Tên di sản: Lễ hội đền Đuổm
Loại hình: Lễ hội truyền thống
Không gian thực hành: Đền Đuổm, xã Động Đạt, huyện Phú Lương, tỉnh Thái Nguyên
Thời gian tổ chức: Chính hội ngày mùng 6 tháng Giêng âm lịch; ngoài ra còn có các lệ ngày 24 tháng Tư, mùng 7 tháng Bảy và 13 tháng Chạp
Đối tượng thờ phụng: Dương Tự Minh – Cao Sơn Quý Minh
Cộng đồng thực hành: Cộng đồng các dân tộc địa phương, trong đó có đồng bào Tày vùng Phú Lương
Nghi thức đặc trưng: Rước đất – rước nước, mộc dục, gia quan, rước lễ vật và Đại tế
Ghi danh: Di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017
Lễ hội đền Đuổm là lễ hội truyền thống lớn của vùng Phú Lương, gắn với việc thờ tướng Dương Tự Minh – một thủ lĩnh miền núi có nhiều công lao trong việc xây dựng và bảo vệ vùng biên cương phía Bắc Đại Việt thời Lý. Trong bốn lệ được tổ chức hằng năm tại đền, hội mùng 6 tháng Giêng là quan trọng nhất, với hệ thống nghi lễ đặc sắc như rước đất, rước nước, mộc dục, gia quan, rước cỗ và Đại tế. Lễ hội vừa tưởng nhớ công lao của Dương Tự Minh, vừa phản ánh đậm nét tín ngưỡng nông nghiệp và đời sống văn hóa của cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc.
Dương Tự Minh và đền Đuổm
Đền Đuổm nằm dưới chân núi Đuổm. Theo truyền thuyết, Dương Tự Minh từng trở về sinh sống tại vùng này và sau khi ông mất, nhân dân lập đền thờ trên sườn núi.
Dương Tự Minh là người Tày, sinh ra và lớn lên ở Quan Triều. Ông hoạt động dưới ba triều vua Lý Nhân Tông, Lý Thần Tông và Lý Anh Tông, có nhiều đóng góp trong việc quản lý, xây dựng và bảo vệ vùng biên cương phía Bắc của Đại Việt. Trong hơn ba mươi năm dưới quyền ông cai quản, phủ Phú Lương trở thành một khu vực ổn định và phát triển.
Ông được triều đình hai lần gả công chúa là Thiều Dung và Diên Bình, phong làm Phò mã lang. Khi thôi giữ chức thủ lĩnh phủ Phú Lương, ông trở về Điểm Sơn và mất tại đây. Sau khi qua đời, ông được nhà Lý sắc phong là Uy viễn đôn tỉnh cao sơn quảng độ chi thần, các triều sau tiếp tục tôn phong với danh hiệu Cao Sơn Quý Minh.
Trong đời sống dân gian, Dương Tự Minh còn gắn với nhiều truyền thuyết như “Chiếc áo tàng hình”, “Sự tích ao chuông lăn”, “Thánh Đuổm trị tà thần”. Những câu chuyện này góp phần làm phong phú hình tượng Thánh Đuổm và củng cố vị trí của ông trong đời sống tinh thần của cộng đồng các dân tộc vùng Đông Bắc.
Các lệ trong năm
Đền Đuổm có bốn lệ chính trong năm. Ngày mùng 6 tháng Giêng được coi là ngày đản sinh của Thánh và là kỳ hội quan trọng nhất. Ngày 24 tháng Tư tổ chức lễ hạ điền, ngày mùng 7 tháng Bảy là lễ thượng điền và ngày 13 tháng Chạp là lễ tất niên.
Trong đó, hội đầu xuân mùng 6 tháng Giêng có quy mô lớn nhất, tập trung nhiều nghi lễ, trò chơi và hoạt động cộng đồng.
Chuẩn bị lễ hội và lễ vật dâng Thánh
Trước ngày hội, khu vực đền, đường rước, ban thờ và kiệu được vệ sinh, chỉnh trang. Các đội tế tập luyện từ nhiều ngày trước với các nghi thức như kiểm soát lễ vật, tiến hương, tiến hoa, tiến rượu và đọc chúc văn.
Lễ vật dâng Thánh gồm cỗ chay và cỗ mặn. Cỗ chay tượng trưng cho lương khô mà Dương Tự Minh từng mang theo khi đánh giặc. Trước đây, dân làng cùng góp gạo, mật để làm các loại bánh như bánh dày, bánh mật hay bánh uôi, bánh rán mật, bánh bìa, chè lam, bánh khảo và bỏng nổ. Ngày nay, các gia đình chủ động chuẩn bị, phổ biến với các loại bánh bìa, bánh vôi, chè lam, bánh khảo, bánh rán và bỏng nổ, sau đó xếp vào tám mâm bồng để dâng Thánh.
Cỗ mặn gồm cỗ đại hạ và cỗ thờ. Cỗ thờ thường có lợn quay và xôi ngũ sắc, vừa dùng để dâng cúng vừa thể hiện tài nghệ chế biến, bày cỗ của các làng. Ngoài ra, theo lệ cũ, dân làng còn dâng 12 con cá, đặc biệt là cá chép, tượng trưng cho 12 tháng trong năm và gợi lại câu chuyện Dương Tự Minh từng mò cua, bắt cá nuôi mẹ.
Ngày mùng 5 – rước đất, rước nước
Sáng mùng 5 tháng Giêng, lễ hội bắt đầu với lễ rước đất và rước nước. Đoàn rước xuất phát từ đền Đuổm đến giếng Dội và khu vực lấy đất, mang theo các lễ vật như quả còn chứa hạt giống, xôi ngũ sắc, gà luộc, hoa quả và những sản vật của địa phương.
Tại giếng Dội, nơi có miếu thờ Bà chúa giếng, chủ tế làm lễ cáo yết với trời đất, Thủy vương, Sơn thần, Thổ địa và các vị thần linh để xin rước nước, rước đất. Sau khi gieo quẻ âm dương được chấp thuận, nghi thức lấy nước và đất mới được tiến hành.
Nước được đựng trong hai ống bương lớn, tượng trưng cho ống bố và ống mẹ, sau đó bịt bằng vải đỏ. Các thiếu nữ người Tày dùng đòn gánh tre đưa nước về đền. Đất được lấy từ vùng phù sa màu mỡ, cho vào âu sành và cũng phủ vải đỏ trước khi rước về.
Khi đoàn trở lại đền, nước và đất được đưa vào hậu cung đền Trung. Nước rước về được dùng trong lễ mộc dục và một phần đặt thờ; phần còn lại tưới vào những cây lớn quanh đền. Nghi thức thể hiện mong ước nguồn nước dồi dào, đất đai màu mỡ, cây cối sinh trưởng và mùa màng thuận lợi.
Nửa đêm mùng 5 – lễ Mộc dục và Gia quan
Nửa đêm mùng 5, dân làng tiến hành lễ mộc dục, tắm tượng và bài vị Dương Tự Minh. Tượng Thánh được tắm lần đầu bằng nước rước từ giếng Dội, lần thứ hai bằng nước ngũ vị đã chuẩn bị sẵn.
Sau khi hoàn tất, phần nước ngũ vị còn lại được các chức sắc và hương lão dùng để nhúng tay, xoa lên mặt, gọi là “hưởng ơn Thánh”. Những mảnh vải đỏ dùng để bịt ống nước cũng được chia nhỏ cho dân làng làm lộc, với mong muốn cầu bình an và may mắn.
Ngay sau lễ mộc dục là lễ Gia quan, tức nghi thức mặc áo, đội mũ cho tượng Thánh. Công việc này do người trông coi đền thực hiện, hoàn tất việc chuẩn bị trước ngày chính hội.
Ngày mùng 6 – rước lễ vật và Đại tế
Sáng mùng 6 tháng Giêng, vào giờ Thìn, các làng tổ chức rước cỗ chay và cỗ mặn vào đền. Khi tiếng trống hiệu vang lên, cỗ chay được rước trước, cỗ mặn theo sau, lần lượt tiến vào khu vực làm lễ.
Sau khi lễ vật được an vị, Đại tế bắt đầu. Đây là nghi lễ quan trọng nhất của lễ hội. Chủ tế cùng hai bồi tế thực hành đầy đủ các nghi thức dâng hương, dâng rượu và đọc văn tế, chuyển tải nguyện vọng của cộng đồng tới Thánh Đuổm, cầu phúc, cầu tài, bình an và mùa màng thuận lợi.
Kết thúc Đại tế, văn có ghi tên hèm của Thánh được hóa. Nam giới làng Đuổm từ 18 tuổi trở lên cùng quan viên và khách chạ tham dự cỗ đại hạ tại đền. Phần cỗ lễ sau đó được chia theo lệ cho các chức dịch trong làng.
Quan hệ phường chạ
Hội đền Đuổm còn duy trì mối quan hệ giao lưu với các phường chạ và đền thờ trong khu vực. Trong đó có chạ Chào và chạ Đu, những cộng đồng có quan hệ tín ngưỡng lâu đời với đền.
Truyền thuyết về chạ Chào kể rằng Thánh Đuổm từng chế ngự một tà thần Thủy tề của làng Chào. Sau khi dân làng đến xin xá tội, Thánh ân xá nhưng đặt lệ mỗi năm hai lần, vào mùng 6 tháng Giêng và 13 tháng Chạp, dân Chào phải đến đền Đuổm dâng lễ. Câu chuyện phản ánh mối liên hệ tín ngưỡng và giao lưu giữa các cộng đồng cư dân trong vùng.
Phần hội
Sau các nghi lễ, lễ hội bước vào phần vui chơi với nhiều trò dân gian như tung còn, đấu vật, kéo co, đánh cờ, bịt mắt bắt dê. Trước đây, các gánh hát từ Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Bắc Ninh và Hà Nội cũng được mời về biểu diễn tại sân đền.
Các đoàn trai gái tham gia hát ví, hát sli, hát lượn, nhiều cuộc hát đối đáp còn kéo dài suốt đêm tại nhà dân. Việc nhà nào mời được nhiều khách đến hát và giao lưu được coi là niềm vui, đồng thời gửi gắm mong muốn về một năm đông vui, mùa màng tốt tươi.
Ngày nay, lễ hội còn có các hoạt động giới thiệu sản vật địa phương, thi sao chè, gói bánh chưng và giã bánh dày, góp phần giới thiệu nghề nghiệp và sản phẩm truyền thống của các địa phương trong huyện.
Lễ hạ điền, thượng điền và tất niên
Ngày 24 tháng Tư âm lịch, dân làng tổ chức lễ hạ điền. Trước đây, một thửa ruộng trong làng được chọn để cấy loại lúa chín sớm gọi là lúa “gà gáy”. Khi có gạo mới, dân làng nấu cơm đem dâng đền rồi mang ra đồng cho những người cấy lúa cùng ăn. Nghi lễ gắn với việc cầu mưa và mở đầu hoạt động sản xuất nông nghiệp.
Ngày mùng 7 tháng Bảy là lễ thượng điền, đánh dấu việc kết thúc vụ cày cấy, khi nông cụ được rửa sạch và cất đi. Đến 13 tháng Chạp, dân làng tổ chức lễ tất niên, khép lại một chu kỳ sinh hoạt tín ngưỡng trong năm.
Đặc điểm và ý nghĩa
Điểm nổi bật của Lễ hội đền Đuổm là sự kết hợp giữa tưởng niệm Dương Tự Minh và tín ngưỡng nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc vùng Phú Lương. Những nghi thức rước nước, rước đất, mộc dục, dâng bánh, dâng cá và Đại tế đều gắn với những mong ước về nguồn nước, đất đai, mùa màng và cuộc sống no đủ.
Lễ hội đồng thời phản ánh sự giao thoa giữa lịch sử và truyền thuyết. Hình tượng Dương Tự Minh vừa là một nhân vật có công trong việc bảo vệ vùng biên cương thời Lý, vừa được nhân dân tôn thành Thánh Đuổm với nhiều huyền tích và tục lệ gắn bó sâu sắc với đời sống cộng đồng.
Giá trị tiêu biểu
Giá trị lịch sử: Lễ hội gắn với Dương Tự Minh, người có nhiều công lao trong việc quản lý, xây dựng và bảo vệ vùng biên cương phía Bắc Đại Việt dưới triều Lý.
Giá trị tín ngưỡng: Hệ thống nghi lễ từ rước đất, rước nước, mộc dục, gia quan đến Đại tế thể hiện sự tôn kính của cộng đồng đối với Thánh Đuổm.
Giá trị văn hóa: Lễ hội bảo lưu nhiều phong tục đặc sắc của cộng đồng các dân tộc vùng Phú Lương, từ cách chuẩn bị lễ vật, tổ chức đoàn rước đến các hình thức hát ví, hát sli, hát lượn.
Giá trị nông nghiệp: Nghi lễ rước nước, rước đất, hạ điền, thượng điền cùng các lễ vật từ lúa gạo, bánh, cá phản ánh rõ đời sống và ước vọng của cư dân nông nghiệp.
Giá trị tri thức dân gian: Việc chọn người lấy nước, lấy đất, sử dụng hai ống bương bố – mẹ, làm các loại bánh truyền thống và tổ chức cỗ thờ thể hiện hệ thống kinh nghiệm, quan niệm và kỹ năng được trao truyền trong cộng đồng.
Giá trị nghệ thuật – trình diễn: Các trò chơi dân gian, hát ví, hát sli, hát lượn cùng những hoạt động trình diễn trong ngày hội tạo nên không gian sinh hoạt văn hóa phong phú.
Giá trị cộng đồng: Lễ hội quy tụ nhiều dân tộc, làng xã và phường chạ cùng tham gia, góp phần tăng cường giao lưu và sự gắn bó giữa các cộng đồng cư dân trong khu vực.
Giá trị giáo dục truyền thống: Việc tưởng niệm Dương Tự Minh góp phần giáo dục lòng yêu nước, tinh thần đoàn kết và ý thức bảo vệ quê hương, biên cương của dân tộc.
Lễ hội đền Đuổm là một sinh hoạt văn hóa đặc sắc của vùng Đông Bắc, nơi ký ức về Dương Tự Minh hòa quyện với tín ngưỡng nông nghiệp của cộng đồng các dân tộc Phú Lương. Từ rước đất, rước nước, lễ mộc dục đến Đại tế và các hình thức hát, trò chơi dân gian, lễ hội phản ánh những mong ước lâu đời về đất đai màu mỡ, nguồn nước dồi dào, mùa màng tốt tươi và cuộc sống bình an. Với những giá trị tiêu biểu đó, Lễ hội đền Đuổm được Bộ trưởng Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch đưa vào Danh mục di sản văn hóa phi vật thể quốc gia theo Quyết định số 217/QĐ-BVHTTDL ngày 23/01/2017.
Nguồn ảnh: Sưu tầm