Phạm Văn Nghị (1805 – 1884)

Phạm Văn Nghị (1805 – 1884)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Nhà giáo, nhà văn hóa Nguyễn Văn Tố cho biết:

Tôi nhớ ngày trước tôi đến học thầy đồ. Thầy kiêm thông cả Pháp văn. Một hôm tôi hỏi: “Thưa thầy, học cái gì khó?”. Thầy dạy rằng: “Học cách làm người, học để giúp ích cho nhà, cho nước, cho đồng bào, học bao giờ biết được những việc gì là hay, là phải… Ngẫm ra lòi dạy ấy ngày nào cũng hợp.

Và ở người học trò, một khi đã được trang bị mục đích, chí hướng ấy trong việc học tập thì khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng “xếp bút nghiên” để lên đường cứu nguy cho nước. Ở thế kỷ XIX có một nhà giáo không chỉ giáo dục cho các môn sinh tinh thần cao đẹp ấy, mà còn là người hăng hái đi đầu. Đó là thầy Phạm Văn Nghị.

Cuộc đời 

Thầy Phạm Văn Nghị, hiệu Nghĩa Trai sinh ngày 24/12/1805, là con trai của ông bà cụ Phạm Văn Căn và Bùi Thị Phiến. Về sau, người đòi gọi thầy là Hoàng giáp Tam Đăng, vì dưới thời vua Minh Mạng thầy thi đậu Hoàng giáp, quê ở Tam Đăng (nay thuộc huyện Nghĩa Hưng, tỉnh Nam Định). Tương tự, người ta cũng gọi cụ Nguyễn Khuyến là Tam Nguyên Yên Đổ, hoặc gọi cụ Trần Bích San là Tam Nguyên Vị Xuyên… là vậy. Thuở ấy, nhà của thầy rất nghèo. Tương truyền có lần do nhà bị cháy, bố con thầy trong mấy tháng liền phải ăn gạo rang để “dùi mài kinh sử”. Và cũng vì nghèo mà năm 16 tuổi thầy vừa đi học, vừa đi dạy để tự túc thêm, ai cũng khen là người có chí. Lòng hiếu học của thầy được đền bù xứng đáng, năm 21 tuổi thầy đậu Tú tài; năm 32 tuổi đậu Cử nhân; qua năm sau đậu nhị giáp Tiến sĩ (tức Hoàng giáp) và được triều đình cử làm tu soạn Viện Hàn lâm, tham gia soạn bộ Khâm định tập văn trích yếu.

Làm quan vì dân

Năm 1839, lúc 34 xuân, thầy được bổ làm Tri huyện Lý Nhân (thuở ấy thuộc Hà Nội gồm năm huyện Kim Bảng, Thanh Liêm, Duy Tiên, Bình Lục, Nam Xang). Thi đậu rồi ra làm quan là con đường tiến thân của kẻ sĩ ngày trước. Có người ra làm quan chỉ nhằm đục khoét dân đen đặng làm giàu, nhưng cũng có người canh cánh lo âu vì dân.

Với thầy Phạm Văn Nghị lúc ra làm quan, thầy quán xuyến mọi việc, không để cho bọn nha lại dưới quyền hạch sách, đòi đút lót. Có người phàn nàn cùng thầy:

Tâm tính của đại nhân như thế thì thử hỏi lấy gì để chỉ dùng, trong khi gia đình của đại nhân còn thiếu trước hụt sau. Hơn nữa bọn nha dưới quyền của đại nhân chỉ uống nước lã làm việc ư?

Thầy nhỏ nhẹ giải thích:

Ta chỉ là người lạm giữ chức vụ là cha mẹ của dân. Thử hỏi, trong thiên hạ, có cha mẹ nào tìm cách cướp đoạt gia sản của con không?

Nghe thầy đáp khẳng khái như thế, về sau không ai dám đến “nhỏ to” với thầy nữa. Lúc đê bị vỡ, thầy lo lắng soạn sáu chương “Vua bảo” để tự răn mình và trong “Tự ký” thầy cho biết thêm:

Tôi vốn bị Án sát họ Lương ghét, vì thế bị đưa ra nghị tội, chưa kịp dâng lên thì Hoàng thượng (Minh Mạng) mất. Hiến tổ hoàng đế (Thiệu Trị) lên ngôi, các quan bộ Lại, bộ Công bàn phạt giáng bốn cấp và điều đi. Nhà vua cho rằng mưa lụt là thiên tai, sức người không thể chống lại, đổi phạt giáng ba cấp và giữ lại. Sau đó, Tham tri bộ Hình họ Bùi thấy tôi có thể làm được công việc khoa đạo, đã đề cử tôi. Ngày vào triều kiến, Hoàng thượng vì có quốc tang, ngự ở điện Văn Minh. Đọc lý lịch xong, vua quay ra bảo các thị thần:

Phạm Văn Nghị trong việc trị dân bị nhiều giáng phạt, nhưng người có học thức, cùng đỗ Tiến sĩ với Nguyễn Cửu Trường. Nay mới lập Sử quán, có thể cho giữ chức ở đó.

Tôi được phê cho thăng Hàn lâm thị độc, làm biên tu ở Sử quán. Ở Quán năm năm, những lúc thư rỗi thường dạy học, học trò nhiều người thành đạt.

Đúng vậy, Phó bảng Đỗ Huy Uyển cũng cho biết:

Học trò của tiên sinh có đến hàng trăm, hàng nghìn, kẻ văn người võ đều tài cán, giỏi giang. Bậc hiền nhân quân tử đều khen, cũng chẳng phải nhiều lòi mói rõ.

Sự nghiệp giáo dục

Nhà giáo, nhà văn hóa Nguyễn Văn Tố cho biết: “Tôi nhớ ngày trước tôi đến học thầy đồ. Thầy kiêm thông cả Pháp văn. Một hôm tôi hỏi: “Thưa thầy, học cái gì khó?”. Thầy dạy rằng: “Học cách làm người, học để giúp ích cho nhà, cho nước, cho đồng bào, học bao giờ biết được những việc gì là hay, là phải… Ngẫm ra lòi dạy ấy ngày nào cũng hợp”. Và ở người học trò, một khi đã được trang bị mục đích, chí hướng ấy trong việc học tập thì khi đất nước lâm nguy, họ sẵn sàng “xếp bút nghiên” để lên đường cứu nguy cho nước.

Ở thế kỷ XIX có một nhà giáo không chỉ giáo dục cho các môn sinh tinh thần cao đẹp ấy, mà còn là người hăng hái đi đầu. Đó là thầy Phạm Văn Nghị. Năm 1858, ngay khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng, thầy đã căm thù giặc đến độ “tóc dựng đứng mũ”. Không thể “mũ ni che tai”, bình tâm cắm mặt xuống những trang sách của thánh hiền, thầy đã tập hợp những người cùng chí hướng, kêu gọi các môn sinh cùng tình nguyện vượt thác băng ghềnh vào “chia lửa” với dân quân Đà Nẵng anh hùng. Đoàn ứng nghĩa do thầy chỉ huy xuất phát từ Nha học chính Nam Định, có hơn 345 người, chia làm 7 đội và phân ra thành 3 đội tiền, trung, hậu. Trước ngày lên đường, đoàn được nhân dân ủng hộ hơn một vạn quan, dùng cho việc quân nhu, cấp dưỡng binh lính. Ngày 21/3/1860, đoàn ứng nghĩa đã đặt chân đến kinh đô Huế. Nhưng lúc ấy, quân giặc đã rút khỏi Đà Nẵng để tập trung đánh Gia Định.

Khí thế đang hăng, thầy quyết đưa đoàn vào Nam chiến đấu, nhưng hành động nghĩa hiệp này đã không được vua Tự Đức ủng hộ. Lấy có sợ quân sĩ gian lao trên vạn dặm đường xa nên nhà vua buộc thầy phải dẫn đoàn trở ra Bắc! Trong cuộc trùng phùng với bầy tôi, vua Tự Đức – một quân vương hay chữ nhất của triều Nguyễn – ra để Thoái lỗ ca (Bài ca lui giặc) để cùng nhau xướng họa. Thầy Phạm Văn Nghị đã dâng lên nhà vua bài thơ, trong đó có những câu khí phách:

Gươm chưa dấy máu, giặc đã rút
Bến Trà yên lặng, sạch tanh tao.
Ái Vân, trên vách đá sừng sững,
Công tích ghi truyền muôn đời sau…

(Nguyễn Văn Huyền dịch)

Tinh thần yêu nước 

Dù đã xa lánh chốn quan trường, nhưng triều đình vẫn nhiều lần gọi thầy trở lại nhận trọng trách khác. Cuối cùng không thể từ chối, năm 1857 thầy nhận lòi ra làm Đốc học Nam Định. Năm sau, khi thực dân Pháp nổ súng tấn công Đà Nẵng – mở đầu cho cuộc chiến tranh xâm lược nước ta – thầy đã có việc làm nghĩa hiệp như ta đã biết. Thầy đã đứng về phía chủ chiến và dâng “Sớ chống giặc ở Sơn Trà” lên triều đình. Giá trị của văn bản này cho thấy thuở trước, các nhà nho nước ta dù chưa xông pha trận mạc, chưa một lần “điều quân khiển tướng” nhưng cũng am hiểu về binh pháp. Trong sớ, thầy viết:

Tôi từng nghe nói: việc dùng binh, người nhiều mưu thắng kẻ ít mưu. Nay đối với giặc Tây, tuy ta không thể dùng binh để đánh tan, nhưng có thể dùng kế để phá chúng. Cái gọi mưu lạ chính là khi gặp cơ hội biết ứng phó mau lẹ mà thôi… Nếu như làm cho trên dưới một lòng, ba quân chung sức, rồi trên cơ sở nắm chắc tình thế, tùy cơ ứng biến, thì đâu phải không có cách đánh thắng? Cái tài giỏi ở bọn giặc kia là ở chỗ tàu bè, súng ống. Nơi bể khơi không thể đối chọi với chúng được thì kế của ta phải phòng thủ. Nay tôi nghe thấy nói chúng hay lên bờ, như thế ắt ta có cách đánh thắng được.

Tôi xem sách Võ bị chí có chỗ nói về cách đóng trại. Nếu cứ theo phép này thì giặc không thể đến nhanh đánh úp. Nếu chúng dám tới, hoặc ta đánh tập hậu, hoặc ta đánh chặn giữa thì có thể thắng được. Huống chi, chúng hay lẻn đánh ban đêm, đó là vì quân ít, chúng không dám đi đường hoàng, có ý sợ ta. Nhược bằng, ta một hai lần bẻ gãy nhuệ khí của chúng, chúng sẽ phải lui.

Tôi là kẻ thư sinh, nhiều bệnh tật, lại chưa biết việc quân. Nhưng từ khi đất nước có giặc đến giờ, thường cùng các học trò Cử nhân, Tú tài còn ôm ấp chút nghĩa khí, bàn bạc, nghiên cứu sơ qua các thế ta địch, ta nắm chắc phần thắng. Nếu như tôi được tới chỗ quân thù, tận mắt xem xét rõ tình thế, rồi sau đó bày mưu, đặt kế trình với quan đại thần. Biết đâu, quan đại thần có thể châm chước sử dụng thì cũng bổ ích vậy…

Dù không có dịp đương đầu với kẻ thù, “gươm chưa vấy máu”, nhưng việc làm nghĩa hiệp của thầy và đoàn ứng nghĩa đã có tác động tích cực là dấy được phong trào yêu nước mãnh liệt trong sĩ phu lúc bấy giờ. Sau khi không được nhà vua thuận cho vào Nam, thầy đưa đoàn ứng nghĩa trở về Bắc và từ đó về cuối đời, thầy được triều đình giao nhiều trọng trách.

Đào tạo nhân tài 

Riêng về lãnh vực giáo dục, thầy đã có công đào tạo nhiều nhân tài cho xã hội. Các môn sinh của thầy không chỉ đỗ đạt mà còn lập nghiệp lừng lẫy như Tam nguyên Nguyễn Khuyến, Tam nguyên Trần Bích San, Đình nguyên Đỗ Huy Liệu, Hình bộ Thượng thư Phạm Thận Duật, Tiến sĩ Tống Duy Tân, Tiến sĩ Vũ Hữu Lợi, Phó bảng Lã Xuân Oai, thủ khoa Nguyễn Cao v.v… Và các con của thầy cũng đều đậu Cử nhân, Phó bảng. Ngoài văn tài được thầy rèn cặp, các môn sinh này còn chịu ảnh hưởng sâu sắc nhân cách của thầy.

Theo nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền:

Là một sĩ phu phong kiến, ông (Phạm Văn Nghị) không thể không giảng dạy những kinh thánh, truyện hiển và cũng không thể nói khác những tam cương, ngũ thường. Có điều, ông rất trọng thiết thực và có phương pháp bảo ban cụ thể. Bài thơ Gia huấn tuy dẫn sách cổ nhưng toàn là những cách ngôn thông dụng, răn dạy phải học hành đến nơi đến chốn chớ hoài phí thời gian:

Ta khuyên các con: việc dùi mài sách vở cũng như việc đào giếng,
Phàm người ta học hành cũng tựa như việc chống thuyền.
Chớ có nói: ngày nay không làm được thì để đến ngày mai,
Cần cố gắng cho năm nay phải hay hơn năm trước.

Ông thường sáng tác những bài thơ giáo dục, có vẫn có điệu cho học trò, con cái dễ nhớ, nội dung dễ thấm sâu vào tâm hồn, thiết thực và cụ thể:

Chớ chuốc lấy vạ miệng
Chớ cờ bạc ham tiền
Chớ bê tha gái điếm
Chớ nghiêng ngả bàn đèn

Ông thường lấy ngay những điều mình đã trải, những việc có thật để khuyên học trò. Răn thanh liêm, ông dẫn chứng việc Án sát Quảng Trị chỉ lấy của dân con gà chọi mà bị kiện mất quan. Dạy con chăm chỉ, ông lấy gương Tri huyện Phan Doãn Đức tận tình với việc, với dân thế nào. Nhắc nhở phải phán xét thận trọng, ông rút kinh nghiệm bản thân có lần xét xử không chu đáo để dân oan, mình hối mãi.

Điều lý thú, cuối bản “Tự ký”, ông răn con cháu hai điều, coi đó là “gia pháp”. Một, không lấy nhiều vợ. Hai, không tảo hôn. Cuộc đời của ông có ảnh hưởng lớn tới môn sinh và người đương thời. Khi ông mất, nhiều học trò ông làm quan trong Kinh đã gửi văn viếng, trong đó có đoạn: “Tuy tiên sinh đi rồi, cái điều không thể quên được vẫn còn mãi mãi, cái chính khí hạo nhiên vẫn bất hủ cùng với non Côi, bể Nha. Người đời nay, người đòi sau nghe nói thấy phong độ của tiên sinh, ai mà chẳng kính mộ, ai mà chẳng noi theo”.

Tinh thần và hành động yêu nước của thầy hẳn đã là tấm gương sáng cho học trò noi theo. Đinh Công Tráng, Tống Duy Tân… đã trở thành lãnh tụ của phong trào Cần Vương tỉnh Thanh Hóa; Nguyễn Cao, Vũ Hữu Lợi… nổi dậy giết giặc không thành, đã kiên cường tụ nghĩa. Nguyễn Khuyến, Đỗ Huy Liêu… giữ vững tiết tháo. Đành rằng những hành động tiết liệt ấy còn do bản thân nỗ lực tu dưỡng, do tác động của cả một phong trào, song không thể không có ảnh hưởng của người thầy mà họ kính mộ.

Tống Duy Tân trong câu đối viếng thầy Phạm Văn Nghị cũng nói lên tấm lòng của mình và nguyện theo chí hướng của thầy:

Tiên sinh lo việc trước người đời, thân thế nối chìm ôi mấy độ
Đệ tử coi thầy như cha, mất còn chung thủy mãi trăm năm.

Gia huấn và quan niệm giáo dục gia đình

Về chi tiết lý thú trong “Tự ký” mà nhà nghiên cứu Nguyễn Văn Huyền tâm đắc, nay ta đọc lại để thấy rõ hơn suy nghĩ của thầy, hơn nữa lòi răn này không lỗi thời, đáng để ta suy nghĩ:

Răn chớ lấy nhiều vợ: Có thê có thiếp, đó là lẽ thường của người đời. Nhưng người xưa lấy vợ là để có dòng có dõi kế tục. Trong ba tội bất hiếu, không có con nối dõi là tội nặng nhất. Cho nên người xưa coi việc không lấy vợ là điều đáng răn. Do đó, tuổi cao mà chưa có con nối thì lấy vợ lẽ, việc đó vẫn có. Ngày nay không thế, có người đã có con nối dõi mà vì thích sắc dục, lấy đến ba bốn vợ lẽ, nàng hầu, chẳng kể đến việc hao tổn khí huyết ảnh hưởng đến tuổi thọ. Có người tuy hơi thọ, song bệnh tật triền miên, tất cả do không biết tiết dục mà ra cả. Lại còn vợ lón, vợ bé sinh ra ghen tuông, cãi lộn luôn luôn, nhà không mấy hòa thuận. Có người vì quá yêu vợ lẽ, để vợ lẽ lấn át vợ cả, đến nỗi ruồng bỏ người vợ “tào khang”, làm loạn kỷ cương. Thậm chí, nhiều vợ lẽ, không được chồng thỏa mãn sắc dục, tư thông với người ngoài, thật là xấu xa. Tất cả do lấy nhiều vợ gây nên…

Tình thầy trò

Trong thời gian dạy học, thầy đối với các môn sinh như tình cha con. Lâu nay, có nhiều bài văn tế, thơ, câu đối… của trò khóc viếng thầy, chứ ít có bài thầy khóc trò. Vậy mà thầy Phạm Văn Nghị có bài “Văn tế khóc người học trò họ Trịnh ở Cổ Liêu”. Ta cảm động cứ ngỡ như cha khóc con:

Trịnh Khải, Trịnh Khải
Từng học theo thầy
Giỏi mà ít nói
Nhanh mà tưởng ngây
Thương con vốn nghèo
Cho dạy lũ nhó
Thương con cô đơn
Tìm nơi dựng vợ
Con chưa thành đạt
Ngày những ngóng trông
Có khi chí năn
Khuyên con vững lòng
Qua tiết đoan ngọ
Con về thăm nhà
Sao từ hôm ấy
Nhà gần, người xa
Ốm, ta không biết
Mất, ta không hay
Bạn con đến báo
Ta chưa tin ngay
Hay ta chếnh máng
Mà chẳng đoái hoài
Sao con sắp mất
Chẳng trối một lời
Ôi, người như thế
Không thương, thương ai?
Gà rượu tới viếng
Biết chăng? Con ơi!

(Nguyễn Văn Huyền dịch)

Khi môn sinh Trần Bích San mất, thầy cũng có thơ. Ta cảm động khi đọc vần thơ đau đón như tri kỷ khóc tri kỷ:

Tài ngộ xưa nay được mấy ai,
So cùng tướng Tống kém chi ngươi.
Một lòng son sắt luôn lo nước,
Muôn dặm bể khơi, dám tiếc đời.
Sống chỉ có chừng, quyền tạo hóa,
Chết khôn nhắm mắt, nghĩa vua tôi.
Vẹn danh, tròn cuộc, không cần nói,
Khí mạnh non sông chứa chút vơi.

(Đỗ Ngọc Toại dịch)

Những bài văn tế, thơ của thầy Phạm Văn Nghị cho thấy tấm lòng của thầy dành cho trò thật rộng lượng và bao dung biết chừng nào. Một khi trong môi trường sư phạm còn có những người thầy như thế thì tinh thần “tôn sư trọng đạo” mãi còn… Khi dạy, thầy thường bảo với học trò:

Đi học phải hiểu nghĩa sách cho tinh tường, luyện văn như luyện thép. Học đến nơi đến chốn như thế, lo gì không đỗ.

Tương truyền trước khi đi thi Hương, hai môn sinh Nguyễn Khuyến (lúc ấy còn tên Nguyễn Thắng) và Trần Bích San đến chào thầy. Sau những lời hàn huyên, thầy bảo:

Năm nay anh Thắng lấy cho thấy cái thủ khoa trường Hà, còn anh San thì thủ khoa trường Nam, rồi đến kỳ thi Đình cố giật cái Tam nguyên nhé!

Nghe thầy nói vậy, Nguyễn Thắng không hài lòng lắm, trên đường về bảo với bạn:

Thầy cho sức học của tôi chỉ đỗ được trong khoa thi Hương là cùng! Quả thầy xem thường sức học của tôi quá!

Trần Bích San an ủi:

Anh đừng có nghĩ thế, bình thường tôi vẫn kém anh, thầy nói thế là khuyên tôi phải gắng học hơn nữa!

Khoa thi Hương ấy, quả nhiên đúng như lời thầy đã dặn dò, đôi bạn này cùng đậu thủ khoa. Nhưng đến thi Đình, Trần Bích San đậu Đình nguyên, còn Nguyễn Thắng thì hỏng và phải nỗ lực nhiều hơn nữa để sau đó cũng đậu Tam nguyên. Hiểu được học lực của trò như thế, quả thầy đã tận tâm dạy dỗ cho trò biết chừng nào.

Trước tin vui này, các môn sinh đã làm thơ mừng thầy (Lãng Nhân dịch nghĩa):

Ông đỗ Tiến sĩ, cháu đỗ Hoàng giáp, một nhà văn chương lừng lẫy đến bốn đời
Trước là Vị Xuyên, sau là Yên Đổ, dưới sân đứng lễ có hai ông học trò đỗ Tam nguyên.

Những năm cuối đời

Về cuối đời, thầy ở ẩn trong động Liên Hoa (xã Trường Yên, huyện Hoa Lư – Ninh Bình), lấy hiệu Liên Hoa động chủ. Trong bài ký này, thầy viết:

Đến một chỗ thấy hình núi tựa hoa sen, bốn bên có dòng suối vòng quanh, có đất ấp vào sườn núi cao đến hơn trượng. Dưới chân núi, có một hòn đá giống như tấm bia, lại có thêm hòn đá dựng ngay bên khe, tục gọi là Đá Bàn. Qua đó, có một động gọi là U Cốc, trong hang có ước nửa mẫu sen. Nước khe từ trong hang chảy ra, nhập với các dòng khe khác. Thấy vậy, tôi bảo học trò chỗ này có thể làm nhà ở và đặt tên chung là núi Liên Hoa. Rồi sai đắp nền ở chân núi, dựng năm gian nhà lá, cùng với một vài tiểu đồng ở đấy…

Nếu thầy không đến đây, thắng cảnh này cũng đã có tên, trường tồn trong cõi trời đất, nhưng khi thầy đến và viết “Bài ký động Liên Hoa” thì nơi này đã khác trước. Thiên hạ biết đến động Liên Hoa nhiều hơn nữa và từ đây trở về sau nó đã là một di tích mang dấu ấn văn hóa và lịch sử. Uy danh của một bậc đạo cao đức trọng có tác động tới một vùng đất, một danh lam thắng cảnh là chỗ đó.

Trong một dịp về Thanh Hóa thăm con, thầy ốm nặng. Gia quyến đưa thầy về quê nhà Tam Đăng, rồi ngày 11/1/1881 thầy mất trong niềm thương tiếc vô hạn của mọi người. Ngày đưa thầy về cõi trăm năm, có đông đủ học trò của thầy đến đưa tiễn. Bấy giờ học trò cũ của thầy là Phạm Thận Duật đang giữ chức Thượng thư bộ Hình, Phó Tổng tài Quốc sử quán kiêm quản Quốc tử giám, Đại thần Viện cơ mật vì công cán nên không về viếng được đã gửi bài văn thống thiết:

Than ôi! Học trò cũng như con, vậy mà thầy ốm chúng con chẳng được hầu thuốc; thầy mất, chúng con chẳng thăm viếng; lúc chôn cất, chúng con chẳng được khóc tiễn đưa. Thầy coi học trò như con mà học trò chẳng nhớ thầy như cha.

Đau xót thay, khóc mà viết.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 9 – Danh nhân sư phạm, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Phạm Văn Nghị

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)