Phan Ngọc Hiển (1910 – 1941)

Phan Ngọc Hiển (1910 – 1941)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Tập truyện ngắn Ngọn đèn không tắt của Nguyễn Ngọc Tư đoạt giải nhất Cuộc vận động sáng tác văn học tuổi hai mươi do Nhà xuất bản Trẻ, Hội Nhà văn và báo Tuổi trẻ tổ chức. Trong truyện này, tác giả kể về cô gái tên Tươi, từ thuở bé đã từng nghe ông nội là ông Hai Tương kể về chuyện khỏi nghĩa ở Hòn do thầy chỉ đạo. Nhưng cụ thể là Hòn nào ở Cà Mau, và thầy đã lãnh đạo cuộc khởi nghĩa này tên gì thì tác giả không viết cụ thể. Ngày nọ ông nội của Tươi bảo với nó:

– Tao thương thầy quá. Nhớ thầy quá. Tao thèm gặp thầy, gặp anh em.

“Đâu ngờ cái lần nội nói đó, nội đi gặp thầy thiệt. Xóm Rạch vắng một người già cỗi cần ngồi hát sử hận, mấy ông làm phim, viết sử tiếc đứt ruột ông già sống qua những tháng năm biến động và nhứt là đã trải qua cuộc khởi nghĩa trên Hòn”. Nhưng rồi, khi đến ngày kỷ niệm, người ta lại mời ông Hai Tương đi kể chuyện khởi nghĩa! Nhưng ông đã ra người thiên cổ rồi thì lấy ai mà kể? Thì con Tươi chứ còn ai nữa. Bởi thuở nhỏ đã từng nghe ông nội kể đi kể lại cuộc khởi nghĩa này đến nỗi nhớ nằm lòng. Nguyễn Ngọc Tư viết lúc Tươi đến họp:

Tới cuối buổi họp thì cô gái nhỏ xíu trẻ măng ngồi cuối bàn đằng này được phát biểu: Cũng tại cô ngồi khuất sau cây phát tài nhựa nên khó thấy cô. Cô có nước da đen giòn miền biển, đôi mắt mở lớn bẽn lẽn:

– Dạ, con xin nói thêm về khởi nghĩa đó.

– Ủa, cô có tham gia hả?

– Dạ, ông nội con.

– Dà, sao cô biết?

– Dạ…

Cô gái miết tay lên cạnh bàn có vẻ bối rối. Có nhiều người ngồi quanh đây cô không quen.

– Dạ, ông nội con kể, ông nội con là ông Hai Tương. Nội con còn viết tuồng Sử hận nữa, mấy chú có nghe hát tuồng đó chưa?

Ở bác Hai Tương tôi thương lắm nghen. Ông kể chuyện mê ly mà chính xác lắm. Còn tuồng thì nghe nói thôi, thiệt thì chưa.

– Con hát nghen?

– Thôi đừng hát, kể sử đi.

– Dạ thưa ông bác Ba, ông bác Chín, thưa mấy chú, con nói hơi dài được không?

Ông chủ tọa coi đồng hồ cười:

– Bây giờ cũng còn sớm. Chuyện của cô dài cỡ bao nhiêu? Cô mà kể hay, tới chiều tôi cũng nghe.

Dạ – cô đằng hắng – Thầy được Đảng phân công về xóm Rạch năm một ngàn…

Đó là câu chuyện của cô, của ông nội cô, của những người xóm Rạch. Họ kể chuyện đó bao nhiêu lần rồi? Các nhà viết sử nghe bao nhiêu lần rồi? Nhiều lắm, nhiều không kể được. Cô gái nói lời của ba cô năm trước, nói lời của ông nội cô năm trước, năm trước nữa. Cô nói lời của lịch sử. Mà lịch sử là thứ không thay đổi. Nhưng trong lời của cô có cái nhiệt tình tuổi trẻ, trong mắt cô có mầu đen sẫm của vốc đất bãi bùn, và cô dựng xương thịt cho cuộc khởi nghĩa bằng nét mềm mại của người con gái nên câu chuyện của cô rất sâu sắc và thu hút người khác.

– Mấy chú coi con kể có sai chỗ nào không?

– À, không, hay lắm, rất hay. Cô học tới lớp mấy?

– Dạ, lớp 9, xã con dạy tới bao nhiêu đó thôi.

– Cô tên gì nhỉ?

– Dạ Tươi. Ông nội con tên Tương, ba con là Lai, hai chị em con là Tươi, Sáng.

– Tên cũng hay lắm. Tươi có biết thầy không?

– Biết. Con thương thầy như nội con vậy.

– Tôi ngạc nhiên đó. Cuộc khởi nghĩa với cô cực kỳ mơ hồ vậy mà cô nói chuyện như thể đã từng sống với thầy vậy. Thầy rất đẹp phải không?

– Dạ, bà nội con nói thầy đẹp trai lắm. Con trai xóm Rạch bây giờ không ai bằng. Thầy là đàn ông mà thầy còn biết thêu.

– Thêu à? Ôi chuyện đó tôi chưa nghe nói bao giờ, mấy chú có nghe không?

– Không.

– Có.

– Ở hình như có.

– Tôi gặp ông nội cô ba lần, chưa lần nào ổng kể tôi nghe. Tại sao cô biết?

– Bà nội con kể. Bà nội con là đàn bà nên mới nhớ lâu chuyện đó. Bà nội con đã có lần thêu chung áo gối với thầy.

– Chung à? Thêu gì?

– Uyên ương. Chú có coi Tô Ánh Nguyệt không? Trong đó có hát vầy nè: “Uyên ương có bạn có đôi…”, cái áo gối đó tới giờ bà nội con vẫn còn giữ, nó hơi cũ. Nhưng ông nội con nói tội nghiệp bà nội bây, uyên ương gãy cánh giữa trời dông…

– Cháu làm chúng tôi xúc động đây. Thôi cháu kể sử tiếp. Tới đoạn đêm khởi nghĩa.

– Dạ nội con nói sau khi giết xong chúa đảo (đêm đó trăng sáng như ban ngày), bắt hai má con cô Đầm xuống bãi, thầy biểu mấy chú, à không mấy ông chú giữ đèn hải đăng cho nó đừng tắt. Và khi chiếc tàu chạy vào xóm Rạch rồi, ngọn hải đăng vẫn với nhìn theo cháy hoài, cháy hoài, cháy hoài…

Đọc xong truyện ngắn này, ta ít nhiều liên tưởng đến cuộc khởi nghĩa Hòn Khoai do thầy Phan Ngọc Hiển lãnh đạo năm 1940. Đó là niềm tự hào của người dân Cà Mau nhiều thế hệ. Với truyện ngắn trên, nhà văn Sơn Nam nhận xét: “Cô kể một cách hồn nhiên, như đứa cháu nội nhắc nhở kỷ niệm xưa, gọi thầy giáo là Thầy, không có tên Phan Ngọc Hiển kèm theo, vì kính nể, vì chẳng lầm lẫn với ai khác, vào bối cảnh xưa. Không phải tất cả dân dự buổi nói chuyện kỷ niệm khởi nghĩa, nhưng có đủ lứa tuổi tham dự. Người trong cuộc đã chết, người nghe trực tiếp thời ấy cũng chết vì quá già. Thế hệ trẻ chỉ mò mẫm, ráp nối với đôi chi tiết sống động, gây bâng khuâng. Khi khởi nghĩa thành công trên đảo mà Pháp đặt ngọn hải đăng, Thầy rút lui và căn dặn mấy người Việt làm công ở đảo phải giữ ngọn hải đăng, đừng cho tắt. Về kỹ thuật bạo động, tôi suy luận, giữ cho hải đăng còn cháy để quân Pháp khi nhìn ra biển, ngỡ rằng ngoài đảo không có gì xảy ra. Nhưng ánh sáng của ngọn đèn ấy không bao giờ tắt lại là niềm tin mãnh liệt mãi đến mai sau”. Ngoài ra, cũng chính lòng tự hào về cuộc khởi nghĩa này mà các nhà làm phim truyền hình hoàn thành bộ phim “Lời thề đất Mũi” phát sóng trên truyền hình.

Quê quán – thân thế

Thầy Phạm Ngọc Hiển sinh năm 1910 tại xóm Thới Bình, Cái Khế, tỉnh Cần Thơ (nay là thành phố Cần Thơ) thường gọi là giáo Hiển. Cha mẹ mất sớm, nhà nghèo, tuổi thơ của thầy trải qua nhiều bất hạnh. Được chị nuôi ăn học, thầy thi đậu vào trường Sư phạm Sài Gòn, năm 1926 do tham dự lễ truy điệu chí sĩ Phan Chu Trinh nên bị đuổi học. Sau đó thầy được cho đi học lại, nhưng bị theo dõi và hăm dọa. Đến khi tốt nghiệp, thầy bị điều đi dạy học ở vùng xa xôi, hẻo lánh tại miền Tây. Năm 1931 thầy dạy học ở Rạch Gốc, xóm Tân An ở mũi Cà Mau. Tại đây thầy hết lòng giáo dục học sinh và nhân dân trong vùng về tinh thần yêu nước, đấu tranh chống áp bức bóc lột.

Hoạt động giáo dục và cách mạng

Trong thời gian này, ngoài việc dạy học thầy còn viết báo, viết văn, làm thơ. Một trong những bài thơ của thầy mà người ta còn nhớ:

Anh không thể nào lưu luyến với em mãi
Em yêu anh sao bằng 25 triệu đồng bào
Nếu ngày nào đời anh là đời đau khổ
Một mình em không thể an ủi được lòng
Thôi đi, em có yêu anh hãy trông vào Tổ quốc
Có nhớ đến anh hãy ngó lại đồng bào

Những vần thơ này có thể được thầy viết sau khi tiếp xúc với các chiến sĩ cộng sản và khoảng tháng 3.1936 thầy được kết nạp vào chi bộ Đảng ở thị trấn Cà Mau. Là một nhà giáo yêu nước, thầy không chỉ giáo dục truyền thống hào hùng cho thế hệ học trò, mà bản thân thầy cũng nối bước theo truyền thống ấy.

Dấu ấn rực rỡ nhất trong cuộc đời thầy là đã cùng các chiến sĩ cộng sản tấn công Hòn Khoai. Dù ngay sau đó cuộc khởi nghĩa bị kẻ thù phản công, dìm trong máu, nhưng hành động oanh liệt này đã đánh thức trong quần chúng về tinh thần yêu nước. Trong dịp kỷ niệm 50 năm ngày khỏi nghĩa Hòn Khoai, ông Nguyễn Văn Đáng – Bíthư tỉnh ủy Minh Hải (hiện nay là Cà Mau – Bạc Liêu) cho biết:

Lúc bấy giờ đồng chí Bông Văn Dĩa mang lệnh khởi nghĩa của Tỉnh ủy Bạc Liêu truyền đạt cho đồng chí Phan Ngọc Hiển và chi bộ nơi đây. Ngay sau đó, những người cộng sản và quần chúng nhân dân đã bắt đầu vào cuộc chiến đấu sinh tử với quân thù. Đúng 11g 15 phút đêm 13/12/1940 tại tháp hải đăng, nghĩa quân xông lên giết tên thực dân Pháp Olivier chúa đảo, thu gom vũ khí chở về xóm Rạch Gốc, chiếc nôi của cuộc khởi nghĩa. Lần đầu tiên nhìn thấy lá cờ đỏ búa liềm, đồng bào Tân An vô cùng sung sướng, tưởng chừng như từ đây được “đổi đời” thoát khỏi cảnh đọa đày, nô lệ.

Sau khi giành thắng lợi ở Hòn Khoai, các chiến sĩ về đất liền tiếp tục chiến đấu, tấn công một số vị trí ở Tân An và chặn đánh bọn Pháp chi viện. Nhưng vì cuộc khởi nghĩa ở các khu vực khác trong tỉnh gặp khó khăn, tương quan lực lượng giữa ta và địch lúc ấy quá chênh lệch, liên lạc giữa các khu vực, các đơn vị không đảm bảo nên các chiến sĩ Khỏi nghĩa Hòn Khoai sa vào thế bị bao vây và bị địch bắt, tra tấn cực kỳ dã man. Thực dân Pháp đã xử bắn 10 chiến sĩ Hòn Khoai tại sân banh chợ Cà Mau vào sáng ngày 12/7/1941. Đó là ngày đau thương, uất hận mà cho đến hôm nay, chúng ta như vẫn còn nhớ mãi hình ảnh và khí phách anh hùng của đồng bào, đồng chí đã anh dũng hy sinh, tiêu biểu là đồng chí Phan Ngọc Hiển và các chiến sĩ Khởi nghĩa Hòn Khoai. Sau cuộc khởi nghĩa, nhiều đồng chí, đồng bào ta bị địch bắt, tra tấn vô cùng dã man, nhiều người bị lưu đày đến các nhà tù. Đồng chí Trần Văn Thời, bí thư Tỉnh ủy Bạc Liêu bị giam giữ và hy sinh tại Côn Đảo. Nhưng các đồng chí còn lại vẫn một mực trung thành với cách mạng.

Nhiều đồng chí bị địch đưa ra pháp trường vẫn hiên ngang mắng vào mặt kẻ thù, giữ vững khí phách kiên cường của người cộng sản.

Di sản 

Nhân kỷ niệm 60 năm ngày khởi nghĩa Hòn Khoai, Tổng cục Bưu điện phát hành bộ tem “Kỷ niệm 60 năm ngày khởi nghĩa Hòn Khoai (13/12/1940 13/12/2000)”. Thể hiện toàn cảnh Hòn Khoai – một hòn đảo nổi giữa biển xanh với thế đứng hiên ngang của ngọn Hải đăng đêm, ngày phóng tầm nhìn giữ bình yên cho biển trời Tổ quốc. Ở đó, có tượng đài chiến thắng Hòn Khoai, cao lớn sừng sững giữa trời xanh, một biểu tượng anh hùng của miền đất mũi Cà Mau như gọi về khí phách anh dũng chiến đấu, hy sinh của đồng bào, chiến sỹ đảo Hòn Khoai trong cuộc trường chinh đánh giặc giữ nước.

Ngày thầy Phan Ngọc Hiển bước ra pháp trường, nhà văn Sơn Nam kể lại:

Hôm ấy, như là ngày chủ nhật, một số học sinh nội trú xin ra trường chơi. Tôi và vài người bạn đến chứng kiến. Vào lúc hừng sáng, đồng bào qui tụ khá đông. Tôi nhớ là pháp trường dựng ở sân vận động tỉnh. Ráng chen vào nhưng khó chen. Thấy phía trước khá đông người, có đàn bà, ông lão, đoán chừng là thân nhân của tử tội. Lát sau, xe ô tô đưa tới ba người, bị còng tay, dường như đã bịt mắt sẵn. Buộc vào ba cây trụ. Các tội nhân đi chậm rãi, tỉnh táo. Lính sắp hàng, bồng súng lên. Một sĩ quan Pháp rút gươm hô khẩu lệnh. Súng nổ, tội nhân ngã gục, họ được hưởng thêm phát súng lục “ân huệ”. Đồng bào từ từ về, nói chuyện rì rào. Có người bảo thầy giáo Phan Ngọc Hiển là người đứng giữa, tại pháp trường… Bấy lâu, tận nơi xa xôi của Tổ quốc ta, lòng yêu nước của người dân quê, đa số thất học, chỉ dựa vào thần tượng Nguyễn Trung Trực, nay có thần tượng cụ thể là Phan Ngọc Hiển.

Hành động can trường của thầy Phan Ngọc Hiển khiến ta lại nhớ đến hình ảnh của thầy Phạm Văn Nghị ở cuối thế kỷ XIX. Đó là những người thầy không chỉ dạy suông trên lý thuyết mà đã thật sự dấn thân vào cuộc kháng chiến như tiền nhân. Hiện nay, tên thầy được đặt cho một huyện cực Nam nước ta tại Cà Mau, tức là huyện Ngọc Hiển.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Phan Ngọc Hiển

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)