Tên di sản: Lễ hội Cầu Ngư
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Các làng chài ven biển, ven đầm và hệ thống lăng Ông tại Phú Yên
Thời gian tổ chức: Từ tháng Giêng đến tháng Sáu âm lịch hằng năm, tùy theo lệ của từng địa phương
Đối tượng thờ phụng: Cá Ông, tức cá voi, cùng các vị thủy thần, tiền hiền, hậu hiền và Bà Thiên Y A Na
Cộng đồng thực hành: Ngư dân các làng chài ven biển Phú Yên
Ghi danh: Lễ hội Cầu Ngư Phú Yên được công nhận là Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia
Lễ hội Cầu Ngư Phú Yên là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng quan trọng của cộng đồng ngư dân ven biển, gắn trực tiếp với nghề đánh bắt và tục thờ Cá Ông. Không ai xác định chính xác lễ hội xuất hiện từ bao giờ, nhưng qua nhiều thế hệ, đây đã trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh thần của người dân làng chài. Lễ hội vừa thể hiện lòng biết ơn đối với Cá Ông và các vị thần được cộng đồng tin là che chở cho người đi biển, vừa gửi gắm mong ước về những chuyến ra khơi bình an, thuận lợi, tôm cá đầy khoang.
Tín ngưỡng thờ Cá Ông
Đối với ngư dân Phú Yên, Cá Ông là cách gọi đầy kính trọng dành cho cá voi. Trong quan niệm dân gian của cư dân vùng biển, Cá Ông thường cứu giúp những người gặp nạn giữa biển khơi, vì vậy được tôn kính và thờ phụng tại nhiều làng chài.
Từ niềm tin ấy, người dân lập các lăng Ông để thờ ngọc cốt Cá Ông, tổ chức tế lễ và tưởng niệm vào những dịp quan trọng. Lễ hội Cầu Ngư là thời điểm tập trung rõ nét nhất những thực hành tín ngưỡng này, đồng thời mở đầu cho một mùa biển mới với mong ước mưa thuận gió hòa, ra khơi an toàn và đánh bắt thuận lợi.
Thời gian tổ chức
Lễ hội Cầu Ngư tại Phú Yên không có một ngày thống nhất cho toàn tỉnh. Tùy lệ của từng làng chài, lễ hội thường được tổ chức trong khoảng từ tháng Giêng đến tháng Sáu âm lịch.
Một số địa phương chọn ngày Cá Ông đầu tiên lụy vào làng, ngày liên quan đến sắc phong hoặc một thời điểm phù hợp với mùa biển và công việc của cộng đồng. Vì vậy, tuy cùng mang tên Lễ hội Cầu Ngư, thời gian tổ chức giữa các làng có thể khác nhau.
Không gian lăng Ông
Không gian chính của lễ hội thường là lăng Ông. Theo nguồn tư liệu, Phú Yên có khoảng 41 lăng Ông phân bố tại các cộng đồng ven biển và ven đầm. Đây là nơi thờ ngọc cốt Cá Ông cùng bài vị các vị thủy thần, tiền hiền và hậu hiền.
Lăng thường được xây gần biển hoặc sông, hướng về phía Đông và có hình thức kiến trúc gần với đình làng. Tổng thể thường gồm ba phần: phía trước là Võ ca, nơi tổ chức biểu diễn; ở giữa là chánh điện, nơi thờ tự; phía sau là không gian hội họp và tiếp khách. Trước sân thường có bình phong trang trí long, ly, quy, phụng, cổng có hai trụ biểu, một số nơi còn xây tường bao.
Trình tự các nghi lễ
Lễ hội thường kéo dài ít nhất hai ngày, gồm phần lễ và phần hội. Phần lễ được tiến hành trang nghiêm theo một trình tự tương đối đầy đủ.
Mở đầu là lễ rước sắc. Đoàn rước đưa sắc phong về nơi hành lễ, thể hiện sự tôn kính đối với các vị thần được cộng đồng phụng thờ.
Tiếp đến là lễ nghinh thủy và rước hồn Ông Nam Hải. Các nghi thức này gắn trực tiếp với không gian biển và niềm tin của ngư dân đối với Cá Ông. Trong lúc chủ tế hành lễ, phía ngoài đội bả trạo bắt đầu diễn xướng, tạo nên sự kết hợp giữa nghi lễ thờ thần và hình ảnh lao động trên biển.
Sau đó là các lễ tế gồm tế Sanh, tế Đình, tế Bà Thiên Y A Na và tế Ông Nam Hải. Lễ vật thường có hương, hoa cùng các sản vật địa phương. Chủ tế đọc văn tế ca ngợi công đức của các vị tiền hiền, thủy thần và Cá Ông, đồng thời cầu mong mùa biển mới thuận lợi, ngư dân bình an, tôm cá dồi dào.
Trong toàn bộ phần lễ, hát bả trạo giữ vị trí đặc biệt. Đây vừa là diễn xướng nghi lễ vừa tái hiện trực tiếp hình ảnh một con thuyền đang vượt sóng ngoài khơi.
Diễn xướng bả trạo
Đội bả trạo thường gồm khoảng 18 đến 20 người, hóa thân thành những ngư phủ cùng điều khiển một con thuyền. Đội hình có tổng chèo, tổng lái, tổng mũi, tổng khoan và các con trạo.
Những người tham gia mặc áo thụng xanh, thắt dây lưng điều. Tổng chèo giữ vai trò lĩnh xướng và điều khiển chung, các con trạo hát phụ họa và thực hiện động tác chèo theo nhịp. Toàn bộ đội hình mô phỏng con thuyền rời bến, vượt sóng rồi trở về.
Đạo cụ của từng vị trí cũng có quy định riêng. Chèo của tổng chèo có cán sơn đỏ, mái màu trắng, giữa thân vẽ vòng Thái cực. Chèo lái dài khoảng 2,5m, tay cầm màu đỏ, mái màu xanh có hình rồng vàng. Chèo quân hay con trạo dài khoảng 1,2m, sơn hai màu đen và trắng.
Trong nghi thức đưa linh thường sử dụng các điệu hát nam, hát khách. Trong sinh hoạt lao động còn có các điệu hò chèo thuyền, hò giựt chì, hò hụi, hò lơ. Những làn điệu này phản ánh rõ môi trường lao động và đời sống tinh thần của cư dân vùng biển.
Phần hội
Sau khi phần lễ kết thúc, phần hội diễn ra với nhiều hoạt động văn hóa và thể thao dân gian. Nổi bật có hát tuồng thứ lễ, hát bả trạo, đua thuyền, đua sõng, lắc thúng chai, đi cà kheo, kéo co và đấu võ cổ truyền.
Đua thuyền và đua sõng thể hiện kỹ năng sông nước, sức khỏe và khả năng phối hợp của ngư dân. Lắc thúng chai lại mang đậm dấu ấn nghề biển, bởi thúng chai vốn là phương tiện quen thuộc trong đời sống lao động hằng ngày.
Đi cà kheo, kéo co và võ cổ truyền góp phần tạo nên không khí sôi nổi trong ngày hội. Các trò chơi và môn thi giúp tăng cường giao lưu giữa người dân, đồng thời duy trì môi trường thực hành cho nhiều kỹ năng dân gian.
Đặc điểm và ý nghĩa
Lễ hội Cầu Ngư Phú Yên mang đậm dấu ấn của văn hóa biển. Từ đối tượng thờ phụng là Cá Ông, không gian lăng Ông đến các nghi thức nghinh thủy, bả trạo, đua thuyền, đua sõng và lắc thúng chai, hầu hết đều gắn trực tiếp với đời sống và nghề nghiệp của cộng đồng ngư dân.
Lễ hội cũng cho thấy sự kết hợp giữa tín ngưỡng thờ Cá Ông với việc thờ thủy thần, tiền hiền, hậu hiền và Bà Thiên Y A Na. Qua đó hình thành một hệ thống nghi lễ phong phú, vừa hướng đến việc tri ân các đấng được tôn thờ, vừa cầu mong bình an và một mùa đánh bắt thuận lợi.
Đặc biệt, diễn xướng bả trạo là một thành tố nổi bật, vừa mang tính nghi lễ vừa lưu giữ nhiều yếu tố nghệ thuật, âm nhạc, lời ca, đạo cụ và kinh nghiệm nghề biển. Cùng với các trò chơi và hoạt động thể thao, lễ hội trở thành không gian sinh hoạt chung có ý nghĩa lớn đối với cộng đồng làng chài.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị tín ngưỡng: Lễ hội thể hiện niềm tin và lòng biết ơn của ngư dân đối với Cá Ông cùng các vị thủy thần, tiền hiền, hậu hiền và Bà Thiên Y A Na.
Giá trị văn hóa biển: Các nghi thức nghinh thủy, rước hồn Ông Nam Hải, hát bả trạo, đua thuyền, đua sõng và lắc thúng chai phản ánh trực tiếp đời sống của cư dân ven biển.
Giá trị nghệ thuật – trình diễn: Bả trạo, hát tuồng, hát nam, hát khách cùng các điệu hò lao động tạo nên một hệ thống diễn xướng phong phú.
Giá trị tri thức dân gian: Những hiểu biết về biển, thuyền bè, tổ chức đội chèo, sử dụng thúng chai và kỹ năng sông nước được lưu giữ và trao truyền thông qua lễ hội.
Giá trị văn hóa: Lễ hội bảo lưu hệ thống lăng Ông, nghi thức rước sắc, tế lễ và nhiều hình thức sinh hoạt dân gian đặc trưng của cộng đồng ven biển.
Giá trị cộng đồng: Việc cùng nhau chuẩn bị lễ vật, tổ chức nghi lễ, diễn xướng và tham gia trò chơi góp phần tăng cường sự gắn kết giữa các thành viên trong làng chài.
Giá trị giáo dục truyền thống: Lễ hội giúp thế hệ sau hiểu hơn về phong tục, tín ngưỡng, nghề biển và đời sống của cha ông, từ đó tiếp tục gìn giữ bản sắc cộng đồng.
Lễ hội Cầu Ngư Phú Yên là một sinh hoạt văn hóa tín ngưỡng tiêu biểu của ngư dân vùng duyên hải, phản ánh mối quan hệ mật thiết giữa con người với biển cả. Qua tục thờ Cá Ông, lễ rước sắc, nghinh thủy, các nghi thức tế lễ, diễn xướng bả trạo cùng những hoạt động đua thuyền, đua sõng và lắc thúng chai, lễ hội lưu giữ một hệ thống giá trị phong phú của văn hóa biển. Đây vừa là dịp cầu mong những chuyến ra khơi bình an, đánh bắt thuận lợi, vừa là không gian bảo tồn và trao truyền các phong tục, nghệ thuật và tri thức dân gian của cộng đồng ven biển Phú Yên.
Nguồn ảnh: Sưu tầm