Nguyễn Lân (1906 – 2003)

Nguyễn Lân (1906 – 2003)

Thông tin cơ bản

Nhận định 

Nhân dịp Giáo sư, Nhà giáo Nhân dân Nguyễn Lân 90 tuổi, Giáo sư Vũ Khiêu đã viết tặng đôi câu đối:

Bác cổ thông kim chân trí giả;
Hiền mô, thánh phạm hiển nhân sư.

Tạm dịch:

“Am hiểu chuyện xưa, tỏ tường việc nay đúng là bậc trí thức chân chính; tư cách người hiền, phong phạm bậc thánh, xứng danh là người thầy giáo mẫu mực”.

Khi thầy mất, Tổng bí thư Nông Đức Mạnh đã ghi vào sổ tang:

Lòng yêu mến Quốc Văn và đạo đức người thầy suốt đời gắn bó với sự nghiệp giáo dục của GS – NGND Nguyễn Lân là tấm gương sáng cho các thầy cô giáo trong sự nghiệp phát triển nền giáo dục nước nhà thời kỳ đổi mới.

Một người thầy đã sống và cống hiến cho sự nghiệp giáo dục nước nhà như nhà giáo Nguyễn Lân thật đáng quý biết chừng nào.

Chân dung thầy Nguyễn Lân

Thầy Nguyễn Lân quê ở thôn Ngọc Lập, xã Phùng Chí Kiên, huyện Mỹ Hào (Hưng Yên), sinh ngày 14/6/1906, là con trai của cụ Nguyễn Xuân Thiều. Thuở nhỏ thầy theo học chữ Hán với cụ Đồ Cự ở làng Phù Lưu (còn gọi là Chợ Giàu). Hình ảnh người thầy dạy học đầu tiên, sau này được thầy đưa vào trong tiểu thuyết Cậu bé học trò với tên nhân vật Nghè Nhân. Thật cảm động, sau này khi đã ở tuổi chín mươi, nhưng thầy vẫn nhớ như in trong óc về người thầy đầu tiên:

Tuy không đỗ đạt cao, nhưng nhờ có vợ quanh năm tảo tần, buôn bán nuôi con, nuôi chồng nên thầy nhận một số học sinh về nhà dạy chữ. Nhà thầy có hai gian, một gian nhà trên và một gian nhà ngang. Lớp học đặt ở gian nhà ngang. Tuy học trò chỉ có dăm bảy trẻ nhỏ nhưng mỗi buổi dạy bao giờ thầy cũng chít khăn lược, áo dài nghiêm chỉnh. Thầy ngồi trên một chiếc phản gỗ trước mặt có án thư để sách bút. Học trò ngồi ở phía dưới trên hai chiếc chiếu liền. Thầy đồ Cự giảng dạy hết sức nhiệt tình. Học sinh ngồi im phăng phắc, rất kính trọng thầy, không đứa nào dám nghịch ngợm. Thầy gọi một em lên đọc bài, nếu không thuộc thì nhỏ nhẹ dạy dỗ, hỏi han. Không bao giờ thầy đòi hỏi gì ở các bậc cha mẹ và các em học sinh. Hàng năm cứ vào khoảng tết Đoan ngọ, mẹ tôi đem một thúng gạo đến biếu thầy.

Học với cụ Đồ Cự được một năm thì bố mẹ cho thầy học trường Pháp – Việt cạnh phủ đường phủ Từ Sơn. Nhưng chẳng may, lúc này mẹ thầy mất vì bệnh lao, gia đình lâm vào cảnh túng quẫn. Có lẽ thầy sẽ nghỉ học, nếu không có sự giúp đỡ của anh họ bấy giờ đang là thư ký của Sở Xi măng Hải Phòng. Ông anh này đưa thầy xuống đó và “tài trợ” cho thầy được theo học tại trường Pháp – Việt ở phố Bonnal.

Ít lâu sau, ông anh này mất cũng vì bệnh lao, thầy được ông anh cả đem vào Đề Gi (nay thuộc Bình Thuận) cho theo học trường dòng Gagelin.

Trong kỳ thi tiểu học, bấy giờ tổ chức tại Quy Nhơn với đầu đề bài luận Pháp văn: “Hãy tả lại những gì anh đã thấy trong tỉnh của anh”, thầy đã được chấm với số điểm cao nhất và đậu đầu. Trở ra Bắc, thầy thi vào trường Bưởi và được nhận học bổng toàn phần.

Trong Hồi ký Giáo dục, thầy có kể:

Khi còn là học sinh trường Bưởi, tôi đã ham thích Việt văn, lại được có những người thầy như cụ Dương Quảng Hàm, trong mỗi tuần lễ chỉ có hai giờ Quốc văn, cũng đã cho tôi thấy cái phong phú của nền văn học Việt Nam, về cái đẹp của tiếng Việt. Mặc dù nhà trường không cho phép chúng tôi đọc sách tiếng Việt, chúng tôi vẫn cứ đem sách Quốc văn lên phòng ngủ mà đọc, rồi lại chuyền tay nhau một tờ báo viết tay. Tự nhiên tôi có hướng thích viết văn và đã sáng tác được quyển Cậu bé nhà quê. Tôi xin tiền chị dâu tôi được một trăm đồng và cho xuất bản ở nhà in của tờ báo Argus.

Quyển tiểu thuyết này in năm 1925, thầy ký bút danh Từ Ngọc, được Alfred Bouchet dịch ra tiếng Pháp với nhan đề Le petit campagnard, “thể hiện rõ khát vọng nhân đạo của tác giả trước cuộc đời bất hạnh, rủi ro của trẻ em nghèo, được coi như là mở đầu cho đề tài nông thôn, có khuynh hướng hiện thực của tiểu thuyết Việt Nam hiện đại” (Từ điển văn học bộ mới, tr. 1898).

Sau khi tốt nghiệp trường Bưởi thầy dự định thi vào trường Cao đẳng Sư phạm Đông Dương. Nhưng bấy giờ nhà nghèo, chỉ mỗi bộ quần áo vải ta thì làm sao có thể sánh với các bạn sinh viên khác phần lớn đang mặc Âu phục? Nghĩ thế, thầy xin đi dạy trường tư thục ở phố Lamblot (nay phố Lý Quốc Sư). Đó là năm 1927. Hai năm sau, thầy thi đậu vào trường Cao đẳng Sư phạm ở phố Bobollot (nay là phố Lê Thánh Tông) và cũng nhận được học bổng. Thời gian này, ngoài thời gian miệt mài học tập, thầy còn cộng tác viết bài cho báo AJS (Ami de la jeunesse studieuse) và báo Phụ nữ thời đàm.

Năm 1932, thi tốt nghiệp thầy đậu thủ khoa.

Sự nghiệp nghiên cứu, biên soạn và cống hiến cho tiếng Việt

Sau nhiều năm xa nhà, được phân công giảng dạy ở Trường Đại học Sư phạm mới thành lập, thầy rất vui và nghĩ mình sẽ được phân công giảng dạy môn Văn, nhưng không, ngày kia thầy hiệu trưởng Phạm Huy Thông bảo:

Một trường sư phạm tất nhiên phải có môn về khoa học giáo dục. Nay chỉ có mình bác đã dạy Giáo dục học thì theo ý tôi, bác nên nhận làm tổ trưởng bộ môn này.

Trước lý lẽ này, thầy không thể từ chối. Thời kỳ này, thầy đã cố gắng biên soạn một số sách nhằm phục vụ cho công việc giảng dạy như Lịch sử giáo dục học thế giới (1958), Người thầy giáo xã hội chủ nghĩa (1960), Giảng dạy trên lớp (1960), Công tác chủ nhiệm (1962)… Ngoài ra, thầy còn cộng tác với các thầy cô trong tổ để biên soạn Giáo trình giáo dục học, Thuật ngữ tâm lý – giáo dục (1967)…

Thầy còn cho biết thêm:

Nhận thấy rằng sinh viên và học sinh các trường không có một từ điển tiếng Việt nào để tra cứu, một số chúng tôi đã quyết định cùng họp lại để giải quyết sự thiếu thốn ấy. Vì thế năm 1969, quyển Từ điển Tiếng Việt đầu tiên của chế độ ta đã được ra mắt bạn đọc…

Có thể nói, thầy đã làm tròn nhiệm vụ “trồng người” cho đến lúc xin nghỉ hưu.

Với nhiều người, khi nghe tin về nghỉ hưu thì lấy làm lo lắng vì không biết từ đây mình làm gì để có thu nhập? Nhưng với thầy Nguyễn Lân thì không. Trong Hồi ký Giáo dục, thầy tâm sự:

Sau khi về hưu tôi đã cùng một số anh em soạn quyển Từ điển Pháp – Việt do tổ chức hợp tác văn hóa và kỹ thuật ACCT xuất bản tại Paris năm 1981. Năm 1989, tôi cho xuất bản quyển Từ điển từ và ngữ Hán – Việt tại Thành phố Hồ Chí Minh. Cũng năm 1989, tôi cùng giáo sư Lê Khả Kế cho xuất bản quyển Từ điển Việt – Pháp. Cũng trong năm ấy tôi cho xuất bản quyển Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam. Năm 1993, quyển Từ điển thành ngữ và tục ngữ Pháp – Việt được xuất bản tại Nhà xuất bản Giáo dục. Năm 1994, Nhà xuất bản Văn học cho ra mắt quyển Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt – Pháp của tôi. Trước sau tất cả 9 quyển từ điển.

Riêng về quyển Từ điển thành ngữ và tục ngữ Việt Nam, thầy cho biết:

Trong thời kỳ kháng chiến chống Mỹ, chúng tôi có dịp đưa sinh viên đi sơ tán về miền quê. Sau một thời gian chung sống với bà con nông dân, anh chị em đã rút ra được một kết luận là ngôn ngữ của bà con, nhất là của những cụ già, không phải là “quê mùa” như trước đây mọi người vẫn tưởng, mà trái lại, rất văn vẻ, có nhiều màu sắc, nhiều hình tượng. Chính là vì trong những câu chuyện hằng ngày, bà con thường dùng những thành ngữ và tục ngữ là cái vốn vô cùng phong phú, vô cùng quý giá của tiếng nói dân tộc, được truyền miệng từ đời này sang đời khác, qua hàng nghìn năm lịch sử.

Không chỉ nghe mà thầy còn ghi chép lại để sau này viết thành quyển từ điển, giải thích như ta đã biết. Một đời người làm được chừng ấy việc quả là một sức lao động phi thường. Khi ở tuổi 90, thầy vẫn chưa cho phép mình được nghỉ ngơi, thầy còn bắt tay vào soạn quyển Từ điển từ và ngữ Việt Nam. Bộ sách này dày 2.111 trang ra đời năm 2000 là một cống hiến to lớn của gần năm năm trời làm việc khi thầy đã ở tuổi 94. Đây cũng là một trong những quyển sách đồ sộ mà thầy được trao giải thưởng Nhà nước về công trình Khoa học.

Với những cống hiến to lớn, thầy được Huân chương kháng chiến hạng nhất (1962), Huân chương Độc lập hạng nhì (1991), phong danh hiệu Nhà giáo Nhân dân (1988), học hàm Giáo sư đợt 1 (1980).

Người thầy và ảnh hưởng đối với học trò, gia đình

Để đạt được điều này, thiết tưởng ta không thể không nhắc đến công lao giảng dạy của các bậc thầy mà thầy được thọ giáo thuở còn trai trẻ. Bởi người thầy có ảnh hưởng rất lớn đến sự hình thành trí tuệ và nhân cách của học trò, là tấm gương sáng để học trò noi theo.

Thầy kể:

Lên ban trung học, tôi may mắn được học thầy Dương Quảng Hàm. Thầy là một nhà giáo mẫu mực và dạy giỏi, nhiệt thành với học sinh, có phong cách làm việc khoa học, có cách ăn mặc, cư xử đầy tính sư phạm. Nhà thầy ở Hàng Bông, hàng ngày thầy vận Âu phục, đeo cà-vạt nghiêm chỉnh và đạp xe lên trường Bưởi dạy học. Thầy tôn trọng và bảo đảm giờ giấc chuẩn xác như một chiếc đồng hồ sống. Mỗi buổi vừa đúng lúc thầy đến cổng trường là tiếng trống vào lớp điểm lên rộn rã. Thầy bước đi đàng hoàng tới cửa lớp bảo: “Entrez! (Vào!)”. Mỗi tiết học thầy giảng say sưa, hay lắm… Những kiến thức cơ bản về văn học Việt Nam mà tôi có được phần lớn là học ở thầy Hàm.

Sau này khi vào trường Cao đẳng Sư phạm, tôi lại được học cụ Phó bảng Bùi Kỷ. Cụ không ra làm quan mà chỉ theo nghề dạy học. Những năm tháng này, thầy Bùi Kỷ đã bồi đắp cho tôi lòng yêu thích môn tiếng Việt và truyền bá cho tôi những tư tưởng yêu nước, tiến bộ. Đây là những người thầy đã có ảnh hưởng sâu sắc đến tư tưởng, tình cảm của tôi. Cuộc đời tôi trở thành nhà giáo chính là học ở tấm gương các thầy. Sau này khi ra trường đi dạy học, bao giờ tôi cũng nhớ tới các thầy và tâm niệm mình cố gắng sẽ được như các thầy.

Noi gương các thầy đã dạy mình nên người, thầy Nguyễn Lân cũng thực hiện trọn vẹn ước mơ ấy. Thật khó có thể kể hết những nhân tài của đất nước đã được thầy đào tạo trong suốt một đời làm nghề “trồng người”. Và trong gia đình thầy, cả 8 người con của thầy đều trưởng thành và trở thành người sống có ích cho xã hội. Đó là GS.TS Nguyễn Lân Tuất, nữ TS Nguyễn Tề Chỉnh, GS.TS Nguyễn Lân Dũng, TS. Nguyễn Lân Cường, giảng viên Nguyễn Lân Hùng, TS Nguyễn Lân Tráng, PGS.TS Nguyễn Lân Việt, TS Nguyễn Lân Trung.

Ngày thầy Nguyễn Lân mất, GS Nguyễn Lân Dũng phát biểu trong tang lễ cha mình:

Ba ra đi không để lại của cải vật chất gì cho con cháu, vẫn căn hộ nhỏ 13m² trên tầng hai khu tập thể Kim Liên được phân phối hồi nào. Nhưng ba đã để lại cho các con các cháu di sản tinh thần, một niềm tin vào chân, thiện, mỹ. Ba đã truyền cho chúng con ý chí học tập vươn lên không ngừng để trở thành người có ích cho đất nước.

Di sản

Khi thầy về cõi trăm năm, theo ý nguyện của thầy, con cháu đã đưa thầy về quê nhà, an táng tại nghĩa trang xã Phùng Chí Kiên, cạnh mồ người vợ mà thầy vô cùng yêu quý. Đối với ngành giáo dục nước nhà, ngoài sự nghiệp “trồng người”, thầy còn để lại một tấm lòng, một tình yêu vô bờ bến dành cho tiếng Việt. Tình yêu ấy thể hiện qua nhiều công trình biên soạn có giá trị, các thế hệ sau có thể vận dụng để hiểu thêm, yêu thêm cái hồn trong sáng của tiếng Việt.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Nguyễn Lân

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)