Lương Đắc Bằng (1472 – 1522)

Lương Đắc Bằng (1472 – 1522)

Thông tin cơ bản

Thân thế 

Nhân vật văn hóa lừng lẫy nhất ở thế kỷ XVI là trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm. Một phần hun đúc nên tài năng ấy là nhờ theo học thầy giỏi và được thầy truyền cho bộ Thái ất thần kinh. Có điều thú vị là sau khi học trò thành tài, thầy tin tưởng giao con trai cho học trò dạy dỗ. Người thầy đáng kính đó là Lương Đắc Bằng, sinh năm 1472 tại làng Hội Trào, huyện Hoằng Hóa (nay thuộc thôn Hội Triều, xã Hoằng Phong, huyện Hoằng Hóa – Thanh Hóa). Năm 28 tuổi, ông thi đậu Hội nguyên, rồi thi đình đậu đệ nhất giáp Tiến sĩ, sau ra làm quan Tả Thị lang bộ Lễ, Thị độc Hàn lâm coi việc ở viện.

Cuộc đời và sự nghiệp

Nếu làm việc trong một triều đình như thời Nghiêu, Thuấn thì ông có thể cống hiến nhiều hơn cho sự nghiệp xây dựng đất nước. Nhưng đây là thời nhiễu nhương, bệ rạc nhất của chế độ phong kiến Việt Nam đang mục ruỗng. Vua chúa ăn chơi xa xỉ, hoang dâm vô độ… Nhân dân mỉa mai gọi vua Lê Uy Mục (1505 – 1509) là “vua quỷ” và vua Lê Tương Dực là “vua lợn”! Lương Đắc Bằng đã sống trong giai đoạn đó. Chính ông là người trí thức đầu tiên đã viết Bài hịch tố cáo Uy Mục với những câu đanh thép như dao chém vào đá: “Bạo chúa Uy Mục, phận con thứ thấp hèn, làm nhơ bẩn nghiệp lớn. Lần lữa gần 5 năm, tội ác đã đến muôn vẻ. Giết hại người xương thịt, dìm hãm các thần liêu… Tước đã hết mà lạm thưởng không biết, dân đã cùng màlạm thu vơ vét không thôi. Thuế thu tận cùng đến chân tơ kẽ tóc, mà sử dụng tiền của như bùn đất, bạo ngược như Tần Chính; đãi công thần như chó ngựa, coi dân chúng như cỏ rác”. Năm 1509, Giản Tu Công Oanh từ Tây Đô kéo quân về đánh chiếm lại Đông Kinh và bức tử Uy Mục. Oanh sai người đặt xác Uy Mục vào miệng súng lớn, bắn cho tan xương cốt. Xong, Oanh tự lên ngôi, tức vua Lê Tương Dực và cũng tiếp tục lao vào đường tửu sắc trụy lạc. Tương Dực sai người thợ có tên là Vũ Như Tô làm cung điện 100 nóc, xây Cửu trùng đài hao tốn biết bao tiền của; lại bắt đóng những chiến thuyền để đàn bà khỏa thân chèo thuyền chơi trên Hồ Tây! Chỉ có dân đen sống trong cùng cực, phải gánh chịu bao thuế má nặng nề và giặc giã trong nước nổi lên khắp nơi. Tiếng than khóc vọng đến trời xanh.

Về quê

Là một nguời nặng lòng với nước, Lương Đắc Bằng không thể nhắm mắt cầu vinh như loạn thần khác. Năm 1510, đang giữ chức Tả Thị lang bộ Lại, ông xin về quê cư tang. Tương Dực cho gọi vào giao làm học sĩ Đông các và hầu giảng ở tòa Kinh Duyên, nhưng ông chỉ một mực xin về hưu. Từ chối không được, ông dâng bản điều trần nhằm cải cách đất nước. Ông viết:

Tôi thường nghe thánh vương đời xưa, không vì thiên hạ đã trị mà sao nhãng lời khuyên răn; hiền thần thủa trước, không cho vua là thánh mà quên lòng can gián. Cho nên thời Ngu, Thuấn đã là thái bình mà Bá Ích còn bày mưu khuyên vua rằng: “Chớ ưa thích nhàn rỗi, chớ say đắm sự vui, chớ trễ nải, chớ bừa bãi, phải nơm nớp như nguy vong sắp đến”. Vua Thuấn nghe lời, tránh hết những điều nên răn. Thế mới thành bậc đại thánh. Thời Hán Văn đế là thời giàu thịnh, mà Giả Nghị dâng bài sách nói: “Để lửa ở chỗ gần củi có khi phải chảy nuớc mắt, có khi phải kêu khóc. Lúc nào cũng phải nơm nớp như họa loạn đã hiện ra. Hán Văn đế nghe lời nói, lo những điều đáng lo. Thế mới thành vị vua hiền.

Bởi vì: kẻ bề tôi mà dâng lời nói, nếu không ân cần, không khúc chiết thì không giúp vua sáng suốt nghe lời. Còn vua đã nghe lời nói mà không xét kỹ, không khoan thứ thì không mở được đường cho bề tôi dâng lời can.

Nay bệ hạ khoan nhân, rộng lượng, không hay giết người, noi theo nghiệp Cao tổ, cứu mệnh muôn dân, khắp trong bốn biển như treo ngược được cởi, ai cũng nghển cổ kiễng chân, để mong chính sách mới ban hành, vui mừng thịnh trị. Nhưng từ khi bệ hạ lên ngôi đến giờ, hòa khí chưa đều, chiến tranh chưa hết, triều chính chưa sắp đặt, việc quân chưa sửa sang. Điều tai dị hiện luôn, sợ đạo trời chưa thuận; đá núi lỡ xuống, sợ đạo đất chưa yên; kẻ tham nhũng phát ra, giặc ngấm ngầm nổi lên, sợ đạo nguời chưa hòa. Thế nhưng các triều thần biết mà không nói. Họ làm như thế lo tính cho thân mình, nhưng còn việc nước thì sao?

Thần hổ phận bề tôi cũ, bổn phận đối với nước cùng vui cùng buồn… Nếu thần không nói, tiến theo a dua theo người thì còn đâu là trung hiếu của phận làm tôi? Mỗi lần thần nghĩ tới thời thế, đến nghĩa vụ thì suốt đêm không ngủ, ngày đến bửa không ăn, lòng báo đáp không sao bỏ qua được. Nên thần kính cẩn trình bày 14 chước trị bình tâu lên:

  1. Hết sức cảnh giới để dẹp điềm tai dị.
  2. Hết lòng hiếu thảo để tỏ lòng trung.
  3. Xa thanh sắc để làm gốc cho sự chính tâm.
  4. Bỏ kẻ tà nịnh để trọng nguồn phong hóa.
  5. Dè dặt việc cho quan tước để cẩn thận về việc khuyến trừng.
  6. Tuyển chọn và phân bổ công bằng để đường làm quan được trong sạch.
  7. Tiêu dùng phải dè dặt để giữ thói kiệm ước.
  8. Khen thưởng những người có tiết nghĩa để trọng đạo cương thường.
  9. Cấm hối lộ để bỏ thói gian tham.
  10. Sửa sang võ bị để thế nước được vững.
  11. Kén chọn gián quan để cho người dám nói phấn khởi.
  12. Bớt việc phục dịch để thỏa dân tình trông ngóng.
  13. Hiệu lệnh phải nhất định để thống nhất lòng bốn phương.
  14. Cẩn thận pháp độ để mở đường thịnh trị.

Các chước trên dâng lên mong bệ hạ soi xét. Thần lại nghe cổ ngữ có câu: “Lời nói của người cắt cỏ kiếm củi, thánh nhân cũng có thể chọn lấy”. Và trong Kinh thư có câu: “Biết không khó, làm mới khó”. Vậy xin bệ hạ chớ cho lời thần là viễn vông, nên lựa chọn mà làm, răn điều nên răn, lo điều nên lo thì đạo trời mới thuận, đạo đất được yên, đạo người được hòa, mới đến thái bình được”.

Nhưng ông “vua lợn” không những đã không nghe và không làm theo những lời chính đạo này mà kỳ quái thay, tháng 5/1514, Tương Dực lại nghe lời sàm tấu của Hiệu úy Hữu Vĩnh giết chết 15 vương công và cho gọi các cung nhân của triều trước vào cung để gian dâm! Với một vương triều thối nát như thế nên lúc đó phong trào khởi nghĩa của nông dân nổi lên khắp nơi – nhằm lật đổ chế độ tàn bạo nầy. Đáng chú ý nhất là khởi nghĩa của Trần Cao, phao tin rằng ở phương đông có “thiên tử khí” nên dấy binh đánh chiếm đất Hải Dương, Đông Triều… rồi tự xưng là Đế Thích giáng sinh, bởi thế thiên hạ đi theo có hàng vạn người! Cũng giống như Lương Đắc Bằng, một quận công là Trương Duy Sản cũng nhiều lần khuyên can Lê Tương Dực nên thay đổi chính sách cai trị, nếu không tất diệt vong! Nhưng ông ta đã không nghe theo lại còn nọc Sản ra đánh. Từ đó, Sản đem lòng căm thù. Tháng 4/1516, Sản sai người dùng dao đâm chết ông vua bạo chúa hoang dâm. Năm đó, Lê Tương Dực mới 22 tuổi bằng tuổi với Lê Uy Mục. Nếu ông ta từ ban đầu biết lắng nghe và thực hiện chước trị bình của Lương Đắc Bằng thì số phận không kết thúc bi thảm như thế!

Không rõ, Lương Đắc Bằng mất năm nào, chỉ biết ông thọ ngoài tuổi 50, về cuối đời làm quan đến chức Thượng thư bộ Lại, tước Đôn trung bá. Con trai ông là Lương Hữu Khánh – học trò của trạng Trình Nguyễn Bỉnh Khiêm – về sau cũng làm quan đến Thượng thư bộ Binh, tước Đạt quận công. Cháu nội ông là Lương Khiêm Hanh cũng đỗ đạt cao, làm quan đến cấp sự Lễ khoa.

Nguồn: Lê Minh Quốc (2008), Kể chuyện danh nhân Việt Nam, Tập 7 – Những nhà cải cách Việt Nam, Nxb Trẻ. 

Chấm điểm
Chia sẻ
Lương Đắc Bằng

Nội dung chính

Để lại một bình luận

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai. Các trường bắt buộc được đánh dấu *


Banner APP CHỐN THIÊNG 3 (60X90)