Sương Nguyệt Anh (1864 – 1921)

Sương Nguyệt Anh (1864 – 1921)

Thông tin cơ bản

Bối cảnh lịch sử

Năm 1864 đánh dấu bằng một sự kiện bi thương trong lịch sử kháng chiến ở Nam Bộ. Anh hùng Trương Định bị tên Việt gian Huỳnh Tấn phục kích bắn chết: “Trời Bến Nghé, mây mưa sùi sụt, thương đấng anh hùng gặp bước gian truân, đất Gò Công cây cỏ ủ ê, cảm niềm thần tử hết lòng trung ái” (Nguyễn Đình Chiểu). Đây cũng là năm mà tác phẩm Lục Vân Tiên của cụ Đồ Chiểu được Gabriel Aubaret dịch đăng trong tập Kỷ yếu châu Á – nhằm giới thiệu “chiến lợi phẩm văn hóa” cho các nước phương Tây. Mây xám xịt giăng kín bản đồ của Tổ quốc. Nhưng đó đây tiếng súng kháng chiến vẫn nổ ra, dữ dội như tiếng sấm sét xé toạc vòm trời…

Thân thế

Đây cũng là năm bà Sương Nguyệt Anh cất tiếng khóc chào đời. Bà là con thứ tư (gọi theo kiểu Nam bộ là thứ năm) của cụ Đồ Chiểu và Lê Thị Điền, sinh ngày 8/3/1864 tại làng An Bình Đông, xã An Đức, huyện Ba Tri (Bến Tre). Tên thật của bà là Khuê (có sách ghi Nguyễn Xuân Khuê, Nguyễn Thị Ngọc Khuê hoặc Nguyễn Thị Khuê), ngoài ra còn có tên là Nguyễn Xuân Hạnh mà trong gia tộc thường gọi là bà Năm Hạnh. Thuở nhỏ, bà theo học với cha và được cha giáo dục cho tinh thần yêu nước, thương dân. Chắc chắn những tháng ngày tản cư chạy giặc, rồi tiếng súng vang dội của cuộc kháng chiến long trời lở đất do sĩ phu yêu nước lãnh đạo đã để lại trong tâm trí của bà những dấu ấn khó quên.

Cuộc đời

Ngay từ nhỏ, bà đã nổi tiếng là người thông minh, tài sắc và có hiếu với cha mẹ. Một thiếu nữ như thế bao giờ cũng là đối tượng để các đấng tu mi nam tử “săn đuổi”. Trong số này có ông Phủ Ba Tường, mặc dù vợ con đùm đề, dăm bảy thê thiếp nhưng cũng muốn cưới bà làm vợ lẽ. Dù nhiều lần bị từ chối, nhưng ỷ mình là người đi theo “tân trào” ra hợp tác với Tây để có “tối rượu sâm banh, sáng sữa bò” thì thế nào cũng chinh phục được trái tim của bà. Một buổi chiều râm mát, y khệnh khạng bước vào nhà bà – nơi cụ Đồ Chiểu đang dạy học. Thấy khách lạ đường đột bước đến, lớp học im phăng phắc. Y chưa kịp nói lời gì thì đã thấy bà chạy đến chỗ cụ Đồ đang ngồi, bà nói:

– Ba ơi! Đoạn văn ngày hôm qua ba dạy cho con, con đã thuộc rồi. Nay con đọc lại cho ba nghen!

Cụ Đồ lúc này đã bị mù, nghe con gái nói, cụ gật đầu. Bà thong thả đọc:

– Ghét là ghét trộm dầu bàn Phật, trốn án mà xưng vương, căm là căm cắn sách kẻ nho, đành lòng mà phá đạo.

Ngao ngán bấy thân chuột thối, biết ngày bầy ô thước phanh thây, nực cười thay cái bụng chuột tham, từng bao thuở sông Hoàng Hà cạn ráo.

Những câu sắc bén trong bài Hịch đánh chuột của cụ Đồ Chiểu như làn roi quất vào mặt tên háo sắc. Dù cúi đầu làm tôi mọi cho Tây, nhưng lúc nào y cũng hợm hĩnh, vênh váo. Nghe bà chửi khéo như thế, y lẳng lặng bước ra về và để tâm trả thù. Lúc này vì yêu nhân vật Kiều Nguyệt Nga trong tác phẩm Lục Vân Tiên nổi tiếng của cha, nên khi viết văn làm thơ, bà đã ký bút danh Nguyệt Anh. Năm 1886 mẹ mất, hai năm sau cha qua đời, mấy chị em của bà nương nhau mà sống. Tên Phủ Ba Tường giở thói nhũng nhiễu, cứ dăm ba ngày lại xuống “trát” đòi anh ruột của bà là Nguyễn Đình Chúc lên “hầu chuyện”. Nhất cử nhất động gì của gia đình bà đều bị y làm khó dễ. Để tránh nanh vuốt của y, gia đình phải dời nhà về Cái Nứa (Mỹ Tho), nhưng y vẫn đeo đuổi, không buông tha. Cuối cùng bà phải lánh sang nhà người quen ở Rạch Miễu. Tại đây, ít lâu sau bà kết hôn với phó cai tổng Nguyễn Công Trinh (có tài liệu ghi là Cai Tính) và sinh được cô con gái đặt tên là Vinh. Thời gian sau, chồng mất, bà ở vậy nuôi con. Từ đây, bà thêm chữ “Sương” vào trước bút danh “Nguyệt Anh” – có nghĩa là bà Nguyệt Anh góa chồng – với ngụ ý tấm lòng trung trinh của bà sáng như giọt sương dưới ánh trăng. Lúc chồng mất, bà có làm bài thơ để nói lên tâm nguyện của mình:

Xướng tùy phận đẹp vợ hòa chồng,
Kẻ mất người còn trải mấy đông.
Giai lão một câu đành lỗi hẹn,
Hiếu tư hai chữ dốc ghi lòng.
Đã quen ngon với mùi rau ốc,
Đâu nỡ vui cùng thói bướm ong.
Gương tỏ đời nay trang tiết phụ,
Lâu đài tiếng tốt tạc non sông.

thế nhưng, mẹ góa con côi không ở yên với các đấng mày râu. Nhiều người tìm đến buông lời chọc ghẹo ong bướm. Ông Bảy Nguyện ở Mỏ Cày gửi bà bài tứ tuyệt tán tỉnh:

Ai về nhắn với Nguyệt Anh cô,
Chẳng biết lòng cô nghĩ thế mô?
Không phải vãi chùa toan đóng cửa,
Đây lòng gấm ghé bắc cầu Ô.
Không một chút xao lòng, bà trả lời dứt khoát:
Chẳng phải tiên cô cũng đạo cô,
Cuộc đời dâu bể biết là mô?
Lọng sườn dẫu rách còn kêu lọng,
Ô bịt vàng ròng cũng tiếng ô.
Phải thời cô quả chịu thời cô,
Chẳng biết tuồng đời tính thế mô?
Dòm thấy bụi trần toan đóng cửa,
Ngọc lành chi để thẹn danh ô.

Đọc thấy thái độ quyết liệt của bà, ông này lẳng lặng rút lui. Lại thêm ông Hồ Bá Xuyên ở Vĩnh Kim (Mỹ Tho) gởi bài thơ muốn cùng ba se duyên trăm năm:

Trời đất ghen chi chữ sắc tài,
Vườn xuân vội úa bảy phân mai.
Gương loan sửng sốt càng ngơ ngác,
Phấn vẽ giồi mài sợ kém phai.
Lặng lẽ duyên hồng tơ tóc vắn,
Vấn vương phận liễu tháng ngày dài.
Bông đào bao thủa thay bao lứa,
Nỡ để trăng thu xế bóng đoài!

Nhưng bà quyết chí thờ chồng nuôi con nên trả lời:

Tài không sắc, sắc không tài,
Lá úa nhành khô cũng tiếng mai.
Ngọc ánh chi nài son phấn điểm,
Vàng ròng há sợ sắc màu phai.
Ba giềng trước đã xe tơ vắn,
Bốn đức nay tua nổi tiếng dài.
Dẫu khiến duyên này ra đến thế,
Trăng thu dầu xế, rạng non đoài!

Những thơ văn xướng họa như thế này còn khá nhiều, điều này chứng tỏ bà Sương Nguyệt Anh là người tài hoa, có nhan sắc, dù bị nhiều lần đeo đuổi, tán tỉnh nhưng bà vẫn “Đứng giữa trời xanh tiết chẳng rời”. Một điều đáng quý nữa ở người đàn bà góa chồng này, là những năm 1906-1908, hưởng ứng lời kêu gọi của cụ Phan Bội Châu trong phong trào Đông Du, bà đã bán ruộng vườn để giúp học sinh xuất dương du học. Tiếng tăm của bà ngày càng được nhiều người biết đến, cuối năm 1917 bà được trí thức tại Sài Gòn mời làm chủ bút tờ Nữ giới chung có nghĩa là “tiếng chuông của nữ giới” – đây là tờ báo đầu tiên dành cho phụ nữ Việt Nam, do một phụ nữ tài danh điều hành. Do vị trí tiên phong của nó trong tiến trình lịch sử báo chí nước nhà, nên ta cần biết qua đôi nét về tờ báo này. Tuần báo Nữ giới chung, phát hành định kỳ hàng tuần vào ngày thứ sáu. Mỗi số có 18 trang nội dung và 8 trang dành cho quảng cáo. Tòa soạn đặt ở số 15 đường Tabert (nay là đường Nguyễn Du – TP.HCM). Tổng lý là ông Trần Văn Chim, chủ nhiệm là ông Henri Blanquière, chủ bút là bà Sương Nguyệt Anh. Tờ báo này có những chuyên mục là phần xã thuyết, phần học nghệ, dạy gia chánh, đăng thơ văn của nữ giới và cuối cùng là phần “tạp trở” với chuyên mục như mẹ con nói chuyện, khuyên chị em, cách ngôn, lời hay ý đẹp, v.v… Giá bán lẻ của mỗi số là 0 đồng 10. Có thể nói, dưới sự điều hành của bà Sương Nguyệt Anh, Nữ giới chung là tờ báo đầu tiên của nước ta chú trọng đến việc dạy đức hạnh, nữ công và phê phán những điều ràng buộc khắt khe đối với phụ nữ. Tờ báo chủ trương đấu tranh quyết liệt cho vấn đề nam nữ bình đẳng. Do đó không phải ngẫu nhiên mà ở số 8, có độc giả khen tờ báo rằng:

Vang lừng nữ giới nặng dùi chuông,
Thúc bọn quần thoa thoát cửa buồng.

Bà Sương Nguyệt Anh đã có nhiều bài viết in trong tờ báo này với quan điểm tiến bộ. Chẳng hạn ở số 9, sau khi khuyên chị em mình không nên chỉ biết miệt mài ngâm vịnh thi phú, mà còn phải am hiểu cả “tình trong thế ngoài” của xu thế xã hội. Bà viết:

Thuở xưa, tài nữ nước ta như Đoàn Thị Điểm, bà Hồ Xuân Hương, bà phủ Thanh Quan, bà Diệu Liên công chúa là đương buổi thời khoa cử nhất sĩ nhì nông. Ngày nay ngọn sóng Âu trào qua Nam Hải, các khoa học mênh mông, công nghệ thế ấy, khoa học thế kia, trông người mà ngẫm nghĩ đến ta, tình buồn cảnh buồn mà không buồn lại buồn cảnh bông tàn trăng khuyết, lý tưởng sao mà lạ vậy?

Kìa ta mở cặp mắt ngó ra hoàng hải, người Âu Mỹ làm thầy giáo cũng đàn bà, mà thầy kiện cũng đàn bà, trong tay sẵn có một nghề, không phải nương nhờ người nam tử. Ấy cái học người ta như thế, há phải như người mình không bịnh mà rên! Chị em ơi! Cái nết đánh chết cái hay, dẫu vẫn như ả Tạ nàng Ban, cũng chẳng qua một cái trò chơi. Muốn có cái địa vị ngang hàng với nam tử thì chẳng những việc tề gia nội trợ phải thuộc lòng, mà tình trong thế ngoài cũng phải ráng nên ghé mắt, tuy chưa được như người Âu Mỹ song cũng đừng phụ tiếng Lạc Hồng.

Bài báo viết cách đây tám mươi năm, thế mới biết thuở ấy tư tưởng của bà Sương Nguyệt Anh cấp tiến biết chừng nào! Ngay từ số 1, Nữ giới chung đã chủ trương: Nâng cao nền luân lý – Dạy cho độc giả biết cách sống hàng ngày – Chú trọng đến nền thương mại, tiểu công nghệ – Tạo sự giao tiếp, tiếp xúc giữa mọi người với nhau – tuyên truyền chữ Quốc ngữ. “Sự xuất hiện của nó là một biến cố quan trọng đối với dân chúng lúc bấy giờ, đặc biệt đối với phụ nữ Việt Nam. Tuần báo này, theo dư luận của một số nữ độc giả, nó mang lại hoặc ít hoặc nhiều, những biến đổi mới mẻ trong đời sống tinh thần và vật chất của phụ nữ Việt Nam từ xưa vẫn bị sống ràng buộc trong những nguyên tắc cứng nhắc của Khổng Mạnh.”

Chỉ tiếc tờ báo này không thọ lâu, vì nhiều lý do, nó đình bản vào ngày 19/7/1918. Một trong những lý do là vì bà chủ bút Sương Nguyệt Anh chẳng may bị đau mắt, về sau bị lòa, bà phải về Ba Tri sống với người em trai út là Nguyễn Đình Chiêm. Trong đời riêng, bà còn có chuyện không vui nữa là người con gái duy nhất gả cho ông Mai Văn Ngọc. Sau khi bà có cháu ngoại thì con gái qua đời. Chắc chắn chịu ảnh hưởng của bà nên con rể Mai Văn Ngọc về sau cũng hoạt động yêu nước, tham gia Việt Nam Thanh niên Cách mạng Đồng chí Hội. Còn cháu ngoại Mai Huỳnh Hoa cũng là người tích cực hoạt động xã hội, về sau lập gia đình với Phan Văn Hùm, một người yêu nước hoạt động cùng thời với Nguyễn An Ninh. Trở về quê nhà, nối nghiệp của cha, bà Sương Nguyệt Anh mở trường dạy học, làm thuốc chữa bệnh. Dù sống trong cảnh mù lòa, nhưng bà vẫn chú tâm đến tình hình chính trị xã hội đang diễn ra. Lúc vua Thành Thái ngự giá vào Nam, bà đã có bài thơ bày tỏ tâm sự yêu nước thương dân quan tâm đến thời cuộc:

Ngàn thu mới gặp hội minh lương,
Thiên hạ ngày nay trí mở mang
Tấc đất ngọn rau tràn dưới mắt,
Đai cơm bầu rượu chật ven đàng.
Vui lòng thánh đế nơi xe ngựa,
Xót dạ thần dân chốn lửa than.
Nước mắt cơ cùng trời đất biết,
Biển dâu một cuộc thấy mà thương.

Ngoài những vần thơ chủ yếu được truyền miệng và in trên tờ Nữ giới chung, bà còn dịch bộ Yên sơn ngoại sử của Trung Quốc ra thơ lục bát, đặt vè châm biếm thói hư tật xấu của người đời và còn có cả thơ sáng tác bằng chữ Hán. Sự có mặt của bà trên văn đàn Việt Nam hồi đầu thế kỷ XX đã đem lại sự tự hào cho nữ giới. Vốn sinh ra trong một gia đình giàu truyền thống yêu nước, bà đã đi không chệch hướng con đường mà nhà thơ Nguyễn Đình Chiểu đã chọn. Bà mất tại Ba Tri ngày 12 tháng chạp năm Canh Thân (20-1-1921), thọ 58 xuân – mộ của bà được đặt cạnh mộ của cha mẹ.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 8 – Các vị nữ danh nhân Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Sương Nguyệt Anh

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)