Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749)

Đoàn Thị Điểm (1705 – 1749)

Thông tin cơ bản

Khái quát

Triều Lê có ông Lê Công Nẫm làm quan lớn, sinh ra Lê Công Vị. Nhưng ông qua đời lúc Vị còn nhỏ, không có người dạy dỗ, Vị chỉ lêu lổng chơi bời không nối được nghiệp của cha. Lớn lên, Vị lập gia đình và sinh ra Lê Doãn Nghi. Khác hẳn với tính nết của cha, Nghi ham học và nổi tiếng là người hay chữ. Thấy vậy, người mẹ cố sức nuôi con ăn học. Không đủ tiền thì bán ruộng nương. Hễ thấy sách hay, sách lạ, dù có đắt mấy cũng tìm mọi cách để mua cho con. Nhờ sự chăm sóc chu đáo của mẹ, Nghi học ngày càng tiến bộ, khi đi thi hương đậu Hương Cống. Mẹ cưới vợ cho Nghi, cô gái này họ Nguyễn vốn là người quê kệch, họ sinh ra Lê Doãn Sĩ. Một hôm, Nghi nằm mơ thấy giấc mộng lạ, có một vị thần khuyên ông nên đổi sang họ Đoàn. Từ họ Lê, Lê Doãn Nghi đổi sang họ Đoàn là bắt đầu từ giấc mộng ấy.

Bấy giờ để vợ con ở lại quê nhà – làng Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay là Bắc Ninh), Nghi lên Thăng Long trú học. Hằng ngày đi ngang qua phường Hà Khẩu (nay là phố Hàng Bạc) thấy trong nhà quan võ Thái lĩnh bá họ Vũ có cô con gái xinh đẹp. Ông đem lòng say đắm. Cô này tướng mạo khoan thai, ăn nói hòa nhã, thêu thùa khéo léo. Khi trở về quê, ông nói thật với mẹ và xin mẹ đi cưới hỏi cho mình. Mọi việc diễn ra tốt đẹp.

Thân thế và sự nghiệp

Cuộc hôn nhân này sinh ra Đoàn Doãn Luân và năm 1705 sinh thêm Đoàn Thị Điểm. Cả hai anh em đều có vẻ phong lưu tuấn nhã, thông minh hơn người. Nếu người anh, ba tuổi đã biết đọc chữ, năm tuổi biết đặt câu, mười tuổi biết đọc cách sách thánh hiền thì cô em cũng giỏi giang không kém. Hơn thế, cô lại có dung sắc tươi tắn, cử chỉ điềm đạm, ăn nói văn hoa nên mọi người càng quý mến. Lúc mới lên sáu, một hôm Đoàn Doãn Luân ra câu đối để thử sức học của em:

Bạch xà đương đạo, Quý bạt kiếm nhi trảm chi;

(Rắn trắng ngang đường, ông Quý tuốt gươm mà chém nó)

Ở đây Quý là tên của vua Hán Cao Tổ, cô em đối lại ngay với tích của vua Vũ Thuấn:

Hoàng long phụ chu, Vũ ngưỡng thiên nhi thán viết.

(Rồng vàng đội thuyền, vua Vũ trông trời mà than rằng)

Năm lên mười hai tuổi, thấy em đang soi gương, người anh bèn trêu:

Đối kính họa mi, nhất điểm phiên thành lưỡng điểm;

(Soi gương kẻ lông mày, một nét hóa ra hai nét)

Thoáng nghe, cô em đã biết anh mình dùng chữ điểm vừa là nét mà cũng vừa là tên riêng. Không một chút bối rối, thấy anh đang đứng bên bờ ao, cô em đối lại ngay:

Lâm trì ngoạn nguyệt, chích luân chuyển tác song luân.

(Ra ao ngắm trăng, một vầng hóa hai vầng)

Không những giỏi chữ, Đoàn Thị Điểm còn là người khéo léo về nữ công. Tương truyền, nàng sáng chế ra cái thêu hình tam hữu (tùng, trúc, mai) và một cái hình bát quái. Lại có một cái túi bằng vải quí, ngoài thêu hai câu thơ của Lý Bạch, trông cứ đẹp như là ai lấy phấn mà viết lên vậy. Vừa nhan sắc, vừa tài cao nên quan Thượng thư Lê Anh Tuấn muốn nhận nàng làm con nuôi, dự định sau này đưa vào phủ chúa để làm cung phi, nhưng nàng không chịu. Bấy giờ ông Đoàn Doãn Nghi đưa gia quyến về làng Lạc Viên, Kiến An (nay là một quận của Hải Phòng) để dạy học. Năm 1729, lúc nàng 25 tuổi thì cha mất. Trước khi mất, ông Đoàn Doãn Nghi dặn dò hai con phải giữ lấy nghiệp nhà, đừng làm điều gì thất đức, trái đạo lý. Trước đây,ông hứa gả con trai Đoàn Doãn Luân cho con gái út của ông tiến sĩ họ Lê – cô này sau khi làm lễ vấn danh thì bị bệnh đậu mùa, mặt rỗ như tổ ong, nhưng Luân vâng lời dạy của cha vẫn cưới cô gái ấy. Họ sống với nhau rất hạnh phúc. Do chị dâu xấu xí như vậy, nên mọi việc giao tiếp của anh, Đoàn Thị Điểm phải đứng ra cáng đáng. Nàng tỏ ra khôn khéo bặt thiệp nên ai cũng khen ngợi.

Sau tang cha, nàng theo vợ chồng anh đến cư ngụ ở làng Vô Ngại, huyện Đường Hào (Hưng Yên) là nơi anh mở trường dạy học. Tại đây các công tử nghe tiếng tăm của nàng đã nườm nượp tìm đến, mong sẽ lọt vào “mắt xanh” giai nhân. Ngày nọ, Nhữ Đình Toản, Vũ Diệm cùng bạn hữu tìm đến thăm nàng và chọc ghẹo. Nàng sai người nhà đem trầu cau ra tiếp, trên khay có bức hoa tiên ghi dòng chữ rồng bay phượng múa:

Đình tiền thiếu nữ khuyến tân lang;

Câu đối này oái oăm ở chỗ, tân lang vừa là trầu cau, và đồng âm với chàng rể mới: “Trước sân, thiếu nữ mời trầu cau (hoặc mời chàng rể mới)”. Những đấng tu mi nam tử lắc đầu nhìn nhau, không ai đối lại được, cuối cùng lặng lẽ bỏ ra về. Rồi nhiều người khác đến dạm hỏi, nhưng nàng cũng không tìm được người xứng ý. Không bao lâu, người anh qua đời. Gia đình lâm vào cảnh túng thiếu, nàng cùng chị dâu cố gắng xoay xở để nuôi mẹ và nuôi hai cháu nhỏ học hành. Lúc này Đoàn Thị Điểm không nghĩ đến chuyện lập gia đình nữa. Cả ngày chỉ nghiên cứu sách thuốc để bốc thuốc chữa bệnh, rồi nối nghiệp cha anh mà dạy học.

Thế nhưng, các đấng mày râu vẫn không để cho nàng yên. Một hôm đang ngồi dạy học thì một vị dòng dõi nhà chúa, tước Bỉnh trung công sai người đến cầu hôn. Ngồi trong nhà, nhìn thấy trước sân có khoảng sáu mươi người áo mão chỉnh tề, khiêng kiệu đến, bày biện lễ vật để xin đón dâu, nàng vội chạy xuống nhà sau. Tay chân giậm bùn bê bết, khoác áo thợ cày, tay xách chiếc gầu tát nước, nàng thong dong đi ra đồng trước mặt đám quan quân! Không ai ngờ cả. Đám quan quân sộc vào nhà tìm kiếm nàng nhưng chỉ hoài công vô ích. Cuối cùng, chúng nghĩ ra mẹo bắt mẹ của nàng, đưa lên kiệu mà khiêng về kinh. Bỉnh trung công đối xử với bà cụ trọng hậu, tử tế. Y tin chắc rằng với mẹo này thì thế nào Đoàn Thị Điểm cũng phải đến tận nơi. Vậy mà hơn một tháng, nàng vẫn biệt tăm, y ngửa mặt lên trời than thở: “Phú quý không ham, nghèo khó vẫn vui. Nam nhi như thế đã đáng khen, huống chi nàng lại là phận gái”. Rồi sai người đưa bà cụ trở về nhà như cũ. Từ đấy, tăm tiếng của nàng càng vang xa, ai cũng kính trọng.

Bấy giờ ở xã Sài Trang, huyện Đường Hào, gia đình người nọ có con gái được đưa vào hậu cung. Họ bèn mời nàng vào cung để dạy cho con gái mình. Để tránh sự phiền toái của những kẻ quyền thế, nàng bèn vào cung dạy học. Tuy nhiên nàng vẫn không quên hiếu đễ với mẹ già, chị dâu, nàng thường xuyên gửi thư từ thăm hỏi. Nhưng cung chúa cũng không phải là nơi nàng có thể đem sở trường của mình để dạy người đời. Ít lâu sau, nàng trở về chốn cũ. Vốn là người giỏi về lý số, bốc dịch, năm 1739, nhân gieo quẻ mà đoán biết làng Vô Ngại sẽ là nơi biến thành vùng chiến địa, các thế lực sẽ giao chiến dữ dội. Vì vậy nàng đưa gia đình ra cư ngụ ở xã Chương Dương bên kia sông Nhị. Nơi đây, nàng dựng trường dạy học, sĩ tử theo học rất đông. Nàng thường nói: “Xem trong lịch sử thấy phận hồng nhan lắm kẻ tài giỏi, nhưng chưa có kẻ nào ra sức dạy học trò đỗ đạt”. Vì vậy nàng quyết tâm làm cho được điều đó. Học trò đến học được nàng dạy dỗ chu đáo, về sau có người làm được ước nguyện của nàng như Đào Duy Doãn đậu tiến sĩ, v.v…

Những tưởng từ đây có thể vui với đám môn sinh, nhưng cũng không thể được. Ngày nọ, Hương cống Đặng Trần Côn đến thăm nàng. Côn là người học giỏi, tính tình phóng khoáng và có tài phóng bút thành thơ. Côn đã cao hứng tặng cho nàng bài thơ mới sáng tác, nàng cười:

– Trẻ con mới cắp sách đi học đã biết gì!

Côn hậm hực bỏ về, quyết chí dùi mài kinh sử để rửa mối hận này. Côn học cả ngày lẫn đêm. Bấy giờ, chúa Uy vương Trịnh Giang (1729-1740) ra lệnh trong thành Thăng Long cấm đốt lửa ban đêm. Vì thế Côn phải đào hầm dưới đất để chong đèn mà học. Nhờ tài năng và kiên gan bền chí, chỉ trong thời gian ngắn, Côn đã hoàn thành tácphẩm nổi tiếng Chinh phụ ngâm (dài 478 câu thơ) bằng chữ Hán. Lần này Côn đem đến tặng Đoàn Thị Điểm, đọc xong nàng khen hay và phải chịu Côn là người có tài. Một hôm đang ngồi dạy học thì có đám quan quân đi vào. Họ kính cẩn dâng lên nàng một cái hộp sơn son thếp vàng. Mở hộp ra, nàng thấy trong đó có một phong thư dán kín. Mở ra đọc thì biết đây là lá thư cầu hôn của ông Tiến sĩ Tả thị lang Nguyễn Kiều, người làng Phúc Xá, huyện Từ Liêm (Hà Nội). Đọc xong thư, nàng than:

– Khi trẻ, ta mong người tài hoa đến cầu hôn, nhưng không gặp được. Hai mươi năm qua, ta không quan tâm đến việc ấy nữa. Chao ôi! Tài tử gặp giai nhân là điều khó khăn, chi bằng ta rửa sạch lòng trần, giữ lấy sự an nhàn trong tâm hồn há chẳng phải hơn sao? Nay có người lại đến khuấy động lòng ta, chỉ chuốc lấy phiền não mà thôi.

Nói xong, nàng từ khước lời cầu hôn ấy. Nhưng Nguyễn Kiều quyết không chịu thua. Đang góa vợ, nghĩ mình là bậc tài hoa, mới 21 tuổi đã đậu tiến sĩ, nay làm quan lớn ngất ngưởng, danh vọng, tăm tiếng khắp kinh thành ai mà không biết đến nên ông cố nài cho bằng được. Hai mươi ngày sau, ông lại sai người nhà đem thư tới. Trong thư viết: “Tôi rất bận việc quan. Vó ngựa đi sứ sang nhà Thanh đã gần ngày phải lên đường. Việc nhà không có ai coi sóc và cai quản. Trước đây vợ tôi là con gái thượng thư Lê Anh Tuấn, mà phu nhân từng làm con nuôi. Do đó vợ tôi với phu nhân há chẳng phải có tình chị em đó sao? Nếu phu nhân bằng lòng đùm bọc gia cảnh của tôi thì thật là may cho cả nhà tôi đó”. Thư viết khẩn thiết, đọc xong bất giác nàng cảm thấy thương xót. Đã thế, đám môn sinh biết chuyện lại tán thành cuộc hôn nhân nên cuối cùng, bất đắc dĩ nàng nhận lời. Sự việc này diễn ra vào cuối năm 1742.

Lúc này Đoàn Thị Điểm ba mươi bảy xuân trở thành vợ của tiến sĩ Nguyễn Kiều đã bốn mươi bảy tuổi. Về làm vợ, chưa kịp vui trong chăn ấm gối hồng thì một tháng sau, Nguyễn Kiều được lệnh làm chánh sứ sang nhà Thanh. Ngày trước đi sứ là việc nặng nề, cực nhọc. Họ lấy ngày rời chân khỏi nhà là ngày giỗ, nếu chẳng may bỏ mạng ở dặm đường thiên lý, hoặc nơi đất khách quê người. Chuyến đi này, phái đoàn của Nguyễn Kiềuphải mất… ba năm mới quay về cố hương! Trong phòng the vò võ đợi chồng, đọc lại Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn đã tặng ngày xưa, bà thấy thân phận của mình như một chinh phụ xa chồng – lúc chồng đi chiến địa:

Cùng trông lại mà cùng chẳng thấy
Thấy xanh xanh những mấy ngàn dâu
Ngàn dâu xanh ngắt một màu
Lòng chàng ý thiếp, ai sầu hơn ai?
Chàng từ đi vào nơi gió cát
Đêm trăng này nghỉ mát phương nao?
Xưa nay chiến địa dường bao?
Nội không muôn dặm xiết bao dãi dầu
Hơi gió lạnh người rầu, mặt dạn
Dòng nước sâu ngựa nản chân bon…

Vì mối đồng cảm này, bà đem dịch ra quốc âm. Bản dịch Chinh phụ ngâm đang lưu hành hiện nay, từ năm 1926, giới nghiên cứu cho rằng của Phan Huy Ích chứ không phải của bà. Sự việc này vẫn còn đang tranh luận. Nhưng chắc chắn, Đoàn Thị Điểm có dịch một bản Chinh phụ ngâm để gửi gắm tâm sự khi chồng đi công cán nơi xa.

Ngoài ra, bà còn để tâm viết tập truyện ký chữ Hán là Truyền kỳ tân phả. Trong đó ghi chép lại những chuyện kỳ quái hoang đường là cái cớ để phản ánh thực trạng thối nát của xã hội phongkiến lúc đó. Dù khí cách không mạnh mẽ bằng Truyền kỳ mạn lục của Nguyễn Dữ, nhưng văn chương của bà được Phan Huy Chú khen là “hoa lệ, bóng bẩy”. Ba năm sau, 1745, phái đoàn Nguyễn Kiều vềnước. Bấy giờ bà với chồng mới có dịp vui duyên cầm sắt. Vốn là người tự phụ, Nguyễn Kiều thường cho mình là kẻ tài giỏi hơn người. Thấy vậy, bà thường tìm cách khuyên chồng bỏ lòng kiêu ngạo ấy. Bà sai học trò đi chép đầu bài ở các trường có tiếng tăm, đem về để haivợ chồng cùng làm. Bao giờ bài làm của bà cũng trội hơn, nhưng Nguyễn Kiều vẫn cố cãi chày cãi cối. Bà thường than: “Ta thường nghĩ những kẻ khoa cao, đậu sớm, chắc có tài đức hơn người. Không ngờ họ chỉ theo đuổi cử nghiệp, chỉ nhờ câu văn chải chuốt mà nổi danh. Trong một ngày, nếu có đọc một nghìn câu như vậy, thì cũng chẳng ăn thua gì đến nghĩa lý đâu! Chồng ta không phải là không biết làm thơ, nhưng về đường kinh luân thì còn kém lắm”. Do đó bà ngầm đợi cơ hội khác để khuyên chồng. Nhân lúc trường Quốc tử giám mở kỳ thi, đầu bài ra là bài phú “Quốc gia như kim âu” (Nhà nước vững như âu vàng). Hai vợ chồng cùng làm bài thi này. Kết quả bài của bà trội hơn về ý tứ, lời văn khéo hơn của chồng. Bấy giờ, ông Kiều mới thật sự thú nhận thua tài của vợ và bỏ đi tính kiêu. Từ đó, vợ chồng càng hòa hợp tương đắc.

Mùa hè năm 1748, bà đang ngồi sắp xếp lại thơ văn của vợ chồng để đóng lại thành tập thì một cơn gió thổi tới, cuốn rèm cửa tung lên rồi hất xuống đất. Thấy lạ, bà bấm độn thì biết có chuyện sắp xảy ra. Bà nói với chồng:

– Thiếp sắp về suối vàng, còn chàng thì thăng chức nhưng phải đổi vào Nam.

Ông Kiều kinh ngạc, gặng hỏi thêm nhưng bà không đáp. Giây lát sau bà đọc hai câu thơ:

Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ,
Bờ Nam mưa ấm tỏ ơn vua.

(Hoàng Xuân Hãn dịch)

Thật vậy, dăm ba ngày sau, ông Kiều nhận lệnh giữ chức Tham thị ở Nghệ An. Bà không muốn đi theo, nhưng chồng năn nỉ mãi, cuối cùng bà chấp thuận. Trên đường đến Nghệ An, một hôm thuyền dừng lại ở đền Sòng – nơi thờ bà Liễu Hạnh. Đêm ngủ bà nằm mơ thấy trên trời có tiếng chuông khánh rồi một chiếc xe dần dần đi tới, lại có mùi hương lạ sực nức trong thuyền. Bà sực tỉnh dậy, nhớ đến câu thơ “Cửa Bắc xe mây điềm thiếp rõ” nên trong lòng không vui.

Cuối đời

Đến nơi chồng nhậm chức, bà bị cảm lạnh. Ngày mồng 4 tháng 8 thì bệnh nguy kịch, thầy thuốc chữa mãi nhưng cũng không khỏi. Sáng ngày 11 tháng 9, bà gượng ngồi dậy, ăn mặc chỉnh tề, gọi chồng vào dặn dò vài điều rồi ân cần từ biệt. Xong, bà nằm xuống, lịm đi mà mất. Ông Kiều thương tiếc vô hạn, khóc vợ khô cạn nước mắt, và viết bài văn tế rất cảm động:

– Người dẫu trăm thân cũng khôn chuộc, hận đến nghìn đời cũng chẳng cùng. Kìa những người đàn bà ngu bướng, người ta thường sống lâu tuổi hạc da mồi, cớ sao người tài hoa tót bậc dường này mà phúc lộc lại rất mỏng manh? Tội nghiệp thay nương tử, ở yên không có chỗ, nối dõi không có con, ngoài 30 tuổi mới lấy chồng, hơn 40 tuổi đã tạ thế, vùi âm dung ở một chỗ, ném tài nghệ vào khoảng không, trốn bà từ mẫu đã già, bỏ mấy cháu côi còn dại, há chẳng phải là mệnh trời bất thường mà tạo vật cũng bất công hay sao? Luống để cho người chồng góa bụa, thở ngắn than dài, ruột sầu đau thắt, mắt lệ tuôn rơi. Việc nhà bề bộn, ai người trông nom? Cư xử nhỡ lầm, ai người ngăn bảo? Thơ muốn viết ra, ai người bình phẩm? Sách muốn xem chung, ai người bầu bạn? Mùa thu có trăng, cùng ai thưởng nguyệt! Vẻ đẹp ngày xuân, ai người cùng ngắm? Than ôi! Đường chia hai ngả, duyệt đứt sáu năm, vui ít sầu nhiều, tài dài mệnh ngắn… (Trúc Khê dịch). Sinh thời, khi viết văn làm thơ, bà ký bút danh Hồng Hà nữ sĩ. Tài năng văn chương tót vời của bà được người đời khen là không thua, mà có phần trội vượt hơn cả nữ lưu bên Tàu là Tô Tiểu Muội hoặc Ban Chiêu. Một nữ sĩ có nhan sắc, tài đức vẹn toàn như bà Đoàn Thị Điểm thật hiếm có thay.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Đoàn Thị Điểm

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)