến trong xây dựng
Đem lại cho ai cuộc sống lành
Đem lại cho ai cuộc sống lành
Vào nghề từ thuở tóc còn xanh
Đến nay tóc đã như tơ cả
Miệng nói về hưu dạ chẳng đành
Miệng nói về hưu dạ chẳng đành
Nước nhà đang lúc dựng xây nhanh
Miền Nam miền Bắc chưa là một
Sao chịu khoanh tay đợi thái bình
Sao chịu khoanh tay đợi thái bình
Chân đi còn dẻo mắt còn tinh
Còn ghi lời Mác trong tâm dạ:
Hạnh phúc tìm trong chốn đấu tranh
Cuối đời
Về hưu, thầy tiếp tục đi dạy bổ túc văn hóa cho bà con láng giềng ở xóm Trung Tự, quận Đống Đa (Hà Nội). Và năm 1964 khi Mỹ ném bom phá hoại miền Bắc, thầy cùng gia đình đi sơ tán về nông thôn. Đi tới đâu, thầy lại dạy cho bà con nơi đó. Suốt đời mình, thầy đã làm đúng theo lời dạy của Đức Khổng Tử:
Học nhi bất yểm, hối nhi bất quyện
(học mà không chán, dạy người không mỏi).
Tháng 9 năm 1966 thầy bị xuất huyết não và qua đời trong sự thương tiếc của nhiều thế hệ học trò.
Đánh giá
Trước linh cữu của thầy, ngày 17/9/1966 GS Phạm Huy Thông đã đọc điếu văn ca ngợi công đức của GS Nguyễn Hữu Tảo:
Vốn tha thiết với nghề dạy học và rất tin tưởng vào thế hệ trẻ, cụ đã miệt mài nghiên cứu khoa học sư phạm. Với hơn ba chục năm kinh nghiệm trong nghề, với những hiểu biết vừa sâu vừa rộng về cả hai nền văn hóa Đông Tây, với lập trường tư tưởng dứt khoát và vững vàng, cụ đã đem hết trí tuệ và tài năng tình cảm vào việc xây dựng bộ môn nghiệp vụ sư phạm cho trường Đại học Sư Phạm nói chung và cho khoa Tâm lý – Giáo dục học nói riêng.
Trong hội thảo về nhà sư phạm mẫu mực Nguyễn Hữu Tảo – nhân kỷ niệm 95 năm ngày sinh của thầy (1900-1995), nhà giáo nhân dân GS Nguyễn Lân đã phát biểu:
Cả một cuộc đời tận tụy với nghề, với học sinh, sinh viên đồng thời lại là một cán bộ tiêu biểu trong chế độ ta về đạo đức cách mạng, cụ Nguyễn Hữu Tảo xứng đáng được nhà nước tuyên dương để nêu lên một điển hình về người thầy giáo gương mẫu về mọi mặt.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ.