Khái quát
Với những người làm thơ, để tạo nên mỹ cảm cho độc giả, họ tránh dùng những từ thô tục, thô thiển; hoặc có những đề tài không “thanh”, nhưng họ phải tìm cách nói khác để người đọc tự nghĩ đến. Nhưng trong cuộc đời, nhà thơ cũng có lúc “hỉ nộ ái ố” như mọi công dân khác. Những lúc ấy, nếu cần thiết họ cũng bày tỏ thái độ. Ngày nọ, một trí thức Nam bộ nổi tiếng hay chữ nhưng ương ngạch, không khuất phục trước cường quyền qua chơi đất Cái Bè, nghe tiếng ông, có quan lớn cho lính gọi vào dinh nhằm tìm cớ “dằn mặt” trừng trị cho bõ ghét.
Quan lớn ấy là Trần Bá Lộc (1839 – 1899), quê ở Cù Lao Giêng, làng Tân Đức, tổng An Bình, tỉnh Long Xuyên (nay là tỉnh An Giang).
Ngay khi giặc Pháp chiếm Gia Định, y theo giặc làm Cai tại Mỹ Tho(1861), rồi được thăng Đội nhì (1862), Đội nhất (1864). Đến 19/7/1865 y được làm Tri huyện Kiến Phong (Cái Bè). Do “công lao” đàn áp các lực lượng nghĩa quân ở Tháp Mười, Vĩnh Long, Sa Đéc, Trà Vinh y được quan thầy Pháp thăng Tri phủ (1867), rồi Đốc phủ sứ (1868). Đến 1883, Lộc dẫn quân ra đánh phá các nhóm nghĩa quân ở Bình Thuận, Khánh Hòa – được phong chức Tổng đốc Bình Thuận – Khánh Hòa. Chính y đã bắt anh hùng Thủ Khoa Huân trong Nam, Mai Xuân Thưởng ở ngoài Trung và được lãnh nhiều bội tinh của Pháp, triều đình Huế… Y cất tư dinh lớn tại Cái Bè. Con trai y là Trần Bá Thọ cũng là Đốc phủ sứ Cái Bè, cha con đều là tay sai đắc lực của Pháp, sát hại nhiều sĩ phu yêu nước, đàn áp dã man phong trào chống Pháp ở miền Nam, khét tiếng là “Cọp Cái Bè”.
Dù biết, đang đối mặt với một kẻ cúi đầu làm tay sai cho giặc và dữ tợn như cọp, nhưng bậc trí thức ấy vẫn không nao núng. Lúc ông vừa bước vào sân thì, Lộc thô lỗ buông lời xáo xược:
– Cục cứt!
Ông nhếch mép đọc luôn:
Đương cơn lộn xộn ló đầu ra,
Người thấy, ai mà chẳng sợ va.
Cậy thế, khom lưng ngồi dưới đất,
Biết đâu sắp bị chó liền tha!
Lộc chết trên. Sượng chín người. Y ú a ú ớ như trúng gió độc. Những vần thơ ấy như cú tát vào mặt kẻ thất phu, hợm hỉnh. Còn có bài thơ nào “vịnh” bọn chó săn cho giặc Pháp giết hại đồng bào hay hơn bài thơ này? “Cọp chết để da, người ta chết để tiếng”. Dù một thời ngất ngưởng trên danh vọng, ăn trên ngồi trốc, nhưng bây giờ nhớ đến Trần Bá Lộc người ta cũng chỉ thấy hiện lên một hình ảnh thối tha như bài thơ trên đã vịnh. Có thể nói, mấy vần thơ ấy đã khắc họa tài tình chân dung của một kẻ làm tay sai cho giặc, ngàn đời không rửa sạch. Than ôi!
Thân thế
Trí thức ấy là Phan Văn Trị, thường gọi Cử Trị. Trước đây và hiện nay, hầu hết các sách đều ghi ông người làng Hanh Thông, huyện Bảo An, tỉnh Gia Định. Tuy nhiên, hai nhà nghiên cứu Nguyễn Bá Thế và Nguyễn Q. Thắng căn cứ vào nhiều tư liệu “khẳng định: Phan Văn Trị thuộc dòng dõi Phan Văn Triệu (con Phan Văn Tấn) sinh năm 1830, quán làng Hưng Thạnh, huyện Bảo An, tỉnh Vĩnh Long (nay thuộc huyện Ba Tri, tỉnh Bến Tre), đậu cử nhân năm 1849 tại trường thi Gia Định (nay Thành phố Hồ Chí Minh) và đến tuổi trưởng thành đã từng “lưu lạc khắp nơi nơi”. Theo tài liệu của Di tích lịch sử văn hóa tỉnh Cần Thơ khi viết về Phan Văn Trị, cũng đưa ra những thông tin như trên nhưng cho biết nơi sinh của ông, nay thuộc huyện Giồng Trôm, chứ không phải huyện Ba Tri.
Cuộc đời và sự nghiệp
Ít ai ngờ rằng, địa điểm sinh hoạt quen thuộc Nhà văn hóa Thanh Niên (4 Phạm Ngọc Thạch, Q.1, TP.HCM), ngày xưa chính là nơi tổ chức thi Hương. Năm 1849, Phan Văn Trị đã thi tại đây và đậu Cử nhân. Cùng đậu khoa này còn có một nhân vật lừng lẫy không kém là Nguyễn Thông. Mối quan hệ bạn bè của Phan Văn Trị ngoài Nguyễn Thông còn có Hồ Huân Nghiệp, Phạm Như Châu, Lê Xuân Khánh, Phan Văn Đạt, Tôn Thọ Tường… Những trí thức này đã lập ra Bạch Mai thi xã đã để lại những áng thơ trác tuyệt. Việc lập các thi xã là điều không lạ. Trước đó tại Hà Tiên, năm 1736 Mạc Thiên Tứ đã lập Hội Tao đàn Chiêu Anh Các; tại kinh thành Huế, thế kỷ XIX có Mặc Vân thi xã của các ông hoàng triều Nguyễn. Tương truyền, thi bá Cao Bá Quát đã từng đùa:
Ngán cho cái mũi vô duyên
Câu thơ thi xã con thuyền Nghệ An
Thuyền Nghệ thời ấy thường ngược xuôi bán mắm, ý muốn nói những vần thơ ấy “không ngửi được”. Thật ra đây chỉ là một trong những cách trêu nhau của các nhà thơ, chứ không hẳn ông Cao miệt thị thơ của các thi hữu đất Thần kinh. Rồi tại Sài Gòn có Bình Dương thi xã do Trịnh Hoài Đức khởi xướng. Dăm chục năm sau có thêm Bạch Mai thi xã. Các thi nhân lấy tên Bạch Mai do đâu? Một trong “Gia Định tam gia” là Trịnh Hoài Đức đã không tiếc lời ca ngợi Bạch Mai là giống hoa “bẩm linh khí sinh ra, không đem trồng nơi khác được… Mùi hương phảng phất rất thích ý cho kẻ du lãm tìm hoa” và dĩ nhiên sắc hoa trắng tinh khiết ấy tựa như khí tiết của người quân tử mà họ Trịnh cũng từng viết câu thơ “Loài chim hạc tự khoe tiết tháo cao nhã bằng sắc lông trong trắng như hoa mai. Lại hẹn với hoa mai cùng giữ danh thơm vẹn toàn”.
Sở dĩ nhắc như thế, để thấy lúc thời cuộc đã có những đổi thay, xáo trộn thì dù đã từng sinh hoạt chung trong một thi xã, nhưng để bày tỏ lập trường, quan điểm của chính mình thì các thi nhân sẵn sàng lao vào “bút chiến” dữ dội, không khoan nhượng. Ấy là cuộc bút chiến sau này giữa Phan Văn Trị và các bạn thơ của ông đối với Tôn Thọ Tường, lúc Tường ra làm việc với “tân trào”.
Năm 1862, triều đình Huế ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị tại Sài Gòn với liên quân Pháp và Tây Ban Nha. Trong 12 điều khoản đã ký, có nội dung “ba tỉnh Gia Định, Định Tường, Biên Hòa và đảo Côn Lôn hoàn toàn thuộc chủ quyền của Pháp” và “Pháp sẽ trả lại tỉnh thành Vĩnh Long với điều kiện triều đình Huế phải chấm dứt các cuộc khởi nghĩa chống đối Pháp ở Gia Định và Định Tường”. Trước tình thế này, các trí thức yêu nước đã khởi xướng phong trào “tị địa”, bất hợp tác với giặc, không sống trên mảnh đất giặc chiếm đóng. Ngay cả phần mộ của thầy Võ Trường Toản an táng tại làng Hưng Hòa (Gia Định) cũng được các môn sinh đưa về làng Bảo Thạnh (Vĩnh Long); Nguyễn Đình Chiểu rời Cần Giuộc về Ba Tri (Bến Tre); Nguyễn Thông ra Bình Thuận; Phan Văn Trị lánh xuống Vĩnh Long v.v… Đừng hiểu hành động “tị địa” giống như Bá Di, Thúc Tề trong Bắc sử, bởi họ không trốn tranh nhân dân, không lẩn tránh phận sự của mình trước thời cuộc mà vẫn liên hệ, giúp đỡ lực lượng kháng chiến. Đất của mình, nhưng mình không thể sống được khi đã bị gót giày quân giặc dày xéo, tâm trạng ấy đau đớn biết chừng nào. Phan Văn Trị rời khỏi Gia Định vào lúc:
Inh ỏi súng rền cửa Bắc, hãi hùng trăm họ dứt âu ca;
Tò te kèn thổi trời Nam, mờ mịt năm canh không tiếng trống.
Hào kiệt tìm phương lánh mặt, sa cơ giá hạc lúc hư kinh;
Anh hùng kiếm chốn ẩn thân, sút thế nước cờ cơn lúng túng.
Tới Bến Thành trải qua chợ Sỏi, loài tanh hôi lang lệ biết bao nhiêu;
Nơi Chợ Lớn sắp tới Cầu Kho, quân mọi rợ lẫy lừng nên quá lắm.(Gia Định thất thủ vịnh)
Những vần thơ của Phan Văn Trị viết trong giai đoạn này là tiếng kêu thống thiết của một con dân đứng trước thảm họa nước mất, nhà tan. Trong các cuộc hòa đàm, thương lượng với Pháp, triều đình Huế đã phạm hết sai lầm này đến sai lầm khác. Cứ tưởng, ta nhún nhường, dẫu có chịu thiệt thòi thì cũng sẽ vớt vát được ở điều nọ khoản kia, nhưng không, với âm mưu thôn tính nước ta giặc Pháp không từ bỏ bất cứ một thủ đoạn nào. Chúng tiếp tục tiến đánh các nơi, cuộc chiến ngày một lan rộng. Năm 1867, Vĩnh Long thất thủ, là một nhân chứng của một giai đoạn lịch sử bi thương nhưng hào hùng, Phan Văn Trị đã viết những câu thơ xót xa:
Tò te kèn thổi, tiếng năm ba,
Nghe lọt vào tai dạ xót xa…
Uốn khúc sông Rồng mờ mịt khói,
Vắng hoe thành Phụng ủ rầu hoa.
Tan nhà, căm nỗi câu ly hận,
Cắt đất, thương thay cuộc giảng hòa.
Gió bụi đòi cơn xiêu ngã cỏ,
Ngậm cười, hết nói nỗi quan ta!
Hai câu “luận”, nhà thơ đã ám chỉ cuộc thương thuyết của Phan Thanh Giản và Lâm Duy Hiệp đã đặt bút ký Hiệp ước Hòa bình và Hữu nghị năm 1862. Đánh chiếm Vĩnh Long xong, giặc Pháp đánh chiếm An Giang. Phan Văn Trị viết bài thơ “Cám cảnh An Giang” buồn rười rượi:
Lênh đênh bèo nước biết là đâu,
Đậu bến An Giang thấy những rầu.
Với hai bài thơ này, ta thấy dào dạt tình yêu quê hương và lòng căm thù giặc sâu sắc của một sĩ phu trong gió bụi của thời cuộc. Ngoài ra, trong những lúc vịnh cảnh, tức cảnh và cảm hoài, Phan Văn Trị đã lên án thái độ hèn nhát, tham quyền cố vị của bọn quan lại triều đình. Các bài thơ Con mèo, Con rận, Cá thia thia, Hột lúa, Thú đi câu… của ông cho đến nay vẫn được truyền tụng ngoài ý nghĩa đó còn vì giá trị nghệ thuật. Nhưng công lao lớn nhất của Phan Văn Trị trên văn đàn cuối thế kỷ XIX ở chỗ ông là chủ soái của một cuộc bút chiến vang dội. Như ta đã biết, sau khi rời Gia Định, Phan Văn Trị về Vĩnh Long, đi An Giang và nhiều nơi khác. Cuối cùng, ông chọn Cần Thơ để sống cho đến cuối đời. Tại nơi “gạo trắng nước trong”, ông đã tập hợp lại các thi hữu trong Bạch Mai thi xã để khởi xướng cuộc bút chiến với Tôn Thọ Tường.
Nhưng trước hết, ta thử tìm hiểu Tôn Thọ Tường là ai?
Tôn Thọ Tường sinh năm 1825 tại huyện Bình Dương (Gia Định), con trai của ông Tôn Thọ Đức – Tuần phủ hai tỉnh Bình Thuận và Khánh Hòa. Sinh ra trong một gia đình danh gia vọng tộc, thuộc công thần nhà Nguyễn nên Tường ra kinh đô xin “tập ấm” – tức con cháu nối theo chức của cha mà được hàm Ấm sinh, Ấm thọ hay Ấm tôn. Tường được triều đình ban cho ấm hàm về võ vì nội tổ là công thần phái võ. Nhưng Tường không hài lòng bởi theo quan niệm đương thời:
Văn thì cửu phẩm đã sang
Võ thì tứ phẩm còn mang gươm hầu
nên xin đổi sang hàm văn, dù phải xuống bậc thấp, nhưng triềuđình không thuận tình. Tường chán nản bỏ về Gia Định. Đến năm 1855, Tường ra thi Hương ở trường thi Gia Định nhưng “Thi không ăn ớt thế mà cay” (Tú Xương – Buồn hỏng thi). Khoa thi sau, Tường không ra thi nhưng vẫn “ngứa nghề”, bèn chơi ngông thi mướn cho con nhà quyền thế “văn dốt võ dát”. Chuyện bại lộ, Tường bị giải về kinh đô. Đường hoạn lộ xem như “đứt bóng”, nhưng may mắn triều đình tha tội cho cậu học trò nghèo. Có giai thoại: Trên đường ra kinh chịu tội, Tường làm bài thơ:
Trải bảy mươi hai trạm tới kinh,
Bao nhiêu tân khổ bấy nhiêu tình.
Vì nhà túng rối nên quyền biến,
Phép nước răn đe há dám khinh.
Gió bụi, đất từng quen với mặt,
Nắng mưa, trời có thấu cho mình.
Chín trùng cao vọi dầu soi xét,
Ơn xuống mai khi gặp phước linh.
Bài thơ này thấu đến tai vua Tự Đức, vốn là người cũng yêu thơ nên không những rộng lòng tha tội mà ngài còn ban cho Tường ít tiền lộ phí trở về quê.
Trở về quê, Tường bắt đầu sinh hoạt trong Bạch Mai thi xã. Nhưng thời cuộc không để cho các thi nhân tìm vần thơ dưới cội mai trắng. Tiếng súng nổ vang trời. Hiệp ước năm 1862 đã ký. “Tàu khói chạy mây tuôn sông mấy khúc, lạt lờ Bến Trâu; Dây thép giăng chớp nhoáng đất ngàn trùng, ngã xiêu thành Phụng” (Gia Định thất thủ vịnh). Giữa lúc các sĩ phu khởi xướng phong trào “tị địa”, Tường vẫn ở lại Gia Định. Có lần đi ngang qua chùa Cây Mai, nơi đã từng cùng thi hữu xướng họa, Tường bùi ngùi:
Những tay rượu thánh thi thần cũ,
Trông cảnh bao nhiêu, tiếc bấy nhiêu!
Tiếc thì tiếc thế, nhưng Tường cũng cắm mặt xuống đất mà ra cộng tác với “tân trào”, được bổ chức tri phủ Tân Bình, từ đây mọi người quen gọi “Phủ ba Tường”. Trong thời điểm, thân phận như Tường còn có Tiến sĩ Phan Hiển Đạo – đốc học tỉnh Định Tường, vì cả tin vào luận điệu “Pháp – Việt đề huề” của Pháp.
Nếu so sánh giữa Tường vào Đạo thì ta thấy Đạo có tư cách hơn. Bởi sau khi biết đã chọn sai đường, Đạo tự lấy làm xấu hổ và lánh về Vĩnh Long vì Định Tường đã mất vào tay giặc Pháp, không còn là đất của triều đình nữa. Đến Vĩnh Long, Đạo có viết thư xin được gặp đại quan Phan Thanh Giản để phân trần. Nhận thư, ông Phan phê tám chữ “Thất thân chi nữ, hà dĩ vi trinh” (Con gái đã thất thân, sao cho là trinh được?). Vị tiến sĩ này vừa xấu hổ vừa tức giận, bỏ về quê nhà ở Chợ Giữa (Mỹ Tho) suốt mấy năm liền không dám bước chân ra khỏi ngõ. Sau đó, Đạo chọn lấy một cái chết khắc nghiệt là uống thuốc độc tự tử nhằm giải quyết chính sự dằn xéo ngay trong thâm tâm mình.
Tường không thế.
Tường đã viết bài thơ Từ Thứ quy Tào nhằm biện hộ rằng mình cũng là người yêu nước như ai, nhưng chỉ loại “cây còi” không đáng kể, huống chi đất nước vẫn còn nhiều “cột cả”:
Ở Hán vẫn còn nhiều cột cả,
Về Tào chi sá một cây còi.
Thế thì, dù có theo Tây cũng chẳng đến đâu, chỉ xin làm kẻ dại, đứng ngoài vòng quốc sự. Phan Văn Trị không đồng ý, vặn lại:
Về Tào miệng ngậm như bình kín,
Trân trọng lời vàng đáng mấy thoi?
Ý muốn nói, “nói thế thì biết thế, nhưng lời ấy có đáng tin cậy không?”. Tường lại viết bài thơ Tôn phu nhân quy Thục, ngụy biện dù có làm cho Tây nhưng vẫn nhớ nước, cũng như gái dù đi lấy chồng nhưng vẫn nhớ đến nhà và nói thẳng không úp mở:
Ai về nhắn với Chu Công Cẩn,
Thà mất lòng anh đặng bụng chồng.
Phan Văn Trị “họa” lại, dù thế nào đi nữa cũng không thể quên được cương thường:
Anh hỡi Tôn Quyền anh có biết,
Trai ngay thờ chúa, gái thờ chồng.
Đỉnh điểm của cuộc xướng họa để trở thành cuộc bút chiến dữ dội chính là từ 10 bài thơ Tự thuật của Tường. Nay dẫn nguyên văn bài thơ thứ nhất để thấy được thái độ, bản lĩnh chính trị của đôi bên. Tường “xướng”:
Giang san ba tỉnh hãy còn đây,
Trời đất xui chi đến nỗi này.
Chớp nhoáng thẳng bon dây thép kéo,
Mây tuôn đen kịt khói tàu bay.
Xăng văng chậm tính, thương đôi chỗ,
Khấp khởi riêng lo, biết những ngày.
Miệng cọp hàm rồng chưa dễ chọc,
Khuyên đàn con trẻ chớ thày lay.
Với bài thơ này, Tường đã lộ rõ mặt của một kẻ ngoảnh mặt với phe kháng chiến, khiếp sợ trước sự thắng thế của giặc và khuyên mọi người đừng như trẻ con chọc tay vào miệng cọp, hàm rồng. Trước luận điệu hèn nhát, lệch lạc này, Phan Văn Trị đã “đập” lại đích đáng:
Hơn thua chưa biết đó cùng đây,
Chẳng đã, nên ta phải thế này.
Bến Nghé quản bao cơn lửa lớn,
Cồn Rồng dầu mặc bụi tro bay.
Nuôi muôn giết thỏ còn chờ thủa,
Bủa lưới săn nai cũng có ngày.
Đừng mượn hơi hùm rung nhát khỉ,
Lòng ta sắt đá há lung lay!
Ông đã tố cáo tội ác của giặc và khẳng khái bày tỏ quan điểm của mình. Từ cuộc bút chiến giữa Phan Văn Trị và Tường, các sĩ phu yêu nước khác cũng lao vào trận bút. Những danh nho như Nguyễn Đình Chiểu, Huỳnh Mẫn Đạt, Bùi Hữu Nghĩa… cũng có thơ “họa” rất hay. Có lẽ đây là cuộc bút chiến kéo dài nhất trong thi ca Việt Nam xưa nay. Nếu tính từ điểm khởi đầu năm 1862 – năm Tường ra làm việc cho Pháp, đến lúc chí sĩ Phan Châu Trinh “họa” sau khi Tường đã hóa người thiên cổ thì nó kéo dài cả non nửa thế kỷ. Điều thú vị là qua cuộc bút chiến này, có những người trước lầm đường thì nay cũng quay về với chính nghĩa. Chẳng hạn, trường hợp của cai tổng Lê Quang Chiểu. Qua các bài thơ bút chiến, ngoài tài năng thi ca của từng người tham gia, nó còn là tuyên ngôn về quan điểm sống và thái độ sống trong bối cảnh lịch sử đang diễn ra. Thế hệ hậu sinh chúng ta nhìn lại cuộc bút chiến dữ dội đó, có thể thấy được những dằn vặt đau đớn, những đấu tranh không khoan nhượng của một tầng lớp kẻ sĩ sống trong buổi đất nước đang lần lượt mất vào tay ngoại bang. Ý nghĩa sâu sắc của cuộc bút chiến này không phải các sĩ phu “đánh” cá nhân của Tường mà thực chất là cuộc đấu tranh, tấn công vào tầng lớp cầu an, có tư tưởng đầu hàng, sợ giặc. Không thể phủ nhận tài năng thica của Tôn Thọ Tường và nhiều người cộng tác với Pháp, nhưng tiếc họ đã chọn sai đường. Đương thời có người làm thơ ca ngợi:
Lớp sau Thanh Giản tiếng đồn
Là Phan Hiển Đạo với Tôn Thọ Tường
Ông thời nho nhã văn chương
Ông thời thi phú tót đường diệu công
Ông về thác Vĩnh Kim Đông
Ông ra giúp Pháp bụng đồng tương tri
Một còn một mất trọn nghì
Nghìn thu bia miệng Nam kỳ danh nho
“Bia miệng vẫn còn trơ trơ” của hậu sinh đối với Tôn Thọ Tường là tiếng xấu, là sự dè bĩu… Thương thay! Trong lúc đó, Phan Văn Trị và không ít sĩ phu khác đã chọn cho mình một thế đứng theo đúng quy luật biện chứng của dòng chảy lịch sử, xứng đáng là những ngọn cờ đầu dòng thơ yêu nước Nam bộ nửa cuối thế kỷ XIX đến đầu thế kỷ XX. Bài học của Phan Văn Trị và Tôn Thọ Tường không chỉ gói gọn trong một giai đoạn của lịch sử, nó còn gợi cho ta nhiều vấn đề để suy nghĩ.
Cuối đời
Nhà thơ Phan Văn Trị mất ngày 22/6/1910. Hiện nay, phần mộ của ông rộng khoảng 600m2 tại ấp Nhơn Lộc 1, xã Nhơn Ái, huyện Châu Thành cách trung tâm thành phố Cần Thơ 16km, được Bộ Văn hóa Thông tin ra quyết định số 154 VHQĐ ngày 21/1/1991 công nhận Di tích Lịch sử Văn hóa cấp Quốc gia.
Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 4 – Danh nhân văn hóa Việt Nam, Nxb Trẻ.