Ký hiệu: Mộ H-Q1-PNCT-MHC1a-b
Niên đại: Năm Quý Sửu (khoảng năm 1793 hoặc 1853)
Chất liệu: Hợp chất, đá Non Nước trắng, ngói ống
Kích thước: Toàn bộ khuôn viên: Chiều dài 9,3 m; Cổng vòm: Rộng 80 cm, cao 110 cm; Cặp trụ dày 70 cm; Sân thờ: 3,2 m x 3,1 m; Tường bao tả hữu (80 x 90 cm); Miếu Thổ thần (190 x 140 cm) Bình phong hậu: Rộng 2,3 m, cao nhất 2,6 m; Ô chữ nhật (18 x 80 cm); Khung đắp nổi (23 x 30 cm); Quách hợp chất: 3,2 m x 2 m, cao 2,15 m (đúc nguyên khối kiểu nhà hai gian); Nhà mồ: 3,1 m x 2,1 m, cao 2,15 m
Loại hình: Mộ cổ hợp chất (cấu trúc lăng song táng)
|Nơi phát hiện: Cách Ủy ban nhân dân phường Nguyễn Cư Trinh (cũ) khoảng 200 m về phía Bắc – Tây Bắc, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Giới thiệu mộ hợp chất
Mộ H-Q1-PNCT-MHC1a-b là một quần thể lăng mộ cổ bằng hợp chất có quy mô lớn, được xây dựng theo hướng Đông Nam (lệch Nam 40°). Mộ có cấu trúc lăng khuôn viên khép kín với chiều dài tổng thể 9,3 m, bố cục không gian chặt chẽ từ ngoài vào trong.
Lối vào lăng là một cổng vòm hình khối chữ nhật lợp mái 8 ống ngói, hai đầu hồi đắp nổi hình đầu rồng uốn lượn theo hướng mộ, nâng đỡ bởi cặp trụ hợp chất dày 70 cm. Tiếp sau cổng là Sân thờ hình vuông khống chế bởi cặp tường bao tả hữu. Hai bên sân thờ bố trí 2 miếu thờ Thổ thần kiểu nhà mái lợp 8 ống ngói, sát đầu hồi đắp các khối tượng ngưu miên (trâu nằm) đối xứng.
An ngữ phía sau khu vực thờ tự là Bình phong hậu rộng 2,3 m, cao 2,6 m với mái đỉnh vòm lợp 8 ống ngói. Trang trí trên bình phong rất phong phú: phần trán khắc 4 chữ Nho, lòng hậu chẩm chia ô chữ nhật lồng, phần giữa khắc đồ án rồng dây, đầu hồi chạm phù điêu hình rồng, Xi vĩ và mây lửa. Khung trung tâm đắp nổi hình chim đậu trên cây cổ thụ rất sinh động.
Trung tâm lăng mộ là khối Quách đúc bằng hợp chất nguyên khối kiểu nhà hai gian (nhà bia và nhà mồ), nấm mộ nằm cách vách tường bao 70 cm và cách bình phong hậu 1 m. Gian trước là nhà bia được thiết kế theo kiểu 1 gian 2 chái, có 2 ô cửa giả mái cong vòm, lợp 8 ống ngói và trang trí tượng voi phục trên bờ nóc. Nhà mồ nối liền với nhà bia qua một rãnh thoát nước, mái lợp 8 ống ngói, đầu đao đòn nóc đắp tượng ngưu miên, vách thân nhà trang trí khắc vạch so le giả tường gạch mộc.
Bên trong gian nhà bia đặt bia bằng đá Non Nước trắng khắc chữ Hán: “Hoàng Thanh. Phúc Châu phủ, Trường Lạc huyện, Trịnh Hưng Kim biểu viết Thiện nhân chi mộ. Quí Sửu niên quí đông cát đán. Thê Thị Thư lập thạch” (Dịch nghĩa: Mộ Thiện nhân Trịnh Hưng Kim ở huyện Trường Lạc, phủ Phúc Châu, triều Đại Thanh; vợ là Thị Thư lập bia vào ngày lành tháng 12 năm Quý Sửu).
Giá trị tiêu biểu
Giá trị kiến trúc – Nghệ thuật: Lăng mộ là một tác phẩm kiến trúc hợp chất hoàn chỉnh, thể hiện sự kết hợp tài tình giữa nghệ thuật đắp nổi trang trí dân gian (đầu rồng, tượng voi phục, tượng ngưu miên, rồng dây, hoa chim) với kỹ thuật xây dựng nhà mồ kiểu 1 gian 2 chái lợp ngói ống truyền thống.
Giá trị lịch sử – Dân tộc học: Bia đá Non Nước trắng ghi rõ gốc tích của chủ nhân mộ (ông Trịnh Hưng Kim, người huyện Trường Lạc, phủ Phúc Châu, tỉnh Phúc Kiến, Trung Quốc). Đây là nguồn tư liệu khảo cổ học gốc quan trọng minh chứng cho làn sóng di dân và quá trình định cư, hội nhập của cộng đồng người Hoa gốc Phúc Kiến tại khu vực Sài Gòn – Gia Định.
Giá trị kỹ thuật: Thể hiện trình độ đúc hợp chất nguyên khối kiên cố, khả năng tạo hình mỹ thuật trên chất liệu vôi vữa cổ truyền và kỹ thuật khắc chữ tinh xảo trên đá trắng Non Nước.
Giá trị văn hóa: Phản ánh phong tục táng thức, tín ngưỡng thờ cúng Thổ thần và đạo nghĩa vợ chồng (vợ lập bia cho chồng) của cư dân vùng đất Nam Bộ giai đoạn thế kỷ XVIII – XIX.