Ký hiệu: Mộ H-Q1-PNCT-79KL-MHC1-2a-b
Niên đại: Năm Ất Sửu (thế kỷ XIX)
Chất liệu: Hợp chất, đá hoa cương, gỗ tốt có mùi thơm, giấy sáp, trúc
Kích thước: Toàn bộ khuôn viên: 50 m x 30 m (bình đồ chữ nhật lớn); Mỗi cặp mộ song táng: 15 m x 10 m; Mảng nấm quách: Dày tới 1,5 m; Tượng Kỳ Lân: Trọng lượng khoảng 1 tấn/con
Loại hình: Mộ cổ hợp chất (quần thể lăng song táng bề thế)
Nơi phát hiện: Hẻm 106 Nguyễn Văn Cừ, Phường 14 (khuôn viên chùa Long An), Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh
Thời gian khai quật: Năm 1979
Giới thiệu mộ hợp chất
Mộ H-Q1-PNCT-79KL-MHC1-2a-b từng là quần thể lăng mộ hợp chất quy mô và bề thế nhất trong khuôn viên chùa Long An. Quần thể được xây dựng theo mặt bằng hình chữ nhật khép kín với diện tích rất lớn (50 m x 30 m), bao gồm 2 cặp mộ song táng đặt thẳng hàng với nhau.
Cấu trúc tổng thể của lăng mộ có đầy đủ các thành tố kiến trúc truyền thống bao gồm hệ thống bình phong tiền, bình phong hậu và các trụ cột đài sen (trên thân bình phong và trụ sen đều có khắc chữ Hán). Đặc biệt, án ngữ tại cổng vào lăng là một cặp tượng Kỳ Lân bằng hợp chất có kích thước cực lớn, mỗi con nặng khoảng 1 tấn.
Phần quách đúc bằng hợp chất rất kiên cố, tạo dáng nấm mộ hình voi phục dày tới 1,5 m. Khi bị đục phá giải tỏa, các vệt xâm thực cho thấy bên trong là quan tài làm bằng loại gỗ tốt tỏa mùi thơm nhẹ. Quá trình giải tỏa ghi nhận nhiều di vật còn sót lại như tóc bím còn đen, vụn xương răng, cùng mảnh rẻ quạt bằng trúc bọc giấy sáp láng bền có viết chữ Nho theo lối chữ thảo.
Trong khu vực lăng mộ còn thu hồi được các mảnh vỡ của 2 tấm bia bằng đá hoa cương, phần bệ đế chạm đồ án “hổ phù”. Nội dung khắc chữ Hán trên hai bia đá ghi nhận: Bia tả (bên trái): “… Phủ quân chi mộ” (Mộ của ngài… Phủ quân). Bia hữu (bên phải): “Việt tỉ lâm mẫu ngữ tặng nam nhân Trần thị chi mộ. Ất sửu niên… nguyệt cát đán. Trưởng nam thứ nam Năng, Đạt, Văn, Thân đồng lập” (Dịch nghĩa: Mộ bà mẹ họ Trần… Lập vào ngày lành tháng… năm Ất Sửu. Các con trai trưởng, thứ gồm Năng, Đạt, Văn, Thân cùng lập).
Giá trị tiêu biểu
Giá trị kiến trúc: Là một trong những quần thể lăng mộ hợp chất có quy mô mặt bằng lớn nhất (50 x 30 m) từng ghi nhận tại Sài Gòn – TP. Hồ Chí Minh. Sự xuất hiện của cặp tượng Kỳ Lân nặng hàng tấn cùng hệ thống bình phong, trụ sen đồ sộ phản ánh vị thế kinh tế và xã hội đặc biệt cao của gia tộc chủ nhân.
Giá trị lịch sử – Dân tộc học: Các di vật thu được (tóc bím còn đen, quạt trúc bọc giấy sáp chữ thảo) kết hợp với minh văn bia đá là tư liệu khảo cổ học quý giá về táng thức, trang phục, phong tục và đời sống của giới thượng lưu/quý tộc vùng đất Gia Định – Sài Gòn thế kỷ XIX.
Giá trị kỹ thuật: Thể hiện trình độ đúc hợp chất thượng thừa với lớp quách bảo vệ dày tới 1,5 m, kỹ thuật tạc tượng linh vật (Kỳ Lân) cỡ lớn và kỹ thuật chạm khắc đá hoa cương xám mịn tinh xảo.
Giá trị văn hóa: Minh văn bia đá là bằng chứng ghi nhận truyền thống hiếu đạo của các con (Năng, Đạt, Văn, Thân) đối với cha mẹ, đồng thời phản ánh nét đẹp trong văn hóa táng thức song táng của người Việt xưa.